1
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn BÁO CÁO DỰ ÁN CARD
030/06 VIE
Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông
nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôiMS10
: Báo cáo hoàn thành dự án 8/ 2010
1
MỤC LỤC
1. Thông tin về cơ quan nghiên cứu _________________________________________ 2
Nông nghiệp Nông thôn
Trưởng nhóm Dự án phía Việt Nam
Tiến sĩ Nguyễn Đỗ Anh Tuấn
Cơ quan phía Australia
Đại học Tây Úc
Nhân sự phía Australia
Bà Sally Marsh, Tiến sỹ Donna Brennan,
Giáo sư John Pluske, Tiến sĩ Greg Hertzler
(đã nghỉ làm ở Đại học Tây Úc từ tháng
1/2008), Tiến sĩ Jo Pluske
Ngày bắt đầu
1/5/2007
Ngày kết thúc (ban đầu)
30/4/2009
Ngày kết thúc (đã điều chỉnh)
30/4/2010
Thời gian báo cáo
1/11/2008 – 30/6/2010
Đầu mối liên lạc
Tại Australia: Trưởng nhóm
Tên:
Bà Sally Marsh
Điện thoại:
+61 8 6488 4634
Vị trí:
Nghiên cứu viên chính
Fax:
+61 8 6488 1098
Tổ chức
Đại học Tây Úc
và Chiến lược Phát triển Nông
nghiệp Nông thôn (CAP-
IPSARD)
Email: 3
2. Tóm tắt Dự án
3. Sơ lược việc thực hiện
Công việc nghiên cứu và tài liệu của dự án đã được hoàn tất thành công. Hoạt động
dự án trong thời gian 20 tháng kể từ tháng 10 năm 2009 đến khi kết thúc bao gồm:
• hoàn thành việc phân tích số liệu điều tra doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi, và
đế
n khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam; và 4) Đưa ra
những khuyến nghị chính sách cho chính phủ về hiệu quả của các doanh nghiệp đang hoạt động
trong ngành thức ăn chăn nuôi, và đưa ra lời khuyên cho các doanh nghiệp và và nhỏ đang cạnh
tranh trong ngành thức ăn chăn nuôi. Các phương pháp chuẩn về kinh tế nông nghiệp được sử
dụng để định lượng các đặc đi
ểm đặc trưng của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi, và để xác
định các thách thức cũng như cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ trong chuỗi cung ứng thức ăn chăn
nuôi. Hai báo cáo nghiên cứu của dự án đã được hoàn thành, dẫn chứng những kết quả về đánh giá
các nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành
thức ăn chăn nuôi, và việc s
ử dụng thức ăn công nghiệp của các hộ chăn nuôi. Bốn tóm lược chính
sách đã được hoàn thành với những đề xuất từ các kết quả nghiên cứu theo các chủ đề: Quản lý
chất lượng, Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Những khó khăn mà doanh
nghiệp vừa và nhỏ đang phải đối mặt, và Việc sử dụng thức ăn của hộ. Báo cáo đánh giá n
ăng lực
đã chứng minh rằng, Dự án có tác động tích cực trong việc xây dựng năng lực nghiên cứu của các
cán b
ộ
IPSARD/CAP
,
và m
ộ
t
t
ài li
ệ
u t
ập
hu
IPSARD. Trong nghiên cứu này, ngành thức ăn chăn nuôi sẽ được sử dụng như một
nghiên cứu tình huống, tuy nhiên các phương pháp và bài học được rút ra sẽ được áp
dụng vào các lĩnh vực khác của Marketing nông nghiệp. Các tập huấn được đề xuất và
những bài tập nghiên cứu có giám sát sẽ cung cấp cho IPSARD/ MARD một phương
pháp luận thích hợp cho công việc đang tiến hành theo cách phân tích chính sách định
lượ
ng. Cách tiếp cận nghiên cứu của dự án được trình bày trong tài liệu tập huấn.
Dự án đã được thực hiện dựa trên sự kết hợp các khoá tập huấn, và các bài tập nghiên
cứu có giám sát kết hợp với việc thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra thực địa, phân tích
và tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong các báo cáo và các bản tóm lược chính sách.
Việc tập huấn tập trung vào xây dựng các kỹ năng và kinh nghiệm trong việc phân
tích thị trường, bao gồm phân tích chuỗi giá trị, kinh tế học sản xuất, tổ chức ngành
hàng và các kỹ thuật phân tích. Điều tra thực địa được thực hiện ở 7 tỉnh thuộc 3 vùng
là Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng là những nơi
các doanh nghiệp sản xuất thức ăn hoạt động nhiều. Các bên liên quan ở địa phương
tham gia suố
t quá trình, và các kết quả thu được đã được phổ biến trong các hội thảo
tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Các hoạt động cụ thể và sản phẩm theo mục tiêu của dự án bao gồm:
Mục tiêu 1
: Xây dựng năng lực nghiên cứu về thị trường nông nghiệp cho IPSARD,
đặc biệt về nghiên cứu chuỗi giá trị, tổ chức ngành hàng, và kinh tế học sản xuất.
• Các hội thảo tập huấn được tổ chức ở IPSARD về các kỹ thuật điều tra và thu thập
số liệu; và phân tích thị trường, bao gồm phân tích chuỗi giá trị, kinh tế học sản
xuất và tổ chức ngành hàng
•
Tập huấn về các phương pháp quản lý số liệu bao gồm: nhập dữ liệu trong Acces,
làm sạch số liệu trong Stata, các thao tác trong Excel và Word
c ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần I: Sản xuất thức ăn chăn nuôi và Phần II: Sử
dụng thức ăn của các hộ chăn nuôi lợn và gà
Mục tiêu 4
: Đưa ra những khuyến nghị về chính sách cho chính phủ về tính hiệu quả
của các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành thức ăn chăn nuôi, và đưa ra lời
khuyên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành.
• 4 tóm lược chính sách về các chủ đề:
o Kiểm soát chất lượng trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam;
o Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản
xuất thức
ăn chăn nuôi ở Việt Nam;
o Những khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản
xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đang phải đối mặt; và
o Sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn trộn của các hộ chăn nuôi ở
Việt Nam
Những tóm lược chính sách này đã được giới thiệu và đưa ra thảo luận trong hội
thảo tổ chứ
c ở Hà Nội vào tháng 5/2010.
• Các hội thảo đã được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 1/2010 và Hà
Nội vào tháng 12/2009 để báo cáo và thảo luận các kết quả nghiên cứu với các
bên tham gia của địa phương và những nhà hoạch định chính sách. 6
5. Tiến độ đến thời điểm hiện tại
5.1 Những điểm nổi bật về hoạt động
Các điểm nổi bật về hoạt động kể từ tháng 11/2008 bao gồm:
Thực hiện điều tra các hộ chăn nuôi:
ột điều rõ
ràng là các hộ chăn nuôi nhỏ thường là đối tượng sử dụng thức ăn thô kết hợp, sử
dụng nguyên liệu có hàm lượng đạm thấp (một số có chất gây ô nhiễm), thiếu các
biện pháp quản lý chất lượng đầy đủ và có cơ sở hạ tầng yếu. Ngược lại, các hộ quy
mô lớn thường được cho là chủ yếu sử dụng thức ă
n công nghiệp cho chăn nuôi. Rất
khó để kết luận được phương thức cho ăn nào là kinh tế hơn đối với hộ, vì chi phí cho
thức ăn công nghiệp đắt tiền hơn có thể hoặc không được bù đắp bởi việc giảm thời
gian nuôi (nghĩa là, hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn).
Do đó, trong nghiên cứu này, mục tiêu chung là hiểu sâu hơn việc sử dụng thức ăn
chă
n nuôi của các loại hộ khác nhau chia theo quy mô, vùng và giống nuôi. Chúng tôi
hi vọng những thông tin này sẽ cung cấp một số gợi ý hữu ích cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi để có thể tồn tại được trên thị trường thức
ăn cạnh tranh gay gắt hiện nay.
Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
• Hệ thống chăn nuôi và cơ sở hạ tầng chăn nuôi khác nhau như
thế nào giữa
các hộ khi phân chia theo quy mô và vùng?
7
• Các kênh marketing thu mua nguyên liệu đầu vào và phân phối sản phẩm đầu
ra khác nhau như thế nào giữa các loại hộ?
• Các hộ chăn nuôi khác nhau như thế nào trong việc sử dụng thức ăn chăn
nuôi: thức ăn công nghiệp so với thức ăn thô/kết hợp, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn,
chi phí thức ăn trên 1kg tăng trọng?
• Chi phí sản xuất và lợi nhuậ
n khác nhau thế nào giữa các nhóm hộ?
• Có cơ hội nào cho các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa tiếp cận trực tiếp với
các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp
Tham dự khoá tập huấ
n tại Đại học Tây Úc của 2 cán bộ nghiên cứu của CAP
Tháng 8/2009, 2 cán bộ nghiên cứu của CAP đã đến Đại học Tây Úc trong 3 tuần để
tham gia khoá tập huấn chuyên sâu về phân tích số liệu và viết báo cáo. Thông tin này
được đề cập chi tiết trong mục 5.3, xây dựng năng lực.
Các hội thảo với các bên liên quan được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà
Nội để báo cáco kết quả nghiên cứu:
Các hội thảo vớ
i các bên liên quan để báo cáo kết quả từ các báo cáo nghiên cứu sơ
bộ đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 12/2009, và thành phố Hồ Chí Minh và
tháng 1/2010. Bà Marsh đã tham dự hội thảo ở Hà Nội. Thảo luận trong cả hai hội
thảo diễn ra rất sôi nổi, và và sau các hội thảo, các báo cáo đã được chỉnh sửa dựa trên
các ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự. Thông tin tóm tắt về các đại biểu tham
8
dự và các ý kiến thảo luận được trình bày ở Phụ lục I (Hội thảo ở Hà Nội) và II (Hội
thảo ở thành phố Hồ Chí Minh).
Hội thảo cuối cùng tập trung vào vấn đề chính sách được tổ chức ở Hà Nội
Hội thảo cuối kỳ của dự án đã được tổ chức ở Hà Nội vào ngày 21/5/2010. Hội thảo
tập trung vào trình bày và thảo luận 4 tóm lược chính sách. Có khoảng 25
đại biểu
tham dự và một lần nữa hội thảo diễn ra trong không khí thảo luận sôi nổi. Thông tin
chi tiết về các đại biểu tham dự và các ý kiến thảo luận đã được nộp cho văn phòng dự
án CARD phản hồi về đánh giá đối với gói kết quả 8.
5.2 Lợi ích cho những nhà sản xuất nhỏ
Vào thời điểm kết thúc của dự án, rất khó khăn cho chúng tôi trong việc xác định l
ợi
ích đối với những nhà sản xuất nhỏ, tuy nhiên điều này chắc chắn vẫn là một tác động
dự án. Các tài liệu được phát trong các hội thảo này bao gồm:
• Tóm tắt của 2 báo cáo nghiên cứu chính
• Các bài trình bày powerpoint tóm tắt các kết quả nghiên cứu; và
• 4 tóm lược chính sách (ở hội thảo cuối kỳ) 9
Một buổi thảo luận về các kết quả của dự án đã được tổ chức tại Khoa Kinh tế Nông
nghiệp và Tài Nguyên (SARE) ở Đại học Tây Úc và tháng 8/2009
Một buổi họp đã được tổ chức tại CAP (11/12/2009) trước khi diễn ra hội thảo chính
thức với các bên có liên quan tại Hà Nội để thống nhất về nội dung và kết quả trình
bày.
5.5 Quản lý dự án
Tiến sĩ Donna Brennan tr
ở về Australia từ Hà Nội vào tháng mười hai năm 2008 và
nghỉ phép từ tháng 1 đến hết tháng 5 năm 2009. Điều này tạo nên áp lực cho tiến độ
hoàn thành dự án vì đóng góp của Tiến sĩ là rất lớn trong việc hoàn thành gói kết quả
8 và 9. TS. Brennan không thể đến Việt Nam để tham dự vào các hội thảo với các bên
liên quan cũng như hội thảo cuối kỳ. Nguồn ngân quỹ ban đầu cho chuyến công tác
của Tiến sĩ Brennan
đã chuyển sang cho bà Marsh để bà tới tham dự buổi hổi thảo
kết thúc dự án vào tháng 5/2010 (và làm việc cùng với nhóm nghiên cứu ở Hà Nội
trước khi diễn ra hội thảo).
Do dự án khởi động muộn, bà Marsh có hợp đồng hiện tại với Đại học Tây Úc để làm
việc cho dự án CARD (20% thời gian) cho đến cuối tháng 9/2009. Sau thời gian này,
bà Marsh chỉ dành một phần thời gian để tham gia dự án CARD và một phần làm việc
với Khoa Kinh tế Nông nghiệp và Tài Nguyên.
Như đã đề cập trước đó, việc xác định các lựa chọn hỗ trợ từ Khoa Kinh tế
Nông
nghiệp và Tài nguyên (SARE), sau khi Tiến sĩ Greg Hertzler không còn làm việc ở
xuất, các chuỗi cung ứng và khả năng cạnh tranh, do đó cuộc điều tra chỉ có thể bao
gồm một số ít câu hỏi liên quan đến vấn đề giới.
Kiểm soát chất lượng đối với các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được xác định là vấn đề
chính đối với Việt Nam. Các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp liên
doanh có các tiêu chuẩn cao hơn về kiểm soát chất lượng. Các doanh nghiệp trong
nước cần được hỗ trợ để cải tiến các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng. Để hướng tới
mục tiêu lâu dài là an toàn thực phẩm và xuất khẩu thì Chính phủ Việt nam cần tập
trung vào các vấn đề kiểm soát chất lượng gắn với việc sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Một số lựa chọn để tập trung vào được đưa ra trong báo cáo nghiên cứu của dự án và
trong tóm lược chính sách về kiểm soát chất lượng.
Rất ít các doanh nghiệp được khảo sát đề nghị hỗ trợ về kỹ thuật, kiểm soát chất
lượng, tập huấn hoặc yêu cầu sự trợ giúp từ Chính phủ. Chúng tôi cho rằng quan điểm
này có thể bất lợi cho ngành thức ăn chăn nuôi. Kiểm soát chất lượng tốt hơn là cần
thiết đối với lĩnh vực này và dường như không chắc chắn rằng sẽ có thể đạt được một
cách tự nguyện bởi phần lớn các doanh nghiệp trong nước.
7. Các vấn đề về triển khai thực hiện và tính bền vững
7.1 Các vấn đề và hạn chế
Dự án khởi động muộn, và các vấn đề về nhân sự từ phía Úc đặt ra sức ép lên thời
gian hoàn thành dự án. Tuy nhiên, các hoạt động của dự án đã được hoàn thành tốt
đẹp vào tháng 5/2010.
Những diễn biến gần đây trong ngành thức ăn chăn nuôi thế giới, trong đó việc chi phí
năng lượng và nguyên liệu thô để sản xuất thức ăn tăng mạnh, có khả
năng làm sai
lệch số liệu từ cuộc khảo sát các bên tham gia cũng như đặt áp lực lên các
doanhnghiệp vừa và nhỏ trong ngành nói chung. Đặc biệt, kể từ khi công tác khảo sát
được hoàn thành, nhập khẩu nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi đã tăng lên đáng kể tại
Việt Nam. Các vấn đề liên quan đến việc mua nguyên liệu rõ ràng là mối quan tâm
chính của người tham gia trong các hội thảo với các biên liên quan và hội thảo cuối kỳ
có tham gia sâu vào dự án so với những người ít tham gia. Đối với 1 tổ chức nghiên
cứu như là IPSARD/ CAP –sự thay đổi năng lực nghiên cứu của cán bộ có thể là do
tác động của nhiều nguồn khác nhau- thì việc đưa ra những thay đổi cụ thể do sự can
thiệp c
ủa một dự án kéo dài 2.5 năm là rất khó khăn. Tuy nhiên, những kết quả của
đánh giá này ủng hộ ý kiến cho rằng dự án CARD 030/06 VIE có tác động tích cực
đến năng lực nghiên cứu của cán bộ ở IPSARD/ CARD.
Việc so sánh giữa các kết quả đánh giá đầu kỳ và cuối kỳ của dự án đối với các cán bộ
nghiên cứu ở IPSARD/ CARD cho thấy, rõ ràng năng lực nghiên cứu có được cải
thiện ở nhi
ều lĩnh vực (Xem "Đánh giá sự cải thiện năng lực trong IPSARD / CAP:
Khảo sát đầu kỳ: về kiến thức, kỹ năng và thái độ (KSA) so với cuộc khảo sát cuối kỳ
của dự án" được trình bày trong gói kết quả 9). Cụ thể hơn nữa, kết quả so sánh giữa
những người tham gia sâu vào dự án so với những người tham gia ít hơn chỉ ra rằng
một số kiến thức và kỹ
năng có liên hệ trực tiếp với dự án thì những người tham gia
sâu có sự cải thiện rõ rệt hơn so với những người ít tham gia, điều đó chứng tỏ tác
động tăng cường năng lực nghiên cứu của dự án. Trong thăm dò thái độ, những người
không tham gia có xu hướng có được những tiến bộ nhiều hơn. Những người được
hỏi có xu hướng là những cán bộ cấp cao, và có khả năng là họ đã tiếp xúc với kết quả
dự án trong thời gian 2,5 năm qua (cũng như nhiều cuộc thảo luận chính sách khác),
và có lẽ là tốt hơn để có thể nhận ra những tác động chính sách.
Ở giai đoạn này rất khó xác định lợi ích trung và dài hạn của dự án đến các bên liên
quan ngoài IPSARD/CAP, bao gồm những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực
thức ăn chăn nuôi và những hộ chăn nuôi nhỏ. Tuy nhiên, chúng tôi tin tưởng rằng
các báo cáo nghiên cứu sẽ đóng góp vào quá trình đàm thoại chính sách liên tục về
các vấn đề liên quan đến sự phát triển và cải tiế
n của ngành thức ăn chăn nuôi tại Việt
Nam, và vai trò của các doanh nghiệp nhỏ trong ngành.
4. Trình bày:
- Khai mạc hội thảo : Huế, Phong, Sally
- Tổng quan dự án: Phong
- Thông tin nền: Sally
- Kết quả điều tra doanh nghiệp vừa và nhỏ: Phương
- Kết quả điều tra hộ chăn nuôi: Thịnh
5. Các câu hỏi và ý kiến đóng góp được đưa ra bởi:
Ông. Nguyễn Văn Hưởng (Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư quốc gia)
Ông Trần Công Xuân (VIPA)
Ông Lê Bá Lịch(Chủ tịch VAFA)
Ông. Nguyễn Văn Hưởng (Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư quốc gia)
Ông Ngô Minh Hải: Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Đại diện khác của VAFA
13
11. PHỤ LỤC II
Hội thảo thảo luận CARD ngày 20/1/ 2010
1. Thời gian/ địa điểm: Thứ tư, ngày 20/1/2010, 8.30-12.00, khách sạn Duxton,
thành phố Hồ Chí Minh
2. Đại biểu tham dự:
Tổng số 30 đại biểu tham dự hội thảo, bao gồm:
- Các sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn có liên quan (Đồng Nai,
Tiền Giang)
- Chương trình CARD program (ông Keith Milligan)
- Hiệp hội Khoa học - Kỹ thuật chăn nuôi Việt Nam