VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
Dự án CARD 030/06 VIE: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong
chuỗi giá trị nông nghiệp: Trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG
NGÀNH THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
PHẦN II: Sử dụng thức ăn của hộ chăn nuôi lợn và gà
Phạm Thi Liên Phương
1
, Nguyễn Thị Thịnh
1
, Donna Brennan
2
, Sally Marsh
2
, Bùi
Hải Nguyên
1
1
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông
nghiệp Nông thôn, Hà Nội
2
nuôi và vùng. Một đóng góp quan trọ
ng của nghiên cứu này là các công việc được thực
hiện gần như đã đi sâu phân tích việc sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ. Tỷ lệ chuyển đổi
thức ăn (FCRs), và chi phí thức ăn trên 1 kg tăng trọng được tính toán cho việc sử dụng
các loại thức ăn khác nhau của hộ chăn nuôi theo các quy mô khác nhau. Báo cáo này
không chỉ đưa ra số liệu về tình hình chăn nuôi nói chung ở Việt Nam và hiệu quả s
ử
dụng thức ăn, mà còn cung cấp số liệu liên kết các nhà cung cấp thức ăn (doanh nghiệp)
và người sử dụng thức ăn (hộ chăn nuôi).
Các kết quả từ báo cáo phân tích chỉ ra rằng, ở các lĩnh vực sau đây, các chỉ tiêu sản xuất
của hộ chăn nuôi quy mô nhỏ thể hiện họ có khả năng cạnh tranh với hộ chăn nuôi lớn.
• Chênh lệch giữa giá bán trung bình trên 1 kg s
ản phẩm và chi phí trung bình trên 1 kg
sản phẩm mang giá trị dương đối với cả hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn ở tất cả
các quy mô.
• Hộ chăn nuôi nhỏ có xu hướng đa dạng hóa hơn trong hoạt động chăn nuôi, ngược lại
các hộ chăn nuôi lớn lại có xu hướng chuyên môn hóa vào một loại sản phẩm chăn
nuôi chính. Đa dạng hóa có thể là một chiến lược hạn chế r
ủi ro đối với hộ chăn nuôi
nhỏ.
• Đối với chăn nuôi gà, kết quả điều tra không tìm thấy sự khác biệt về chi phí con
giống giữa các quy mô. Đối với chăn nuôi lợn, giá mua con giống thấp hơn ở các hộ
chăn nuôi nhỏ (các hộ chăn nuôi quy mô lớn hơn có xu hướng nuôi giống lợn ngoại
có giá thành đắt hơn).
• Đối với chăn nuôi lợn, không có sự khác biệt về
giá bán sản phẩm giữa các quy mô,
mặc dù thời gian trung bình của một lứa ở các hộ chăn nuôi nhỏ lâu hơn. Giá bán gà
ta (thường được nuôi nhiều hơn ở các hộ chăn nuôi nhỏ) cao hơn về mặt thống kê so
với các giống gà khác.
• Kết quả điều tra cũng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong giá
• Rất ít hộ chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp của các công ty nội địa. Các hộ chăn
nuôi lợn và gà đều ưa chuộng các nhãn hiệu nước ngoài h
ơn. Lý do chính của sự lựa
chọn này là các nhãn hiệu nước ngoài được coi là có chất lượng cao hơn và cho năng
suất chăn nuôi tốt hơn. Nghiên cứu không cho thấy có sự khác biệt về mặt thống kê
giữa giá thức ăn nhãn hiệu nước ngoài và nhãn hiệu nội địa.
• Chúng tôi đã tiến hành so sánh tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của các hộ chăn nuôi
sử dụng thức ăn hỗn h
ợp nước ngoài và nội địa. Đối với hộ chăn nuôi gà thịt, FCR
thấp hơn về mặt thống kê ở các hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp nhãn hiệu nước ngoài.
Đối với chăn nuôi lợn, FCR không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các hộ sử
dụng nhãn hiệu nước ngoài hay nội địa. Các kết quả này chỉ ra rằng có thể có sự khác
biệt về ch
ất lượng giữa thức ăn hỗn hợp cho gà nhãn hiệu nước ngoài và nội địa, trong
khi đó không có bằng chứng về sự khác biệt trong trường hợp thức ăn hỗn hợp cho
lợn. Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi nhận thức được sự khác biệt về chất lượng, và yếu tố
này là đủ để ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn thức ăn công nghiệp nhãn hiệu n
ước
ngoài. Phát hiện này ủng hộ cho các kết quả từ cuộc điều tra doanh nghiệp thức ăn
chăn nuôi (phần I) đề xuất rằng cải tiến kiểm soát chất lượng là vấn đề chính đối với
các doanh nghiệp nội địa.
• Các hộ chăn nuôi quy mô lớn hơn có xu hướng tham gia nhiều hơn vào hình thức hợp
đồng cung cấp thức ăn chăn nuôi. Do phần lớn các hộ sử
dụng thức ăn công nghiệp
nhãn hiệu nước ngoài, chúng ta có thể giả định họ có hợp đồng cung cấp thức ăn từ
các doanh nghiệp nước ngoài. Khi quy mô chăn nuôi ở Việt Nam tăng lên, và cùng
với nó là khả năng tham gia vào hình thức hợp đồng cung cấp thức ăn, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi sẽ ngày càng bị đẩy ra khỏi thị
trường cung cấp thức ăn.
• Cu
hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam), ông Trần Công Xuân (Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt
Nam), bà Bùi Thị Oanh (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và ông Lã Văn Kính
(Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam Vi
ệt Nam) cũng như các đại biểu tham gia hai
cuộc hội thảo lấy ý kiến các bên liên quan tổ chức vào tháng 12/2009 tại Hà Nội và tháng
1/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài những góp ý về các vấn đề kỹ thuật của các
chuyên gia Việt Nam nói trên, chúng tôi cũng nhận được ý kiến đóng góp của TS.
Johanna Pluske (chuyên gia tư vấn kinh tế chăn nuôi) và GS. John Pluske (chuyên gia
dinh dưỡng động vật) của Trường ĐH Murdoch, Tây Úc. Chúng tôi cũng xin cảm ơn
những nhận xét hữu ích cho bả
n thảo của báo này của TS. Johanna Pluske.
Chúng tôi cũng xin ghi nhận và gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ Sở Nông nghiệp
& Phát triển Nông thôn của 6 tỉnh về sự hỗ trợ cho nhóm nghiên cứu tiến hành cuộc điều
tra hộ chăn nuôi trên địa bàn các tỉnh. Chúng tôi cũng đánh giá cao nỗ lực của nhóm điều
tra viên, và cuối cùng, xin cảm ơn 300 hộ chăn nuôi gà và lợn đã dành thời gian và sẵn
lòng hỗ trợ công tác đ
iều tra, cung cấp những thông tin chi tiết liên quan đến hoạt động
chăn nuôi của hộ. DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ANOVA Phân tích phương sai
CAP Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
CARD Chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn
DARD Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
FCR Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn
IAE Viện Kinh tế Nông nghiệp
IAS Viện Khoa học Nông nghiệp
IFPRI Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế
4.1 Các hoạt động chăn nuôi 13
4.2 Chăn nuôi lợn thịt 14
4.3 Tóm tắt các hệ thống chăn nuôi lợn 15
5 Sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ 17
5.1 Sử dụng thức ăn cho gà 17
5.2 Sử dụng thức ăn cho lợn 24
6 Các kênh thị trường 32
6.1 Khả năng và việc tham gia các hình thức hợp đồng 32
6.2 Các đối tượng cung cấp thức ăn chăn nuôi 33
6.3 Thị trường đầu ra 36
7 Cơ sở hạ tầng và các đặc điểm khác của hoạt động chăn nuôi 38
7.1 Cơ sở hạ tầng chăn nuôi 38
7.2 Dịch bệnh và các biện pháp phòng chống 43
7.3 Tiếp cận với các đầu vào chăn nuôi 45
8 Chi phí chăn nuôi và lợi nhuận 50
8.1 Chi phí chăn nuôi 50
8.2 Chăn nuôi và đóng góp của chăn nuôi trong tổng doanh thu từ nông nghiệp 53
9 Tóm tắt các phát hiện chính và các gợi ý đối với các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và các
doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi 55
9.1 Các hệ thống chăn nuôi 55
9.1.1 Loại giống nuôi 55
9.1.2 Sự đa dạng hóa 55
9.1.3 Hệ thống chăn nuôi 56
9.1.4 Chi phí và giá bán trong chăn nuôi 56
9.2 Các đầu vào chăn nuôi, các kênh cung cấp và phân phối 56
9.2.1 Giá thức ăn chăn nuôi 56
9.2.2 Lựa chọn thức ăn chăn nuôi công nghiệp 56
9.2.3 Tiếp cận và sử dụng tín dụng 57
9.2.4 Cung cấp thức ăn chăn nuôi công nghiệp 57
vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 16 Cách thức cho ăn của các hộ chăn nuôi gà, tỷ lệ hộ sử dụng các loại thức ăn
khác nhau: chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, kết hợp thức ăn hỗn hợp với thức ăn
trộn, chỉ sử dụng thức ăn trộn 19
Bảng 17 Lượng thức ăn trung bình một ngày cho gà thịt theo từng cách thức cho ăn,
chi a theo vùng, quy mô và loại giống 20
Bảng 18 Các thành phần trong khẩu phần ăn được sử dụng bởi các hộ cho ăn kết
hợp ăn thức ăn trộn và thức ăn hỗn hợp 21
Table 19 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn đối với gà thịt chia theo vùng, quy mô, loại giống
và cách thức cho ăn 22
Bảng 20 Hiệu quả của nhãn hiệu thức ăn được sử dụng đến tỷ lệ FCR đối với khẩu
phần ăn chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, cho các hộ chăn nuôi quy mô lớn và
trung bình 22
Bảng 21 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng, chia theo vùng,
quy mô, loại giống và cách thức cho ăn 23
Bảng 22 Giá thức ăn công nghiệp trung bình theo loại thức ăn, vùng, quy mô và
nhãn hiệu: ‘000 đồng trên 1 kg 24
Bảng 23 Quy mô mẫu và tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi lợn nái và
lợn thịt: theo giai đoạn chăn nuôi, vùng và quy mô 25
Bảng 24 Phân bố hộ chăn nuôi (%) và số kg thức ăn cho ăn một ngày theo cách thức
cho ăn (chỉ thức ăn hỗn hợp hay kết hợp với thức ăn trộn), phân theo vùng, quy
mô và loại lợn. 26
Bảng 36 Tỷ lệ hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn theo các loại vật liệu khác nhau
được sử dụng để làm tường cho nơi nuôi nhốt 40
Bảng 37 Một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng chăn nuôi (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn
nuôi lợn sử dụng) 41
Bảng 38 Các loại hệ thống làm mát và hệ thống sưởi (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn
nuôi lợn sử dụng) 42
Bảng 39 Kinh nghiệm về các đợt bùng phát dịch bệnh và các loại dịch bệnh đối với
các hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn (% hộ có xảy ra dịch bệnh) 43
Bảng 40 Các biện pháp phòng chống dịch bệnh (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi
lợn sử dụng) 44
Bảng 41 Các đối tượng chính cung cấp dịch vụ thú y trong 12 tháng qua (% hộ chăn
nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) 45
Bảng 42 Các đối tượng chính cung cấp dịch vụ khuyến nông trong 12 tháng qua (%
hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) 46
Bảng 43 Tỷ lệ hộ có vay vốn để chăn nuôi và nguồn các nguồn vay chính trong 12
tháng qua 47
Bảng 44 Các lý do chính đối với việc không vay vốn trong 12 tháng qua (% hộ chăn
nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) 49
Bảng 45 Tỷ lệ trong tổng chi phí chăn nuôi của từng hạng mục chi phí đối với các hộ
chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn 51
thường xuất phát từ các đợt bùng phát dịch bệnh cũng như thị trường không ổn định.
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc sử dụng thức ăn dư thừa và thức ăn chăn nuôi chất
lượng thấp tương ứng với hệ thống sản xuất quy mô nhỏ và phân tán. Một số người ủng
hộ việc sử dụng các loại thức ăn này vì cho r
ằng sẽ giúp giảm chi phí sản xuất và có thể
tận dụng được các phụ phẩm của địa phương và lao động nhàn rỗi trong hộ. Tuy nhiên,
nhiều ý kiến ủng hộ chăn nuôi quy mô lớn, chỉ trích rằng chăn nuôi quy mô nhỏ sẽ đem
lại hiệu quả thấp, chất lượng thịt thấp và nguy cơ nhiễm bệnh cao. Có ý kiến lo ngại rằng
chất lượng thức ăn chăn nuôi sử
dụng trong các hộ quy mô nhỏ là không ổn định, đặc biệt
là khi có những hạn chế trong việc quản lý và kiểm soát chất lượng thức ăn chăn nuôi
công nghiệp.
Nghiên cứu này nhằm xem xét 2 hệ thống quy mô chăn nuôi, và chi phí và năng suất gắn
với từng hệ thống. Nếu các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ có năng suất tương đương với chăn
nuôi quy mô lớn, thì điều này sẽ ủng hộ cho quan đ
iểm duy trì và hỗ trợ cho hệ thống
này, vì chăn nuôi là nguồn sinh kế chính của các hộ quy mô nhỏ ở nông thôn, bên cạnh
việc hỗ trợ cho chăn nuôi quy mô lớn.
Cuộc điều tra các hộ chăn nuôi gà và lợn là một phần của dự án lớn với mục tiêu thu thập
bức tranh tổng quan về các hệ thống chăn nuôi và việc sử dụng thức ăn chăn nuôi. Cuộc
điều tra được ti
ến hành trong tháng 11 và tháng 12 năm 2008 tại sáu trên tổng số bảy tỉnh
tiến hành điều tranh doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi: đó là Hà Nội và Hưng Yên
ở miền Bắc, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang ở miền Nam. Thông tin thu
được, cùng với các kết quả điều tra doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, sẽ là cơ sở
để đưa ra các nhận định về khả năng cạnh tranh c
ủa các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông
thôn trong ngành chăn nuôi tại Việt Nam.
Trong khi cuộc điều tra doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tập trung xem xét việc
cung cấp thức ăn chăn nuôi công nghiệp, thì cuộc điều tra này xem xét nhu cầu đối với
cho là chủ yếu s
ử dụng thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi. Rất khó để kết luận được
phương thức cho ăn nào là kinh tế hơn đối với hộ, vì chi phí cho thức ăn công nghiệp đắt
tiền hơn có thể hoặc không được bù đắp bởi việc giảm thời gian nuôi (nghĩa là, hiệu quả
sử dụng thức ăn cao hơn).
Do đó, trong nghiên cứu này, mục tiêu chung là hiểu sâu hơn việc sử dụ
ng thức ăn chăn
nuôi của các loại hộ khác nhau chia theo quy mô, vùng và giống nuôi. Chúng tôi hi vọng
những thông tin này sẽ cung cấp một số gợi ý hữu ích cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong ngành thức ăn chăn nuôi để có thể tồn tại được trên thị trường thức ăn cạnh tranh
gay gắt hiện nay.
Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
• Hệ thống chăn nuôi và cơ sở
hạ tầng chăn nuôi khác nhau như thế nào giữa các
hộ khi phân chia theo quy mô và vùng?
• Các kênh marketing thu mua nguyên liệu đầu vào và phân phối sản phẩm đầu ra
khác nhau như thế nào giữa các loại hộ?
• Các hộ chăn nuôi khác nhau như thế nào trong việc sử dụng thức ăn chăn nuôi:
thức ăn công nghiệp so với thức ăn thô/kết hợp, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, chi phí
thức ăn trên 1kg t
ăng trọng?
• Chi phí sản xuất và lợi nhuận khác nhau thế nào giữa các nhóm hộ?
• Có cơ hội nào cho các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa tiếp cận trực tiếp với các
doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ không?
1.2 Thực hiện điều tra
Cuộc điều tra hộ chăn nuôi được thực hiện trên ph
ạm vi 6 trong tổng số 7 tỉnh đã tiến
trong khi đó các hộ quy mô nhỏ hơn lại có xu hướng nuôi nhiều hơn một loại gà. Do có
nhiều loại gà được chăn nuôi nên chúng tôi chia các hộ thành 2 loại chính là: hộ chăn
nuôi gà thịt và gà đẻ, tùy thuộc loạ
i nào có doanh thu lớn nhất. Chúng tôi tiếp tục phân
chia các hộ này theo quy mô chăn nuôi dựa trên sản lượng trong 12 tháng qua từ tháng
11/2007 đến tháng 10/2008, theo các cách phân chia của ngành và yêu cầu phân bố mẫu
khá đồng đều giữa ba quy mô. Đối với chăn nuôi gà thịt, các nhóm quy mô bao gồm: quy
mô nhỏ (<=500 con); quy mô trung bình (>500 và <=3000 con); và quy mô lớn (>3000
con). Đối với chăn nuôi gà đẻ, chúng tôi chia ra 3 quy mô như sau: quy mô nhỏ (<=1000
con); quy mô trung bình (>1000 và <=4000 con); và quy mô lớn (>4000 con). Phân bổ
các hộ điều tra theo loại hình chăn nuôi và quy mô được trình bày ở Bảng 1, chia theo
miền Bắc, miền Nam và tổng số.
Từ Bảng 1 có thể thấy rằng nhìn chung có nhiều hộ tham gia chăn nuôi gà thịt hơn là chăn
nuôi gà đẻ. Các hộ nuôi gà thịt ở miền Nam có xu hướng thuộc quy mô lớn nhiều hơn so
với miền Bắc. Không có hộ nào chăn nuôi gà đẻ nào ở miền Bắc thuộc quy mô trung
bình.
Bảng 1. Phân bổ mẫu theo vùng và quy mô chăn nuôi gà thịt và gà đẻ, số lượng hộ Gà thịt
a
Gà đẻ
bTổng
cộng
Nhỏ
Trung
Nhỏ
a
Trung
bình
b
Lớn
c
Tổng
Miền Bắc
22 16 12 50
Miền Nam
29 33 37 99
Tổng
51 49 49 149
a Quy mô nhỏ có dưới 49 con
b Quy mô trung bình có từ 49-120 con
c Quy mô lớn có trên 120 con
6
2 Các đặc điểm về nhân khẩu học
Các đặc điểm về nhân khẩu học của các hộ điều tra bao gồm quy mô trung bình của hộ,
giới tính, và phân bổ lao động được thể hiện ở Bảng 3. Số liệu được phân tích theo loại
vật nuôi, theo vùng và quy mô. Các hộ chăn nuôi lợn có xu hướng có chủ hộ là nam giới,
và tương tự đối với các hộ ở miền Bắc có chủ hộ là nam nhiều hơn. Tất cả các hộ
điều tra
của thành viên có
trình độ giáo dục
cao nhất của hộ
Hộ chăn nuôi gà
Chung 79,6 4,4 2,2 0,7 70,7
Theo vùng
Miền Bắc 84,0 4,3 2,2 0,6 74,0
Miền Nam 77,5 4,5 2,1 0,7 69,0
Theo quy mô gà thịt
Nhỏ 81,6 4,0 1,8 0,7 77,5
Trung bình 83,8 4,5 2,1 0,8 65,4
Lớn 75,8 4,6 2,4 0,6 81,0
Hộ chăn nuôi lợn
Chung
87,5 4,5 2,1 0,7 73,1
Theo vùng
Miền Bắc
100,0 4,4 2,2 0,6 80,8
Miền Nam
80,9 4,5 2,1 0,7 69,6
Theo quy mô
Nhỏ
84,3 4,4 2,1 0,9 78,3
Trung bình
87,0 4,5 2,1 0,7 67,1
Lớn
91,5 4,6 2,2 0,5 74,6
Theo vùng
Miền Bắc 14,0 74,0 8,0 4,0
Miền Nam 31,4 61,8 2,0 4,9
Theo quy mô gà thịt
Nhỏ 15,8 76,3 5,3 2,6
Trung bình 32,4 59,5 5,4 2,7
Lớn 36,4 57,6 3,0 3,0
Hộ chăn nuôi lợn
Trung bình
21,0 73,7 2,0 3,4
Theo vùng
Miền Bắc
6,0 86,0 4,0 4,0
Miền Nam
28,6 67,4 1,0 3,1
Theo quy mô
Nhỏ
23,5 70,6 3,9 2,0
Trung bình
20,4 73,5 0,0 6,1
Lớn
18,8 77,1 2,1 2,1
8
3 Các hệ thống chăn nuôi gà
Gà thịt Gà đẻ
Số con ấp trung
bình
(đầu con)
(độ lệch chuân
ở trong ngoặc)
Số lượng gà thịt
mua trong 1 năm
(đầu con)
(độ lệch chuẩn
ở trong ngoặc)
Số lượng
gà thịt
bán
(đầu con)
Trọng
lượng
bán
(kg)
Giá bán
(‘000đồng
/kg)
Theo vùng
Miền Bắc 3 2 290,0
(185,2)
- 350 2,3* 65,0
Miền Nam 10 181,3
(155,7)
217,0
* Lớn hơn về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
3.2 Trường hợp hộ nuôi gà thịt có mua con giống
Phần lớn các hộ chăn nuôi gà thịt có mua con giống, và việc thu thập số liệu từ nhóm hộ
này đơn giản hơn và bao gồm số liệu về loại giống chính được sử dụng và số lượng lứa
9
trong một năm. Các kết quả được trình bày ở Bảng 6. Nhìn chung, một nửa số hộ có nuôi
gà giống địa phương. Các hộ ở miền Bắc có xu hướng nuôi gà giống lai (46,2%), trong
khi đó ở miền Nam, giống gà ngoại
2
cũng là loại giống được nuôi phổ biến (36,4%). Loại
giống nuôi cũng chịu ảnh hưởng bởi quy mô chăn nuôi, trong đó các hộ quy mô lớn
thường có xu hướng nuôi gà giống ngoại (51,5%) trong khi các hộ quy mô nhỏ chủ yếu
nuôi giống địa phương (66,7%).
Số lượng lứa nuôi một năm đối với giống địa phương thấp hơn về mặt thống kê, ở toàn bộ
mẫu nói chung cũng như
trong từng nhóm trừ trường hợp hộ quy mô nhỏ. Không có sự
khác biệt về mặt thống kê trong số lượng lứa nuôi một năm giữa các loại giống nuôi đối
với hộ nuôi gà thịt quy mô nhỏ. Những hộ quy mô lớn sử dụng giống lai có số lượng lứa
nuôi một năm nhiều hơn về mặt thống kê so với những hộ nuôi giống ngoại (gần 6 lứa so
với 4 l
ứa một năm).
Bảng 5 Các loại giống nuôi đối với gà thịt và số lượng lứa một năm
Số
lượng
mẫu
Tỷ lệ hộ theo loại
giống chính
Nhỏ
27 66,7 7,4 25,9 2,4 3,5 2,7
nsd
Trung bình
34 55,9 8,8 35,3 2,4 4,3 4,3
Địa phương <
Ngoại, Lai (1%)
Lớn
33 33,3 51,5 15,2 3,1 4 5,8
Địa phương <
Ngoại<Lai (5%)
Kết quả thống kê sản lượng được trình bày ở Bảng 7 đối với những hộ nuôi gà thịt mua
con giống. Các kết quả phân tích Anova so sánh giá trị trung bình giữa các nhóm được
trình bày ở phần chú thích dưới bảng. Quy mô trung bình một lứa xét chung cho toàn bộ
mẫu là 2.131 con, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi xét theo cấp độ vùng, trong đó
các hộ miền Nam có quy mô lớn hơn nhiều. Kết luận này nhất quán với kết quả khi chia
theo loại gi
ống, trong đó các hộ nuôi giống ngoại thường là hộ thuộc quy mô lớn và phổ
biến hơn ở miền Nam. Không có sự khác biệt về mặt thống kê trong giá mua con giống
khi so sánh giữa bất kỳ nhóm nào. Độ dài lứa nuôi trung bình là 98 ngày, và không có sự
khác biệt về mặt thống kê khi xét theo cấp độ vùng. Các hộ quy mô lớn có độ dài lứa nuôi
trung bình là 77 ngày, thấp hơn về mặt thống kê so với các hộ thuộc 2 quy mô còn lại, và
giống gà địa phương có chu k
ỳ nuôi dài hơn (125 ngày) so với các giống cải tiến (65 ngày
đối với giống ngoại và 73 ngày đối với giống lai). Tổng số đầu con bán ra trung bình một
năm là 4.511 con khi xét chung cho toàn mẫu, với số lượng trung bình lớn hơn về mặt
thống kê đối với những hộ ở miền Nam. Số lượng trung bình bán ra thấp hơn về mặt
Độ dài
trung bình
một lứa
(số ngày)
c
Trọng
lượng
trung bình
khi bán
(kg)
d
Số lượng
bán
(số con)
e
Giá bán
(000đồng/
kg)
f
Chung 2131 10,1 98 2,2 4511 44,1
Theo vùng
Miền Bắc 218 10,6 104 2,5 690 47,5
Miền Nam 3488 9,6 93 1,9 7491 41,5
Theo quy mô gà thịt
Nhỏ
Ngoại
5052
9,7
65
2,5
7899
35,3
Lai
2060
8,1
73
2,7
7316
35,4
a. Vùng: Bắc<Nam (15); Quy mô: Nhỏ,TB<Lớn (1%); Giống: Ngoại > Địa phương, Lai (10%)
b. Giá trị trung bình không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm
c. Vùng: không có sự khác biệt về mặt thống kê; Quy mô: Nhỏ,TB>Lớn (1%); Giống: Địa phương>Ngoại,
Lai (1%).
d. Vùng: Bắc>Nam (1%); Quy mô: không có sự khác biệt về mặt thống kê; Giống: Địa phương<Ngoại, Lai
(1%)
e. Vùng: Bắc <Nam (1%); Quy mô: Nhỏ, TB<Lớn (1%); Giống: không có sự khác biệt về mặt thống kê.
f. Vùng: Bắc>Nam (10%) ; Quy mô: Nhỏ>TB>Lớn (10%); Gi
ống: Địa phương>Ngoại, Lai (1%) 3.3 Trường hợp hộ nuôi gà đẻ có mua con giống
Các loại giống nuôi đối với gà đẻ được trình bày ở Bảng 8. Khoảng 74% trong tổng số hộ
nuôi gà đẻ (có mua con giống) sử dụng các giống gà ngoại. Các hộ ở miền Bắc và các hộ
quy mô nhỏ hơn có xu hướng nuôi gà giống lai nhiều hơn. Rất thú vị là có khoảng 21%
hộ quy mô lớn có giống gà đẻ địa phương là giống nuôi chính, cao hơn tỷ lệ
16
12,5 62,5 25,0
Trung bình
13
0,0 84,6 15,4
Lớn
14
21,4 78,6 0,0
Các đặc điểm của loại hình chăn nuôi lấy trứng được trình bày ở Bảng 9. Số lượng đầu
con gà đẻ trung bình 1 lứa là 3.323 con xét chung toàn mẫu, nhưng cao hơn về mặt thống
kê ở miền Bắc. Không có sự khác biệt về mặt thống kê khi xem xét đến quy mô một lứa
theo các loại giống gà được nuôi. Chi phí con giống vào khoảng 44 nghìn đồng/con,
nhưng không có sự khác biệt về mặt thống kê theo vùng và quy mô. Thời gian nuôi gà đẻ
nhìn chung kéo dài kho
ảng 14 tháng, và ngắn hơn về mặt thống kê ở miền Bắc, khoảng
12 tháng.
Thời gian nuôi một lứa không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm. Số lượng
trứng của một con gà đẻ trong một năm là 228 quả khi xét chung toàn mẫu, và thấp hơn
về mặt thống kê ở các hộ quy mô nhỏ so với các hộ lớn. Gà đẻ giống địa phương cho ít
trứng hơn so với gà ngoại, v
ới số lượng trung bình đạt khoảng 170 quả so với 244 quả, và
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Các hộ ở miền Bắc có xu
hướng có sản lượng trứng nhiều hơn và có doanh thu từ trứng cao hơn so với các hộ ở
miền Nam. Tuy nhiên, những sự khác biệt về sản lượng trứng cũng như doanh thu không
có ý nghĩa thống kê khi phân tích theo các loại giống nuôi.
Bảng 8 Đặc đ
iểm của chăn nuôi gà đẻ đối với những hộ mua con giống
Doanh thu
từ trứng
(triệu
đồng)
f
Chung 3323 43,9 442.0 228 709 792
Theo vùng
Miền Bắc 5556 55,0 351 214 1252 1412
Miền Nam 2732 41,0 466 231 573 637
Theo quy mô gà đẻ
Nhỏ
667 34,2 406 197 121 126
Trung
bình
2517 42,8 443 231 478 533
Lớn
7107 56,0 481 265 1680 1889
Theo loại giống
Địa
phương
4500 39,4 419 170 1095 1234
Ngoại
3566 46,7 456 244 777 865
Lai
1044 33,0 387 217 263 296
a. Vùng: Nam<Bắc (5%); Quy mô: Nhỏ<TB<Lớn (10%); Giống: không có ý nghĩa về mặt thống k
miền Bắc (47,5 nghìn đồng).
Không giống trường hợp gà thịt, các hộ nuôi gà đẻ ở miền Bắc có quy mô nuôi lớn hơn về
mặt thống kê so với các hộ ở miền Nam, phản ánh thông qua số lượng trứng bán ra cũng
như
doanh thu từ trứng lớn hơn. Năng suất trứng trên 1 con gà đẻ không có sự khác biệt
về mặt thống kê giữa các vùng, tuy nhiên chỉ tiêu này cao hơn về mặt thống kê ở những
hộ quy mô lớn và những hộ nuôi gà giống ngoại. Thời gian nuôi trung bình một lứa lớn
hơn về mặt thống kê ở miền Nam so với miền Bắc (466 ngày so với 351 ngày), phản ánh
các hộ ở miền Nam chủ yếu nuôi giống gà ngo
ại cho năng suất cao hơn so với giống gà
địa phương và giống lai.
Số lượng hộ
(n)
Hộ có lợn nái
%
Hộ mua lợn
con vỗ béo
%
Hộ có cả lợn
nái và mua lợn
con vỗ béo
%
Theo vùng
Miền Bắc 49 78 48 26
Miền nam 99 85 19 6
Theo quy mô
Nhỏ 51 67 37 8
Trung bình 48 88 31 18
Lớn 49 94 18 12
Chung 148
83 29 13
Ở Bảng 11, nguồn lợn con để nuôi vỗ béo được chia ra thành 3 nhóm: tự túc, mua, và kết
hợp cả 2 nguồn. Số lượng lợn con tự túc ở các hộ miền Nam lớn hơn về mặt thống kê so
với các hộ miền Bắc, phản ánh quy mô chăn nuôi lớn hơn (số lượng lợn nái nhiều hơn) ở
miền Nam. Số lượng lợn con tự túc trung bình ở những hộ hoàn toàn dựa vào nguồn
gi
ống tự túc là 29 con đối với nhóm quy mô nhỏ, 83 con ở quy mô trung bình và 504 con
ở quy mô lớn. Những hộ kết hợp cả hai hình thức tự túc giống và mua lợn con có xu
hướng có số lượng tự túc ít hơn, loại trừ trường hợp của nhóm hộ quy mô nhỏ trong đó số
Chung 101 236,3 11 82,8 37,7 69% 24 97,7
Theo vùng
Miền Bắc 26 94,9 8 79,5 35,4 69% 12 151,0
Miền Nam 75 285,3 3 91,7 44,0 68% 12 44,3
Theo quy mô
Nhỏ 25 28,6 3 28,3 11,3 71% 16 29,2
Trung bình 36 82,9 3 47,0 49,7 49% 6 59,5
Lớn 40 504,1 5 137,0 46,4 75% 2 760,0
Chúng tôi đã hỏi thông tin về loại giống đối với những hộ chỉ mua lợn con, và phân bố
các hộ theo loại giống mua chính được trình bày ở Bảng 12. Nhìn chung, có 55% hộ mua
lợn con nuôi giống lai, tiếp theo là giống ngoại (31%) và giống địa phương (15%). Tuy
nhiên, các hộ quy mô lớn có xu hướng nuôi nhiều giống ngoại hơn (56%), trong khi hộ
quy mô nhỏ và trung bình lại có xu hướng nuôi nhiều giống lai hơn (với tỷ lệ 60% và
71% tương ứng). Các giống l
ợn địa phương phổ biến hơn ở miền Nam, trong khi ở miền
Bắc giống lai được nuôi nhiều hơn (70%)
Bảng 11 Phân bố lợn con mua để vỗ béo theo loại giống lợn (%), % hộ mua lợn con
Địa phương Ngoại Lai
Chung
15 31 55
Theo vùng
Miền Bắc 5 25 70
Miền Nam 19 33 48
Theo quy mô
Nhỏ 13 17 71
Trung bình 15 25 60
Lớn 17 56 28
lượng
trung bình
khi mua
b
(kg)
Giá mua con
giống
c
(000
đồng/kg)
Độ dài trung
bình 1 lứa
nuôi
d
(số ngày)
Trọng
lượng
trung bình
khi bán
e
(kg)
Giá bán
f
(000
đồng/kg)
(31%). Các giống địa phương không còn được nuôi nhiều như trước kia. Tuy nhiên, các
hộ quy mô lớn có xu hướng nuôi giống ngoại nhiều hơn (56%) trong khi các hộ quy mô
vừa và nhỏ lại có xu hướ
ng nuôi giống lai nhiều hơn (với tỷ lệ 60% và 71% tương ứng).
Rất thú vị là các giống lợn địa phương được nuôi nhiều hơn ở miền nam nơi có chăn nuôi
công nghiệp tồn tại, trong khi các giống lai được nuôi nhiều hơn ở miền Bắc (70%).
Thời gian nuôi một lứa tương đối dài hơn ở miền Bắc (114 ngày) so với ở miền Nam (89
ngày) và trọng lượng lợn khi bán ở miền B
ắc cao hơn 5 kg so với miền Nam. Thời gian
16
nuôi rút ngắn cũng có thể được coi là một bằng chứng khác của chăn nuôi công nghiệp ở
các hộ miền Nam.
Giá mua con giống trung bình là 58.000 đồng/kg, nhưng giá mua cao hơn về mặt thống kê
ở các hộ chăn nuôi lớn (77.000 đồng/kg) - những hộ này có xu hướng nuôi giống ngoại
nhiều hơn. Giá bán trên 1 kg lợn thịt không có sự khác biệt về mặt thống kê khi so sánh
giữa các quy mô, nhưng khi so sánh theo vùng thì kết quả cho thấy giá bán ở miền Nam
(34.000 đồ
ng/kg) cao hơn ở miền Bắc (30.000 đồng/kg). 17
5 Sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ
5.1 Sử dụng thức ăn cho chăn nuôi gà
Chúng tôi đã thu thập thông tin về tình hình sử dụng thức ăn ở các giai đoạn chăn nuôi
khác nhau, và trình bày về mức độ sử dụng thức ăn công nghiệp theo các giai đoạn ở
Bảng 14 và Bảng 15. Bảng 14 trình bày việc sử dụng thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi gà
thịt và gà đẻ. Nhìn chung các hộ chăn nuôi có xu hướng sử dụng thức ăn hỗ
n hợp cho
chăn nuôi gà thịt ở giai đoạn đầu (có độ dài khoảng 29 ngày) nhiều hơn. Xét trên toàn bộ
mẫu điều tra, 90% hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở giai đoạn đầu, tuy nhiên tỷ lệ này giảm
dần ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3. Ở miền Bắc, việc sử dụng thức ăn hỗn hợp giữa các giai
đoạn có sự
khác biệt lớn hơn nhiều, với tỷ lệ hộ sử dụng ở giai đoạn 2 giảm một nửa so
với giai đoạn 1, và tỷ lệ ở giai đoạn 3 lại tiếp tục giảm gần một nửa so với giai đoạn 2.
Các hộ ở miền Nam có xu hướng tiếp tục sử dụng thức ăn hỗn hợp trong suốt chu kỳ chăn
nuôi. Việc sử dụng thức ăn hỗn hợp đối với chăn nuôi gà thịt chịu ảnh hưởng bởi quy mô
chăn nuôi, trong đó các hộ quy mô nhỏ ít sử dụng hơn, đặc biệt là ở các giai đoạn sau. Gà
giống địa phương ít được cho ăn thức ăn hỗn hợp ở giai đoạn đầu, gà giống lai và giống
ngoại ít được cho ăn thức ăn hỗn hợp hơn ở các giai đoạn sau. Chúng tôi cũng chia nhóm
gà giống địa phương thành 2 nhóm nhỏ là gà nuôi thả rông và gà nuôi nhốt, với quy mô
mẫu được phân chia tương đối đồng đều giữa 2 nhóm này. Gà nuôi thả rông ít được cho
ăn thức ăn hỗn hợp hơn, đặc biệt là ở các giai đoạn sau.
Mặc dù gà đẻ ít được cho ăn thức ăn hỗn hợp hơn ở
giai đoạn đầu so với gà thịt, song xu
hướng dùng thức ăn hỗn hợp lại cao hơn ở các giai đoạn sau. Ở miền Bắc, 100% hộ nuôi
gà đẻ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở tất cả các giai đoạn.
Bảng 13 Tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp trong từng giai đoạn, chia theo vùng, quy
Giai
đoạn 3
(250
ngày)
Số
lượng
mẫu
Chung 90 61 51 98 82 80 74 37
Theo vùng
Miền Bắc 83 39 26 35 100 100 100 9
Miền Nam 94 77 78 63 77 75 70 28
Theo quy mô
Nhỏ 81 26 3 30 71 67 64 13
Trung bình 89 63 69 33 85 92 83 11
Lớn 100 97 95 33 93 85 83 13
Theo loại giống
Địa phương
85 61 46
42
100 75 50 5
Thả rông
75 52 19
19
100 100 0 1
Nuôi nhốt
96 70 68
23
100 67 100 4
Ngoại
100 90 91