1
PHỤ LỤC 3A. THU THẬP SỐ LIỆU TỔN THẤT XAY XÁT
THÁNG 04- 2010
Dự án đã tiến hành thu thập số liệu tổn thất xay xát từ ba nhà máy xay xát trở lên ở mỗi tỉnh
được khảo sát là Kiên Giang và Tiền Giang trong năm 2007-2008. Khảo sát này cho rằng tỉ lệ
thu hồi gạo nguyên không những phụ thuộc vào chất lượng gạo ban đầu (các vết nứt sẵn có hay
hạt bị yếu) mà còn phụ thuộc vào hiệu suất xay xát. Do đó, dữ liệu tổn thất do xay xát thực tế
được thu thập ở 2 tỉnh, Tiền Giang và Kiên Giang.
Có 3 loại hệ thống xay xát ở cả 2 tỉnh:
1. Hệ thống xay xát gạo trắng truyền thống: nhà máy xay xát gạo không có bộ phận đánh
bóng (chiếm 91%).
2. Hệ thống xay gạo lức (chiếm 3%).
3. Nhà máy xát trắng/ đánh bóng (chiếm khoảng 6%).
Trong thí nghiệm này, số liệu được thu thập trên 03 loại máy xát:
1. Loại nhỏ - dưới 1 tấn/giờ
2. Loại vừa- từ 1 đến 4 tấn/giờ
3. Loại lớn- trên 4 tấn/giờ
Số liệu cũng được thu thập trên 3 loại máy xay:
1. Xay bằng đĩa đá
2. Xay bằng rulô cao su
3. Xay bằng cả hai hình thức đĩa đá và rulô cao su
Số liệu được thu thập bằng hai phương pháp:
1. Tiến hành khảo sát với các chủ xay (cả 3 kích cỡ nhà máy xay) ở 2 tỉnh
2. Đo đạc số liệu thực từ nhà máy xay (4 nhà máy xay cỡ nhỏ và 2 cỡ vừa) ở tỉnh Kiên
Giang (dữ liệu sẽ tiếp tục được đo đạc ở tỉnh khác trong mùa vụ này).
Kết quả được trình bày như Bảng 2 và 3. Mối tương quan giữa số liệu thực tế và số liệu thu được
qua điều tra khá chặt chẽ. Cả hai dữ liệu cho thấy tỉ lệ thu hồi gạo nguyên ở các nhà máy xát qui
mô nhỏ là thấp nhất và có thể thấp đến 33%. Nhà máy xát qui mô lớn có tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
cao nhất 55%. Trong điều kiện lý tưởng tỉ lệ thu hồi gạo nguyên và tổng tỉ lệ thu hồi gạo có thể
lần lượt khoảng 59% và 69% (do gạo có khoảng 10% cám và 20% vỏ trấu). Các tài liệu trước
Bảng 3. Số liệu đo đạc thực tế từ các nhà máy xát ở tỉnh Kiên Giang.
Qui mô Tên chủ nhà máy
Năng suất
(tấn/giờ)
Ẩm độ
lúa (%)
Ẩm độ gạo
xát (%)
Tỉ lệ gạo
nguyên %
Dương Nguyệt 0.8 15.5 15.8 48
Huỳnh Thanh Dũng 0.4 15.2 15.1 42
Lưu Văn Thiều 0.7 14.2 13.7 50
Nhỏ
Máy xay kiểu bóc vỏ cà phê (di động) 0.2 15.3 15.2 33
Tân Phát 1.2 16 16.5 52
Vừa
Lưu Thành Xem 1.5 15.9 15.9 49
Ở tỉnh Kiên Giang, kết quả điều tra cho biết tỉ lệ gạo nguyên ở các nhà máy xát gạo sử dụng rulô
cao su cao hơn các nhà máy sử dụng cối đá hay máy bóc vỏ cà phê (Bảng 4).
Bảng 4. Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên (%) ở các nhà máy có 3 hệ thống bóc vỏ khác nhau tại tỉnh Kiên
Giang.
Qui mô nhà máy Máy bóc vỏ
bằng cối đá
Máy bóc vỏ
bằng rulô cao
su
1. DẪN NHẬP
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất thoát sau thu hoạch và các nguyên nhân này có thể xảy
ra ngay trước thu hoạch và trong các công đoạn sau đó từ lúc thu hoạch đến bảo quản. Hiện
tượng nứt gãy hạt sau thu hoạch làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên. Lúa gạo bị hư hỏng và
bị giảm số lượng lẫn chất lượng do các thao tác sau thu hoạch chưa đúng kỹ thuật trong quá
trình thu hoạch, gặt đập, phơi sấy, tháo t
ải, vận chuyển, xay xát và điều kiện bảo quản.
Xay xát là một công đoạn quan trọng vì nó tạo ra sản phẩm cuối cùng (gạo trắng) trong
chuỗi sản xuất gạo. Bên cạnh hiện tượng nứt gãy hạt tiềm ẩn trong những giai đoạn trước,
hạt gạo có thể bị nứt do xay xát không đúng kỹ thuật, ví dụ như hiệu suất xay xát của hệ
thống thấ
p, chất lượng gạo trước xát thấp. Một vài nghiên cứu cho thấy hệ thống xay xát
không phù hợp làm gạo bị gãy tuy nhiên chưa có thông tin nào đề cập đến ảnh hưởng của
chất lượng lúa trước xát đến hiệu quả của hệ thống. Trong nghiên cứu này sẽ nghiên cứu
ảnh hưởng của ẩm độ lúa ban đầu đến đặc tính của hệ thống xay xát cối cao su về mặt năng
suất và tỉ
lệ thu hồi gạo nguyên. Các thông số khác như độ sạch lúa, mức độ nứt hạt trước
xát cũng được xem xét để liên hệ đến tổng thể của thí nghiệm.
2. MỤC TIÊU
Mục tiêu của thí nghiệm này là xác định tác động của ẩm độ lúa ban đầu đến đặc tính của
hệ thống xay xát cối cao su 1 tấn/giờ về mặt năng suất và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên.
3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3
3
.
.
1
1
.
.
.
3
3
.
. Hệ thống xay xát
Hệ thống xay xát kiểu rulo với năng suất 1 tấn/giờ RS10P của hãng Sinco lắp đặt tại Khoa
Công nghệ – Trường Đại học Cần Thơ được sử dụng trong quá trình thí nghiệm. Sơ đồ cấu
tạo của hệ thống này được minh họa trong Hình 1. Hình 2-5 mô tả các thành phần của hệ
thống.
Hình 1: Hệ thống xay xát kiểu rulo với năng suất 1 tấn/giờ RS10P
1- Bể chứa lúa; 2- Sàng phân loại; 3- Thùng chứa; 4- Máy bóc vỏ kiểu rulo cao su;
5- Thùng chứa; 6- Sàng phân loại gạo; 7- Máy tách đá; 8- Thùng chứa;
9- Máy xát trắng; 10- Máy đánh bóng; 11- Trống phân cấp gạo.
- E1, E2, E3, E4, E5, E6, E7: các gầu tải; F1, F2, F3: các quạt phân ly;
X1, X2: các xyclon lắng cám. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống xay xát RS10P-Sinco. Đầu tiên, lúa được cung
cấp vào bể chứa (1), lúa này được gầu tải (E1) đưa qua sàng phân loại để lấy đi các tạp chất
còn lẫn trong lúa. Tại đây, các loại tạp chất lớn nặng, lớn nhẹ, nhỏ nặng, nhỏ nhẹ (như cọng
rơm, dây cột bao, đất, đá,…) sẽ được tách ra. Sau đó, lúa sẽ được gầu t
ải (E2) đưa tới thùng
chứa tạm (3), thùng chứa này có tấm điều chỉnh lượng lúa đi qua máy bóc vỏ kiểu ru lô cao
3
su (4). Lúa sau khi đi qua máy bóc vỏ (4) sẽ cho ra hỗn hợp gồm gạo lức, trấu càng (cám
phẩm ở tất cả các cửa ra trong thời gian thí nghiệm (6 phút). Ở đây, các thí nghiệm được
tiến hành trên cùng m
ột chủng loại lúa nên trong các nghiệm thức, trấu được cố định ở cùng
một mức là 21,0 % khối lượng lúa cung cấp. Năng suất của nhà máy được xác định bằng
cách lấy tổng lượng lúa đi qua máy bóc vỏ và trừ đi phần hạt thóc lửng và các tạp chất
(kg/h, giá trị trung bình của ba lần lặp lại). 4
Hình 2: Hệ thống xay xát 1 tấn/giờ RS10P _ SINCO
Hình 3: Máy bóc vỏ, phân ly trấu và phân ly thóc-gạo lức 5Hình 4: máy xát trắng và đánh bóng gạo
Hình 5: Hệ thống thu hồi cám và trống phân cấp gạo (tri-e)
3.6 Xác định tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
Gạo nguyên được phân riêng khỏi gạo tấm để xác định tỉ lệ thu hồi gạo nguyên là tỉ lệ của
khối lượng gạo còn nguyên vẹn trên khối lượng của lúa được chà xát. Gạo nguyên là gạo
sau xát có chiều dài lớn hơn 75% chiều dài ban đầu.
p nhận mức xác suất sai lầm loại II β = 0,10 ÷ 0,20. Bằng các suy diễn thống kê, có thể
xác định được với n ≥ 9 ( = số lần lặp lại hay số khối), mức sai biệt tối thiểu giữa 2 nghiệm
thức ∆ = 60 kg/h thì khả năng phạm sai lầm loại II là β ≈ 0,16 (chấp nhận được). Như vậy,
ở đây số lần lặp lại (= số khối) quá ít. 7
Bảng 2. Năng suất trung bình của hệ thống và tỉ lệ thu hồi gạo nguyên ở 3 mức ẩm độ
Tỉ lệ thu hồi gạo trắng, % * ẩm độ, %
cs ướt
Năng suất,
kg thóc/giờ
Gạo nguyên Tấm
Xát trắng gạo
trong 6 phút,
kg
Tỉ lệ thu hồi
gạo nguyên, %
(1) (2) (3) (4) (5)
14 691.05
cho sinh viên, tr
ước đó máy đã ngừng hoạt động trong thời gian dài. Chính vì thế, trong quá
trình thí nghiệm, đôi khi xảy ra một vài trục trặc, ngay cả với nhân viên vận hành máy (khi
điều chỉnh các máy móc trong hệ thống, góc nghiêng sàng,…) cũng không thật sự thành
thục và chuyên nghiệp. Những yếu tố này cũng gây đã ảnh hưởng nhất định đến kết quả của
thí nghiệm.
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nhìn chung, ẩm độ thóc ban đầu càng cao thì tỉ lệ thu hồi gạo nguyên càng thấp. Tỉ lệ thu
hồi gạo nguyên ở 14% ẩm cao nhất (46.71%) sau đó là 15% (44.90%) và 16% (36.94%).
Ảnh hưởng của ẩm độ ban đầu đến đặc tính của hệ thống xay xát 1 tấn/giờ như trong thí
nghiệm này là đáng kể khi xem xét giữa hai mức ẩm độ 14% và 16%. Bên cạnh đó, tỉ lệ thu
hồi gạo nguyên của hệ thống này thấp hơn nhữ
ng hệ thống hiện tại. Điều này có thể là do
những trục trặc kỹ thuật như đã trình bày ở trên. Đề nghị thực hiện tiếp thí nghiệm trên các
hệ thống khác cũng như tăng số lần lặp lại để đảm bảo độ chính xác. 1
PHỤ LỤC 3C. KHẢO NGHIỆM XAY XÁT TRÊN HỆ THỐNG
3 TẤN/GIỜ
THÁNG 04- 2010
Ngày 13/8/2009, chủ cơ sở Hưng Lợi đã mua lúa với khối lượng khoảng 10 tấn, với
đặc điểm sau:
- Giống lúa 2517, thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp.
- Chất lượng: lúa bị lẩn lép nhiều.
1. Tiến hành phơi sấy:
Theo yêu cầu công tác khảo nghiệm, lúa được chia làm hai phần: 01 tiến hành sấy (ở lò
sấy đảo chiều gió ở HTX Tân Phát A), 01 tiến hành phơi sân ở nhà máy xay xát Hưng
lức, gạo lức được thu hồi được định lượng bằng cân, mỗi mẻ khảo nghiệm được lấy 05
mẫu để phân tích.
Cách lấy mẫu
: Gạo lức của mỗi mẻ được chứa trong thùng, sau đó xả vào bao để chứa
(cân xác định khối lượng thu hồi). Mẫu được lấy từ bao thứ 4 trở đi, để tránh lẩn ngọn.
5.2. Phần xát trắng: Gạo lức được xát trắng 02 công đoạn (cối 1, cối 2), mỗi mẻ khảo
nghiệm được lấy 10 mẫu ( 05 mẫu lấy ở cối xát trắng 1 và 05 mẫu
ở lấy ở cối xát trắng
2). Cách lấy mẫu tương tự ở phần xát lức.
2
5.2. Phần lau bóng: Sau khi xát trắng xong, gạo được chuyển qua lau bóng. Gạo xát
trắng được lau bóng 02 lần, ở công đoạn này lấy 10 mẫu (05 mẫu ở đầu lau bóng 01 và 05
mẫu đầu lau bóng 02).
6. Xác định tỷ lệ gạo nguyên, gạo gảy
Mổi mẽ lấy 05 mẫu, mỗi mẫu (0,5-01) kg (lấy mẫu bằng khay có thể tích 01 dm
3
).
Xác định tỷ lệ gạo nguyên trên mỗi mẫu bằng cách lấy ngẩu nhiên 05 mẫu được trải đều
trên khay (theo hình vẽ), mỗi mẫu có khối lượng khoảng (18 – 25)g. Khối lượng được xác
định bằng cân điện tử
- Sự chênh lệch giửa các công đoạn giửa lúa phơi và lúa sấy có sự khác biệt lớn (khoảng
10%). Do đó việc làm khô lúa bằng lò sấy đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn (tỷ lệ thu hồi gạo
thành phẩm cao).
- Tỷ lệ thu hồi giửa công nghệ xát lức 70% cối đá + 30% cối cao su và công nghệ 30%
cố
i đá và 70% cối cao su có sự khác biệt sau:
+ Đối với lúa phơi: tỷ lệ thu hồi gạo thành phẩm của công nghệ xát lức 70% cối đá cao
hơn tỷ lệ thu hồi của công nghệ xát lức 30% cối đá. (40,71% - 35,89%).
+ Đối với lúa sấy: tỷ lệ thu hồi gạo thành phẩm của công nghệ xát lức 70% cối đá thấp
hơn tỷ lệ thu hồi gạo thành phẩm của công nghệ xát l
ức ( 49,28% - 53,36%).
Tỷ lệ thu hồi gạo nguyên thấp nguyên nhân là do lúa bị lẩn lép nhiều. Ø 300
Ø 50
Công nghệ
Công đoạn
3TỶ LỆ THU HỒI GẠO NGHUYÊN
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
60.00%4CÁC HÌNH ẢNH KHẢO NGHIỆM Lúa làm khô bằng lò sấy đảo chiều gió ở
HTX Tân Phát A
Lúa phơi sân ở nhà máy xay xát Hưng Lợi
– Tân Hiệp
Định lượng mẫu chuẩn bị xát lứt Định lượng gạo qua công đoạn xát lứt
Lấy mẫu phân tích Phân tích mẫu
5
Khay lấy mẫu phân tích Cân mẫu