Báo cáo điều tra hộ nông dân vùng trồng rau tại Nghệ An, Việt Nam
(2010)
ThS. Phạm Hùng Cương
TỪ KHOÁ Quốc gia/ khu vực: Nghệ An, Việt Nam
Cây trồng: Rau: Họ thập tự, bầu bí
Chủ đề: Khảo sát thực trạng sản xuất rau sau khi dự án kết
thúc tại tỉnh Nghệ An
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đến Tiến sĩ Gordon Rogers, Tiến sĩ Jenny Jobling, Trung tâm
Nghiên cứu ứng dụng nhà vườn, Đại học Sydney Bang NSW, Úc. Tôi cũng muốn cảm ơn các
đồng nghiệp Việt Nam và cán bộ địa phương trong tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ cho nhóm cán bộ
khảo sát hoàn tất cuộc điều tra này.
Thành viên nhóm khảo sát:
Hồ Ngọc Giáp, Lê Thị Hương, Nguyễn Hồng Quyền, Trầ
n Thị Ngà, Nguyễn Văn Thắng (
1
).
LỜI MỞ ĐẦU
Tỉnh Nghệ An có vị trí ở khu vực ven biển phía Bắc miền Trung Việt Nam. Giáp Biển Đông về
phía Đông, giáp Lào phía Tây, giáp tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam, tỉnh Thanh Hoá phía Bắc. Nghệ
An là một tỉnh lớn với diện tích 1.648.729 ha. Tổng số diện tích sản xuất rau tại Nghệ An là
15.137 ha và tỉnh này đang có kế hoạch sản xuất rau an toàn trên mỗi 1.100 ha ở các huyện như
ở Quỳnh Lưu, Di
ễn Châu, Nam Đàn và khu vực ven đô của thành phố Vinh.
Dự án 021VIE/06 thực hiện từ năm 2007-2009 tại một số vùng trồng rau của Nghệ An. Trước
khi dự án thực hiện dự án đã tiến hành khảo sát tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại địa phương
để tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ ngành hàng rau tại khu vực.
2007-2009 một số nhóm rau chủ lực như rau ăn lá, rau họ
bầu bí, cà rốt và hành luôn được nhiều
nông dân trồng. Điều này chứng tỏ lượng tiêu thụ lớn hơn nhiều các loại rau quả khác. Tuy nhiên
(
1
) Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ
số lượng giống được sử dụng đa dạng nhất vẫn là nhóm rau ăn lá trong cả giai đoạn 2007-2009
(13 giống năm 2007 và 10 giống năm 2009), tiếp đến là nhóm rau quả họ bầu bí. Về thời vụ sản
xuất không có sự biến động. (Bảng 1).
Trong tỉnh Nghệ An một hộ nông dân thường sở hữu từ 2 đến 5 thửa ruộng, và diện tích của mỗi
thửa từ
300 - 1.000 m2. Các loại đất cho sản xuất rau không đồng nhất và đây là một vấn đề dễ
ảnh hưởng đối với một số cây trồng cần diện tích tập trung để sản xuất hàng loạt như cây dưa
hấu.
Bảng1: Đa dạng hóa các loại rau tại các địa bàn điều tra của Nghệ An 2010.
Số lượng giống Số hộ trồng
TT Tên loại rau
2007 2010 2007 2010
Vụ sản xuất
1 Cải bắp 4 3 8/56 13/59 8 tháng; Tháng 9 -
tháng 4 hàng năm
2 Các loại rau ăn lá (Cải
thảo, cải dưa, cải bẹ,
cải xanh, xà lách, )
13 10 37/56 33/59 9 tháng; Tháng - tháng
4 hàng năm
3 Su hào 3 1 3/56 1/59 7 tháng; Tháng 9 -
sau tác động của dự án, nhận thức của nông dân trong việc sử dụng giống mới đã
được cải thiện,
họ đã gieo trồng nhiều giống cải tiến hơn. Nguồn giống sử dụng và phương pháp ươm, nhân giống
không có sự thay đổi. Bảng 2: Hệ thống cung cấp hạt giống truyền thống trong vùng sản xuất rau ở tỉnh Nghệ An Tỷ lệ giống cải tiến
(%)
TT Tên loại rau
2007 2009
Nguồn
giống
Nguồn cây giống
1 Cải bắp 50 100 Đại lý/
Công ty
giống
Vườn ươm/ Nông dân tự làm
cây con
2 Rau ăn lá (cải thảo,
cải dưa, cải bẹ, cải
canh, Xà lách)
69 80 Đại lý
giống, dự
án hoặc tự
để giống
Vườn ươm/ Nông dân tự làm
cây con
giống cây
Nông dân tự làm cây con
11 Cà rốt - 67
3. Thực hành canh tác truyền thống ở vùng sản xuất rau của tỉnh Nghệ An
Đối với một số nhóm rau chủ lực, việc áp dụng các biện pháp canh tác phù hợp đảm bảo
sản phẩm an toàn khi thu hoạch thể hiện trình độ thâm canh và ứng dụng kỹ thuật của người
trồng rau. Phân bón được sử dụng từ 2007-2009 có sự khác biệt đáng kể về phương pháp, cụ thể
như sau: về ch
ủng loại phân bón, giai đoạn năm 2007 người trồng rau chỉ sử dụng phân vô cơ ,
nhưng đến 2009 nông dân đã sử dụng phân trộn tổng hợp NPK đạt hiệu quả cao hơn so với dùng
phân NPK riêng rẽ. Một sự khác biệt khác nữa trong cách bón, đó là cùng với phương pháp canh
tác truyền thống, nông dân đã áp dụng qui trình GAP trên rau quả. Việc thu hoạch cũng được
cách ly thời gian đủ dài để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng từ trên 10 ngày. Bảng 3: Thực hành trồng rau ở Nghệ An
Sử dụng phân bón 2007 Sử dụng phân bón 2009
TT Loại rau
Loại phân
bón
Cách bón
Lần bón
cuối cùng
Loại phân
bón
phân đơn
NPK, và
phân bón lá
1 lần bón
lót, 2 lần
bón thúc
Trước thu
hoạch 5-10
ngày
Như 2007,
thêm phân
trộn NPK
tổng hợp
Truyền
thống
Trước thu
hoạch 5-10
ngày
3 Họ bầu bí
(bí xanh,
bầu, dưa
chuột,
dưa
hấu…)
Phân
chuồng,
phân đơn
NPK, và
phân bón lá
bón lót và
T
T
Loạ
i
rau
Sâu và
bệnh hại
Hóa chất nhãn hiệu
Phương
pháp phun
Liều dùng
Thời gian cách ly 2007
2010
2007
20
10
2007
201
0
2007
2010
1
Các
loại
rau
ăn lá
Sat trung
song
Định
kỳ
(hàng
tuần)
hoặc
khi
cần.
Áp
dụng
IPM
Đôi
khi
cao
hơn
trên
nhãn
Theo
hướ
ng
dẫn
trên
nhãn
mác
Thường
không
đảm bảo
Trước
Apatin,
Midan,
Sec Sài
Gòn
Định
kỳ
(hàng
tuần)
hoặc
khi
cần.
Áp
dụng
IPM
Đôi
khi
cao
hơn
trên
nhãn
Theo
hướng
dẫn
trên
nhãn
mác
Không
đảm bảo
Hơn 10
nhãn
mác
Không
đảm bảo
Trước
thu
hoạch 7-
10 ngày
4
dưa
hấu
lá khô héo,
bọ ăn dưa
hấu, đầu lá
bị sưng héo
Anvil,
Ridomil, by
hand
Sinh
học,
Dilan,
Depgan,
Rigan,
Ridolmi
n,
Topxin,
Dyrumin
, G45,
Midan,
Secor
năng suất năm 2007 là 41 tấn/ ha thì năm 2009 năng suất cải bắp đã tăng 50 tấn /ha, Dưa hấu từ
30 tấn lên 38 tấn/ha. Một số loại rau giá bán tă
ng do đó thu nhập từ rau cũng đã tăng đáng kể.
Khâu thu hoạch và sơ chế cũng đã có chuyển biến tốt, có sự tham gia của hợp tác xã. Phương
thức bán hàng cũng đã có sự góp mặt của siêu thị (Metro Cash and Carry)
Bảng 5: Năng suất và giá cả của một số loại rau chính trong các vùng được khảo sát tại
tỉnh Nghệ An 2007-2009.
TT Loại rau
Năng suất trung
bình (tấn/ha)
Giá bán TB
(VND/kg)
Ngườ
i thu
mua
Phương thức thương
thảo giá
2007 2009 2007 2009
1 Cải bắp 41 50 2100 2500 người thu
gom, HTX
Tại ruộng, khi thu
hoạch và giá cả dựa
trên giá chợ địa
phương; có đơn hàng
đặt trước
2 Su hào 25 24 2200 2500 người thu
gom
Tại ruộng, khi thu
hoạch và bán trực tiếp cho người thu gom hoặc họ mang sản phẩm rau quả ra thị trường địa
phương để bán.
Bảng 6: Tình trạng xử lý sau thu hoạch cho rau ở các khu vực được khảo sát.
TT Loại rau
Bảo quản
sau thu
hoạch
Đóng gói
Sơ chế
Thời gian
từ thu
hoạch đến
tiêu dùng
Bảo quản bởi
người tiêu
dùng
1 Cải bắp Giữ ở nơi
mát và giữ
ẩm
Có Phân loại theo
mức độ nguyên
vẹn, kích thước,
sơ chế đóng gói
Trong vòng
24 giờ
Giữ thêm 1-2
ngày
này từng bước đã được cải thiện thông qua những hỗ
trợ của dự án trong 3 năm qua, do nông dân
đã sử dụng các giống mới.
An toàn thuốc trừ sâu và hoá chất có chuyển biến tích cực hơn, tăng thuốc sinh học và cách ly
đảm bảo thời gian an toàn cho thu hoạch. Xử lý sau thu hoạch đã được nhiều hộ trồng rau quan
tâm do họ nhận thức được chất lượng của sản phẩm rất quan trọng để giữ uy tín với khách hàng.
Thực hành Nông nghiệp tốt sả
n xuất rau đã áp dụng trong phạm vi dự án rất có hiệu quả và địa
phương mong muốn được mở rộng chuyển giao.