Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số loại máy gieo, máy cấy phù hợp với kỹ thuật canh tác lúa ở Việt nam - Pdf 15


Bộ khoa học và công nghệBáo cáo điều tra
về quy trình công nghệ và thiết bị để cơ giới hoá
cấy lúa trong nớc và trên thế giớicủa Đề tài cấp nhà nớc
"Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số loại máy
gieo, máy cấy phù hợp với kỹ thuật canh tác lúa
ở Việt nam"
M số: KC-07-25
Thuộc chơng trình :
"Chơng trình Khoa học và công nghệ phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn"
Mã số: KC-07

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Cơ điện NN & Công nghệ sth
Địa chỉ: Số 54 Ngõ 102, đờng Trờng Chinh, Đống Đa, Hà Nội
Cá nhân chủ trì đề tài:
TS. Lê Sỹ Hùng 6433-2
27/7/2007


Vì mạ khay gieo dày nên tiết kiệm đợc diện tích gieo mạ, tiết kiệm giống
tiết kiệm công chăm sóc có thể cấy 200

300 diện tích lúa (tuỳ vào mật độ cấy)
và vì mạ non khi cấy có bầu đất nên không mất thời gian phục hồi, cây phát triển
nhanh và khoẻ, đẻ nhánh nhiều.
* Quá trình phát triển máy cấy lúa tại Nhật Bản.
Nhật Bản là nớc có nền kinh tế phát triển, là nớc tiên phong trong lĩnh
vực nghiên cứu phát triển máy cấy, là nớc đầu tiên trên thế giới phát minh ra
máy cấy. Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XVIII Nhật Bản đã nghiên cứu và
chế tạo thành công những chiếc máy cấy đầu tiên và đến năm 1960 con số đó đã
lên đến hơm 300 máy. Đó là thời điểm xuất phát sớm nhất của máy cấy Nhật
Bản.
Trớc đây do phơng thức canh tác cổ truyền từ bao đời nay là mạ dợc nên
Nhật Bản cũng đã mất nhiều thời gian và công sức vào nghiên cứu và phát triển
2
cơ giới hoá việc nhổ mạ dợc và cấy mạ dợc. Máy cấy mạ dợc thơng phẩm
hoá sớm nhất vào năm 1964, tiếp sau các máy rửa sạch rễ mạ, máy nhổ mạ cũng
suất hiện trên thị trởng. Nhng máy cấy mạ dợc không nâng cao năng suất lao
động nên đến năm 1970 Nhật Bản đã ngừng sản xuất loại máy này.
Nhật Bản đã chuyển sang một hớng nghiên cứu mới đó là sản xuất mạ
thảm và nghiên cứu thiết kế máy cấy mạ thảm. Máy cấy mạ thảm đã phát triển
qua từng giai đoạn nh sau:
+ Năm 1968 máy cấy mạ thảm đầu tiên của Nhật ra đời. Nguyên tắc của
máy cấy mạ thảm là cơ cấu cấy của máy cấy là gắp xén thảm mạ ra từng miếng
nhỏ rồi rúi xuống bùn ruộng. Do mật độ cấy đợc đều trên khay, cây mạ mọc
thẳng đứng, cứng cây, đanh rảnh nên chất lợng cấy đều, mạ không bị tổn
thơng và năng suất máy cao. Năm 1971 Nhật Bản sản xuất hàng loạt máy cấy
(máy cấy ngời lái lội ruộng và máy cấy ngời ngồi lái) cung cấp cho thị trờng.
Năm 1972 đã có 11 loại máy cấy đợc thông qua Sở nghiên cứu máy nông

Việc cơ giới hoá sản xuất mạ thảm và cấy lúa ở Nhật Bản luôn đi song song
, hiện nay ở Nhật Bản có khoảng 16 hãng chế tạo máy cấy, trong đó có những
hãng lớn, nổi tiếng nh ISeiki, Kubuta, Yamaha, Honda, Misubishi với gần 60
kiểu loại khác nhau. Sản lợng máy cấy hàng năm hiện nay gần 100 ngàn chiếc.
Bảng 3: Sản lợng máy cấy hàng năm của Nhật Bản
Năm 1990 1991 1992 1993 1994
Sản lợng máy cấy
91.000 87.000 81.000 85.000 86.000
Đồng thời với việc chế tạo máy cấy các hãng đã chế tạo hệ thống công cụ
máy sản xuất mạ khay cho quy mô sản xuất nhỏ hoặc dây chuyền máy đồng bộ
cơ giới hoá sản xuất mạ tự động từ sử lý hạt giống, nghiền đất, rải đất, gieo
mộng, tới nớc, hệ thống nhà ẩm, khu ruộng nuôi mạ.v.v
Ví dụ: Dây chuyền sản xuất mạ 8R 550 do hãng Kubuta sản xuất với 6

7
công nhân phục vụ, một giờ có thể sản xuất đợc 1000 khay mạ, đủ cấy cho 4ữ5
ha ruộng . Do một số thông số của máy đã đợc tiêu chuẩn hoá trong toàn quốc
nên các máy làm mạ của hãng này có thể dùng với các máy cấy của hãng khác.
Nhậ Bản rất chú trọng đến nghiên cứu quy trình công nghệ để sản xuất ra
mạ tốt. Vì mạ là nguyên nhân chính quyết định chất lợng cấy. Vì thế họ đi sâu
nghiên cứu sinh lý phát triển của cây mạ khay: Các yếu tố ảnh hởng đến quá
trình sinh trởng và phát triển của cây mạ, tìm ra các giá trị tối u của từng yếu
tố nh tính chất c học của đất làm mạ, độ PH đất, độ mùn của đất, giống lúa,
khả năng kháng các mầm bệnh, các loại thuốc và các biện pháp phòng trừ mầm
bệnh, nhiệt độ, độ ẩm không khí, tuổi mạ mật độ gieo.v.vở từng thời kỳ của
cây mạ. Và từ đó nghiên cứu sản xuất các hệ thống thiết bị sản xuất mạ đáp ứng
đợc các yêu cầu thích hợp của chúng.
4
Xây dựng các trung tâm sản xuất mạ mang tính chất công nghiệp chất
lợng cao.Những năm gần đây Nhật Bản đã nghiên cứu và đa ra nhiều kiểu máy

Số lợng máy cấy
121 11061 42138 138405 271051
Diện tích cấy máy
218 66.334 270.000 1.041.000 922.000
Tỉ lệ diện tích cấy máy (%)
0,2 5,4 21,9 87 97
5
Bảng 5: Các loại máy cấy phổ biến ở Hàn Quốc
Hãng máy cấy Loại K/cách
hàng cấy
Khoảng cách
khóm lúa trong
một hàng
Mật độ cấy ( số
khóm/3,3m
2
)
DEAONG

DP 480 4 hàng, lội
ruộng
30 11; 14; 16 112; 85; 75
S160R 6 hàng
ngồi lái
30 9,8; 12,8; 14,7 112; 85; 75
TongYeng

PP 456 4 hàng, lội
ruộng
30

ruộng
30
11

14,6
100; 92; 85; 79;
75

III.Tình hình cơ giới hoá sản xuất mạ và máy cấy tại Đài Loan
Đài Loan cũng nh Hàn Quốc là hai nớc đi đầu áp dụng công nghệ mạ
thảm và máy cấy của Nhật Bản
Hai nớc này có tiềm năng là nớc có nền công nghiệp rất phát triển, lao
động nông nghiệp ít và ngày càng giảm nhanh, tiềm năng lao động nông nghiệp
tăng rất nhanh nên cơ giới hoá sản xuất mạ khay và cấy lúa đợc nông dân chấp
nhận và nó phát triển với tốc độ nhanh.
Việc sản xuất mạ khay ở Đài Loan chủ yếu từ các Trung tâm sản xuất mạ
khay (KCN) trong đó hầu hết các công việc đợc làm bằng máy và đồng bộ từ
khâu ủ mạ, gieo mạ đến vận chuyển mạ ra khu ruộng nuôi. Mạ đợc cung cấp
theo hợp đồng đặt trớc cho nông dân mang về có thể dùng máy riêng hoặc thuê
máy của trung tâm để cấy. Trung tâm sản xuất mạ do t nhân (thờng là do vốn
của một số gia đình) đứng ra thành lập để sản xuất kinh doanh mạ. Vì đây là một
6
công nghệ rất có hiệu quả về kinh tế và xã hội nên chính phủ đã đa ra nhiều
chính sách để khuyến khích phát triển. Ví dụ: Tổng chi phí cho việc thành lập
một trung tâm sản xuất mạ khay (cung cấp cho khoảng 150

200 ha lúa cấy )
khoảng 700.000 nhân dân tệ (NT$). Trong giai đoạn đầu t năm 1973 mỗi trung
tâm đợc nhà nớc trự cấp hoàn toàn 120.000 NT$ và đợc vay ngân hàng
350.000 NT$ với lãi suất u đãi 6,5%/năm trong thời hạn 7 năm. Số lợng các

dịch vụ cung cấp mạ và cấy cho các hộ khác nhờ đó mà nâng cao đợc hiệu quả
sử dụng của máy cấy.

miền Nam Đài Loan, khí hâụ ấm áp thời vụ cấy lại sớm hơn miền Bắc từ
20ữ30 ngày, tiền công lao động rẻ hơn, đồng thời giữa hai miền Nam, Bắc lại có
đờng cao tốc hiện đại nên các Trung tâm sản xuất mạ khay cỡ lớn ở miền Nam
sau khi hoàn thành việc sản xuất mạ cho địa phơng mình thì làm tiếp đợt mạ
nữa để cung cấp cho miền Bắc, họ chở cả máy cấy và mạ để cấy thuê cho
7
các trang trại miền Bắc.
Do sản xuất mạ kiểu công nghiệp với quy mô lớn có lợi nhuận khá cao nên
giữa các Trung tâm sản xuất mạ có sự canh tranh quyết liệt. Các máy móc thiết
bị và quy trình công nghệ sản xuất mạ luôn đợc cải tiến và hoàn thiện để tự
động hoá, mở rộng quy mô nhằm nâng cao năng suất chất lợng mạ và hạ giá
thành sản phẩm và ngoài ra các Trung tâm này còn sử dụng thời gian còn lại để
sản xuất các loại giống cây khác nh giống rau, hoa.v vv để khai thác có hiệu
quả các máy móc thiết bị và nhân công.
Máy cấy mạ khay của ĐàI Loan chủ yếu là loại máy cấy 4 hàng lội ruộng và
6 hàng ngời ngồi lái. Máy cấy đã đợc phổ biến rộng rãi trong những năm 80.
Năm 1994 Đài Loan có 80.830 máy cấy và đã cơ giới hoá hầu hết 98% diện tích
cấy lúa. Máy cấy của Đài Loan chủ yếu nhập của Nhật Bản và một số sản xuất
trong nớc. Mức độ phát triển máy cấy tăng hàng năm từ 2

5 nghìn chiếc
Bảng 7: Số lợng máy cấy hàng năm của Đài Loan
Lợng máy cấy tăng hàng năm Năm
Nhập khẩu Sản xuất tại Đài Loan Tổng
Số lợng máy cấy
tính đến nay
1982 1472 4100 5572

4 lá thì dùng để ném ra ruộng cấy. Ưu điểm chính của
mạ ném là: Bầu mạ khi ném không bị tổn thơng rễ và không chìm sâu nên đẻ
nhánh tốt, nhng có nhợc điểm: Bầu mạ sau khi ném không đồng đều, không
có hàng lối, chỗ dày chỗ tha nên ánh sáng sử dụng không đợc tốt, tỉ lệ hạt lép
nhiều rễ nhiễm sâu bệnh; Khi ném( bằng máy hoặc bằng tay) phụ thuộc rất nhiều
vào thời thiết và phải tốn công sau khi ném mạ vì phải cấy dặm nhiều nên năng
suất lao động không cao, hệ thống máy để cơ giới hoá mạ ném rất rất cồng kềnh
và phức tạp.
- Cấy lúa từ mạ khay: Là hớng phát triển chính hiện nay và nó thích hợp
với nhiều vùng ở Trung Quốc vì có nhiều u điểm và tránh đợc nhiều khuyết
điểm của lúa gieo thẳng và mạ ném nh: Rễ không bị tổn thơng khi cấy, diện
tích mạ ít, rễ thâm canh, chủ đổng động thời tiết, năng suất lúa cao, ổn định và
đặc biệt là dễ dàng cơ giới hoá cho khâu làm mạ và khâu cấy máy.
- Trung Quốc có sản xuất mạ khay là một công nghệ tiên tiến để làm mạ
thâm canh rất tin cậy. Hạ đã chế tạo các thiết bị đồng bộ để sản xuất khay mạ và
dây chuyền sản xuất mạ khay thuận tiện và dùng nhà kính che phủ để khống chế
nhiệt độ trong nhà nuôi mạ tự động. Năm 2000 số dây chuyền thiết bị sản xuất
mạ khay là 58.805 bộ và làm cho diện tích mạ lấy là 421.980 ha. Trong đó riêng
tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang (phía bắc Trong Quốc) chiếm tới 52,3% diện
tích cấy, các tỉnh khác ở phía nam Trung Quốc nh Giang Tô, Trùng Khánh, An
Huy, Triết Giang, Hồ Namcũng đang phát triển mạnh sản xuất mạ khay.
2. Tình hình cơ giới hoá cấy lúa ở từng vùng của Trung Quốc.
Trung Quốc là nớc đang phát triển cơ giới hoá cấy lúa, đến nay Trung
Quốc đã cơ giới hoá cấy lúa hơn 1 triệu ha và chiếm hơn 3% tổng diện tích trồng
lúa và có trên 50.000 ha máy cấy lúa.
Các tỉnh phía bắc chỉ cấy một sụ lúa một năm do rét đậm về mùa đông, nên
thời kỳ làm mạ và cấy lúa vào tháng 5 và tháng 6 khi nhiệt độ ẩm và nóng nên
9
làm mạ rất dễ dàng, mặt khác ở đây ruộng rộng và ngời ít, bình quân 1,5ữ4,5
ha/1hộ nên rất thuận tiện cho việc cơ giới hoá cấy lúa. Tuy các tỉnh phía bắc chỉ

đã đầu t vào nghiên cứu thử nghiệm thiết kế chế tạo mẫu máy cấy thủ công và
máy cấy có động cơ của các nớc tiên tiến nhng đến nay vẫn cha có nớc nào
phát triển đợc vẫn đang trong giai đoạn thăm dò.
VI. Nhận xét:
10
Cho đến nay ba nớc Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc đã giải quyết song cơ
giới hoá sản xuất mạ thảm và máy cấy đồng bộ. Trung Quốc đang phát triển với
tốc độ chậm.
- Các nớc này có các Trung tâm sản xuất mạ thảm áp dụng cơ giới hoá
đồng bộ từ gieo mạ, làm đất cho đến chăm sóc, vận chuyển. Ngoài ra còn sản
xuất mạ thảm theo quy mô nhỏ có tính chất gia đình ở những trang trại trồng lúa
lớn giảm chi phí vận chuyển và vận dụng sức lao động tại chỗ
- Các thiết bị làm mạ thì có nhiều hình thức khác nhau: Có thể là công cụ và
máy nhỏ lẻ cho đến thiết bị đồng bộ quy mô năng suất cao và tiện lợi cho ngời
sử dụng.
- Kỹ thuật làm mạ: Đã làm mạ đạt đợc chất lợng cao với nhiều kiểu mạ:
mạ non và mạ trung bình
- Máy cấy: Có nhiều loại máy cấy theo hàng: 2 hàng, 4 hàng, 6 hàng, 8
hàng, và có loại máy cấy ngời lái lội ruộng và loại ngời lái ngồi trên máy lái.
Máy cấy do các Công ty chế tạo máy cấy chế tạo với công suất hàng nghìn máy
cấy hàng năm và công nghệ chế tạo máy cao, chất lợng máy cấy tốt và liên tục
đợc cải tiến để ngày càng hoàn thiện hơn.
*Tóm lại:
- Máy cấy mạ thảm là máy cấy tiên tiến hiện nay cho năng suất cao và chất
lợng tốt.
- Công nghệ sản xuất mạ thảm hoàn toàn khác với công nghệ sản xuất mạ
dợc cổ truyền, dễ cơ giới hoá nhng yêu cầu kỹ thuật làm mạ cao, chi phí đầu
t ban đầu lớn.
- Để chất lợng cấy máy tốt, yêu cầu đòi hỏi phải giải quyết tốt đồng bộ
nhiều khâu từ quy hoạch đồng ruộng, làm nhuyễn phẳng đất, tới tiêu phải chủ

9 Vùng ĐB sông Cửu Long 1489.8 56.6 8489.2
Bảng 9: Diện tích, năng suất lúa theo từng vùng vụ Mùa, năm 2003
Số TT Vùng sản xuất lúa
Diện tích
(ngàn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lợng
(nghìn tấn
1 Cả nớc 2106.8 39.4 8305.7
2 Vùng ĐB sông Hồng 593.9 48.3 2871.2
3 Vùng Đông Bắc 346.9 40.3 1389.9
4 Vùng Tây bắc 104.7 29.1 304.8
5 Vùng Trung bộ 337.1 54.4 1832.8
6 Vùng Duyên Hải Nam trung bộ 127.5 34.5 440.5
7 Vùng Tây nguyên 130.2 33.9 440.8
8 Vùng Đông Nam bộ 112.0 42.3 473.6
9 Vùng ĐB sông Cửu Long 376.6 36.7 1381.3

Bảng 10: Diện tích, năng suất lúa theo từng vùng vụ Hè thu năm 2003
12
Số TT Vùng sản xuất lúa
Diện tích
(ngàn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lợng
(nghìn tấn
1 Cả nớc 2319.9 40.5 9390
2 Vùng ĐB sông Hồng 158.8

) và tốn giống (4

5 kg hạt giống lúa cho một sào lúa).
Những năm gần đây do áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, nhiều
giống lúa sớm ngắn ngày có khả năng thâm canh cho năng suất cao (nhiều giống
có thể cho năng suất gấp 2

3 lần các giống lúa trớc đây) nh giống NN8; CR-
205; xuân số 2.v.vvà thời gian cấy muộn đi, có thể vào đầu tháng 3 dơng lịch
vì thế mạ có thể gieo vào đầu tháng 2; lúc này trời đã ấm lên mạ tránh đợc rét
13
và không phải cấy mạ già, lúa sau khi cấy phát triển nhanh, đẻ nhánh nhanh ,
khoẻ và lợng lúa giống làm mạ giảm đi do cấy ít dảnh và cấy tha (30ữ40
khóm/m
2
).
Những năm rét muộn kéo dài, mạ bị chết nên nhiều nơi thiếu mạ, để bổ sung
nông dân đã áp dụng phơng pháp làm mạ nền cứng: Nông dân đi xúc bùn ở
dới ao dải lên một diện tích có mặt bằng phẳng và sau đó gieo mộng mạ đã này
mầm lên lớp bùn đó với mật độ dày khoảng 1kg/m
2
. Khi mạ đợc 2

3 lá thì súc
cả đất lẫn mạ đem đi cấy, đây cũng là hình thức cải tiến làm mạ của phơng
pháp làm mạ thảm trong khay.
Vụ mùa: Trớc đây do cha chủ động tới tiêu nên mạ khi cấy dài từ 25

30
cm để khi cấy không bị ngập và khi cấy thờng là mạ già nên phát triển chậm,

2.3. Tình hình cơ giới hoá sản xuất mạvà cấy lúa ở nớc ta.
Cho đến nay việc làm mạ và cấy lúa vẫn hầu hết bằng phơng pháp thủ công.
Việc áp dụng cơ giới hoá sản xuất mạ và cấy lúa đã đợc đặt ra từ nhiều năm nay
nhng vẫn cha có kết quả, vẫn mang tính chất nghiên cứu thăm dò.
Hiện nay ở nớc ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá phát triển mạnh
nên nhiều nơi thiếu lao động nông nghiệp và ngày công lao động ngày càng tăng
cao có nhiều nơi phải thuê lao động nông nghiệp cho việc nhổ mạ và cấy lúa lúc
thời vụ với giá 50 nghìn/sào ruộng. Nhiều nơi đã có ý định phát triển cơ giới hoá
cấy lúa nên đã nhập máy cấy cũ của Nhật Bản về để phát triển nh ở Long An và
Tỉnh An Giang. Ví nh năm 1996 Công ty TNHH Cơ điện vĩnh long- tỉnh An
Giang đã nhập 500 khay nuôi mạ và một số máy cấy 4 hàng cũ của Nhật. Lúc
đầu thử nghiệm và đợc nông dân hởng ứng vì thế Công ty đã đầu t chế tạo
khuôn ép để sản xuất khay mạ bán cho nông dân tự sản xuất mạ khay cấy tay.
Còn máy cây thì cha phát triển đợc vì mật độ cấy tha, cha phù hợp với
phơng thức cấy ở đây ( mật độ cấy máy 18ữ24 khay/m
2
).
Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch là cơ quan đã đầu vào
nghiên cứu các loại công cụ cấy và máy cấy mạ dợc từ đầu những năm 1960.
Máy cấy có động cơ cấy mạ dợc Đông Fong-2S của Trung Quốc đã đợc thử
nghiệm ở nhiều nơi ở miền Bắc nhng cũng không phát triển đợc do năng suất
cấy thấp, chất lợng cấy cha đảm bảo mạ bị sót và tổn thơng nhiều.
Tiếp thu công nghệ mới của Nhật Bản trong phơng pháp sản xuất mạ khay
bằng đất bột khô và máy cấy mạ khay Viện đã khảo nghiệm máy cấy mạ khay
4 hàng ngời lái lội ruộng YP40 của hãng YANMAR đợc nhập về từ Nhật Bản.
Kết quả thử nghiệm cho thấy: Tính chất u việt hơn hẳn của phơng pháp
làm mạ thảm và cấy máy bằng mạ thảm: Có thể áp dụng cơ giới hoá sản xuất mạ
thảm, diện tích làm mạ có thể giảm đi 20 lần, giống lúa giảm 30

40 % cây mạ

đợc đa từ Nhật sang.
Kết quả 3 năm thí nghiêm jtrình diễn cho thấy: Hệ thống máy móc và thiết bị
phát huy đợc hiệu quả , chất lợng làm việc tốt, năng suất máy cao, năng suất
lúa các vụ đều tăng so với các khu ruộng của dân xung quanh từ 30

40%.
Nhng sau đó hệ thống thiết bị này không phát triển thêm ra đợc do giá
thành thiết bị máy của Nhật quá đắt do với thu nhập của ngời nông dân lúc đó
và quy trình còn tơng đối phức tạp so với trình độ và quy hoạch đồng ruộng ở
nông thôn nớc ta.
Trong 3 năm 1992ữ1994 Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu
hoạch đã thực hiện đề tài Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất mạ thảm
của Nhật Bản trong điều kiện nớc ta tại xã Đại Sáng- Thanh trì- Hà Nội. Mục
tiêu chinh là tìm ra đợc quy trình công nghệ đơn giản và những biện pháp
chống rét hữu hiệu cho mạ để phổ biến cho vùng trồng lúa ngoại thành Hà Nội.
Trên cánh đồng trình diễn với diện tích hơn 3 mẫu ruộng của 30 hộ nông dân đã
luôn cho năng suất cao hơn 20ữ30% thậm chí có ruộng năng suất lúa tăng gần
gấp 2 lần và sau đó 70% các hộ nông dân của hợp tác xã đã áp dụng phơng
pháp làm mạ thảm này.
Năm 1998 Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã tiến
hành nghiên cứu hệ thống thiết bị và quy trình công nghệ sản xuất mạ
16
thảm và cơ giới hoá cấy lúa thích hợp với điều kiện ncớ ta.
Trên cơ sở máy cấy mạ thảm 6 hàng PL-620 của Nhật Bản, Viện đã phục hồi
và cải tiến để thu hẹp khoảng cách hàng cấy từ 30 cm xuống 25 cm và tăng mật
độ cấy lên 40 khóm/m
2
và đã tiến hành thử nghiệm tại hợp tác xã Đồng Nguyên
huyện Từ Sơn - Bắc Ninh. Kết quả cho thấy : năng suất lúa cấy máy đều tằng
hơn cấy mạ dợc từ 10ữ18%.

- Sau những kết quả bớc đầu thí nghiệm sản xuất mạ khay và cấy máy. Viện
đã xác định việc sản xuất mạ khay cho cấy tay phải đi trớc một bớc và làm
tiền đề cho việc phát triển và ứng dụng sản xuất mạ cho mạ cho cấy máy từ năm
2001 Viện đã thực hiện dự án: Xây dựng một cơ sở sản xuất mạ khay tại hợp tác
xã Đồng Nguyên- Huyện Từ Sơn Bắc Ninh và giao cho t nhân quản lý và có
thể sản xuất 200

250 mẫu lúa một vụ.
- Tại cơ sở sản xuất mạ này, Viện đã thiết kế chế tạo thành công các thiết
bị, máy để cơ giới hoá các khâu sản xuất mạ nh: 7000 khay nuôi mạ, máy
17
nghiền sàng đất 1,5 tấn giừ, máy trộn phân và đất bột 1,5 T/giờ, các loại thiết bị
và đờng ray cho dải đất , phủ đất , gieo mộng, phun nớc tới cho mạ với năng
suất 300 khay /giờ. Hệ thống bể ngâm ủ thóc giống bằng nớc ấm tự động.
Phòng ủ ấm khay mạ tự động sau khi gieo có thể xếp đợc 7000 khay mạ .
Qua thực tế sản xuất mạ tại cơ sở này cho thấy
- Hệ thống thiết bị máy để sản xuất mạ và chống rét cho mạ tuy còn đơn
giản nhng nhng đã làm việc tốt và có hiệu quả cao và đặc biệt có hiệu quả rõ
rệt khi trời rét lạnh
- Xây dựng đợc một quy trình sản xuất mạ khay thích hợp , phù hợp với
điều kiện địa phơng, chất lợng mạ tốt mạ khoẻ và có khả năng chống rét tốt
- Mỗi vụ sản xuất khoảng chục nghìn khay mạ tốt bán cho nông dân xung
quanh với gía chi phí thấp (gía bán 20

25 nghìn động/1 ssào lúa cấy ) tiết kiệm
thóc giống, lợng giống giảm 30ữ35%, năng suất lúa tăng từ 10ữ15%.
-Ngoài ra có 1 cơ sở sản xuất mạ khay bán cho nông dân của ông Nguyễn
Mạnh Hồng tại xã Hợp lý- huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá làm chủ từ năm
1998, ông đã tự bỏ vốn ra để đầu t kinh doanh và mua khay nhựa làm mạ, mỗi
vụ Ông sản xuất đợc hàng chục nghìn khay chất lợng tốt và giá rẻ để phục vụ

trọng để có chất lợng cấy máy tốt.
- Mô hình sản xuất mạ khay thành công ở Bắc Ninh (hệ thống, thiết bị máy
để cơ giới hoá sản xuất mạ thảm chống rét cho mạ, quy trình nông học thích
hợp) là cơ sở cho việc phát triển nhân rộng ra nhiều nơi, làm tiền đề để sản xuất
mạ tốt, sạch sâu bệnh, không bị nấm mốc khi trời rét cho máy cấy sau này
Hà nội ngày tháng năm 2005
Trủ trì đề tài KC-07.25
TS. Lê Sỹ Hùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status