BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN HỌC KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP CÁ NHÂN
MÔN HỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Những người theo phái trọng thương cho rằng nắm giữ vàng bạc, kim loại quý là rất quan
trọng đối với xây dựng và bảo vệ đất nước; và quốc gia muốn trở nên giàu có, chính phủ phải
tăng cường điều tiết nền kinh tế và bảo hộ thương mại. Liên hệ thực tiễn hiện nay của Việt
nam.

Hà nội, tháng 03 năm 2010
Trường phái trọng thương ra đời ở Tây Âu vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu
thế kỷ XVI, là thời kỳ mà sản xuất nông nghiệp, tự cung tự cấp đang là phổ biến
nhưng đã bắt đầu manh nha phương thức sản xuất TBCN. Lúc này, mậu dịch bắt
đầu phát triển do người ta đã khám phá ra thêm nhiều vùng đất mới, giao thương
mở rộng ra các vùng, các khu vực, các châu lục trên thế giới. Người ta thu được
nhiều của cải từ việc khai thác, buôn bán với các vùng đất mới giàu có tài nguyên,
kim loại quý. Đồng thời, sự gia tăng dân số cũng tạo nên thị trường lao động, thị
trường tiêu thụ thúc đẩy nhu cầu sản xuất và mậu dịch, làm tăng vai trò của mậu
dịch. Bên cạnh đó, con người cũng có thêm nhiều hiểu biết về thế giới tự nhiên và
xã hội xung quanh do sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất.
Doanh lợi từ khu vực sản xuất công nghiệp và mậu dịch đem lại cao hơn nhiều so
với khu vực nông nghiệp dẫn đến vai trò của thương mại và mậu dịch được đánh
giá cao hơn. Trong bối cảnh như vậy, nhiều người đã biện hộ và tán đồng cho một
trường phái kinh tế triết học được gọi là chủ nghĩa trọng thương.
Những người theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng một quốc gia giàu có
phải là quốc gia có nhiều tiền bạc chứ không phải là nguyên liệu và hàng hóa; chỉ
có tiền mới là tài sản quốc gia. Ở thời kỳ này, do tiền giấy chưa được sử dụng
nhiều nên tiền ở đây chính là vàng bạc, kim loại quý. Họ cho rằng vàng bạc là
những quý kim bền nên có thể làm phương tiện tích trữ và bảo tồn giá trị. Vàng bạc
được coi trọng đến mức mà, nếu quốc gia nào không có mỏ vàng, mỏ bạc cần
thương mại quốc tế để đổi lấy quý kim. Và rằng, con đường để quốc gia trở thành

giả trọng thương thành những nhà kinh tế dân tộc chủ nghĩa. Những hạn chế về tư
tưởng này đã được khắc phục bởi các nhà kinh tế khác như Adam Smith, David
Ricardo vv… khi mà họ đưa được các lý thuyết về lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh,
lợi thế tương đối vv… khẳng định rằng ngoại thương đem lại lợi ích cho tất cả các
3
bên tham gia. Các bên đều được lợi trong việc tập trung sản xuất và xuất khẩu các
mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu những mặt hàng đòi hỏi những nguồn lực khan
hiếm. Kết quả là, trên cả bình diện quốc tế và quốc gia, hàng hóa được sản xuất
được nhiều hơn, các nguồn lực được phân bổ tối ưu hơn, phân công lao động xã hội
hợp lý hơn.
Tuy nhiên quan điểm cho rằng, chính phủ phải tăng cường điều tiết nền kinh
tế và bảo hộ thương mại vẫn được áp dụng rộng rãi. Để bảo hộ các ngành sản xuất
còn non trẻ trong nước, chính phủ các nước thiết lập các hàng rào thuế quan, dùng
các chính sách, biện pháp hạn chế nhập khẩu, tạo điều kiện, nâng cao năng lực cạnh
tranh của các nhà sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, các chính phủ cũng thực hiện
các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu; khắc phục những khiếm khuyết của thị trường.
Đối với Việt nam hiện nay, trong thời điểm nước ta ngày càng hội nhập sâu
rộng thì những quan điểm của chủ nghĩa trọng thương cũng bộc lộ những điểm đã
lỗi thời, nhưng có những điểm vẫn còn mang tính thời sự như đã phân tích ở trên.
Lịch sử thế giới đã chứng minh không có quốc gia nào có thể phát triển nếu
bị cô lập hoặc thực hiện các chính sách tự cung tự cấp; ngược lại các quốc gia phát
triển là những quốc gia có kinh tế đối ngoại phát triển, biết áp dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật để hiện đại hóa nền sản xuất và biết khai thác nguồn lực bên
ngoài để phát huy các nguồn lực trong nước. Sự phụ thuộc giữa các quốc gia bắt
nguồn từ các yếu tố khách quan như sự phân bố không đều tài nguyên thiên nhiên,
sự phát triển của lực lượng sản xuất và cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên
thế giới. Nhà nước Việt nam đã hoàn toàn nhận thức được vai trò của thương mại
quốc tế đối với công cuộc xây dựng đất nước. Điều này có thể thấy rõ nhất ở văn
kiện Đại hội Đảng CSVN – thể hiện chủ trương, đường lối ở mức cao nhất. Các
văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X đều cho rằng phát triển kinh tế đối ngoại là

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status