LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan số liệu trong chuyên đề này là chính xác và có nguồn
gốc rõ ràng.
Nội dung chuyền đề: “Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội (trực thuộc
Cục Hải quan Hà Nội) với công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu qua
đường bưu chính” được em viết trong quá trình thực tập tại Tổ Kiểm soát
Phòng chống Buôn lậu Ma túy (thuộc Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội)
dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ Nguyễn Thị Liên Hương (trường Đại học Kinh
tế Quốc dân) và không sao chép lại từ bất kì luận văn hay chuyên đề nào
khác.
SV: Lê Hoài Nam Hải quan 48
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................ 1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI CỤC
HẢI QUAN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI .......................................................... 3
1. Sơ lược về cục Hải quan Hà Nội (Đơn vị quản lý của Chi cục Hải
quan Bưu điện Hà Nội): .............................................................................. 3
2. Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội: ...................................................... 4
2.1 Quá trình hình thành của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội: ........... 4
2.2 Địa bàn quản lý của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội: .................. 5
2.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chi cục Hải quan Bưu điện
Hà Nội: ........................................................................................................ 5
2.4 Cơ cấu tổ chức của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội: .................... 7
2.5 Hoạt động của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội trong những năm
gần đây: ........................................................................................................ 9
2.5.1 Về công tác giám sát quản lý: ..................................................... 9
2.5.2 Về công tác quản lý thu thuế xuất, nhập khẩu: .......................... 12
2.5.3 Về công tác kiểm tra phúc tập hồ sơ và chống buôn lậu, gian lận
thương mại, kiểm soát phòng chống ma túy và xử lý: ........................ 13
2.5.4 Công tác cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa Hải quan :
........................................................................................................... 14
6. Một số hạn chế: ...................................................................................... 37
SV: Lê Hoài Nam Hải quan 48
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG BUÔN
LẬU QUA ĐƯỜNG BƯU CHÍNH TẠI CHI CỤC HẢI QUAN
BƯU ĐIỆN HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI ............................. 40
1. Định hướng và chính sách của ngành Hải quan về công tác phòng
chống buôn lậu và gian lận thương mại: ................................................. 40
2. Một số biện pháp phòng chống buôn lậu qua đường bưu chính đã
được áp dụng tại Chi cục Hải quan bưu điện Hà Nội: ........................... 43
2.1 Biện pháp công khai: ........................................................................... 43
2.2 Biện pháp bí mật: ................................................................................. 43
3. Một số giải pháp phòng chống buôn lậu (do tác giả đề xuất): ........... 44
4. Một số kiến nghị: ................................................................................... 46
KẾT LUẬN ........................................................................................... 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 51
SV: Lê Hoài Nam Hải quan 48
LỜI NÓI ĐẦU
Phòng chống buôn lậu là nhiệm vụ lớn, quan trọng đặt ra cho đất nước
nói chung và ngành Hải quan nói riêng.
Ngày nay, trước xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ, việc mở rộng hợp tác,
giao thương giữa các nước trở nên tất yếu, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Từ
khi bắt đầu thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế sau đại hội Đảng lần thứ IX,
chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng phong phú, lưu lượng
xuất nhập khẩu gia tăng gây áp lực khó khăn lên các ngành chức năng tại các
cửa khẩu. Trong khi đó, các phần tử buôn lậu, gian lận thương mại lại luôn
tìm mọi thủ đoạn để buôn bán gian lận, kiếm lợi bất hợp pháp khiến cho công
tác quản lý Hải quan gặp trở ngại rất lớn.
Một trong số những trở ngại đó là làm sao quản lý tốt hàng hóa xuất
nhập khẩu qua đường bưu điện. Vì đã từ lâu, các đối tượng buôn lậu coi bưu
điện là phương thức vận chuyển hàng trái phép an toàn nhất bởi dễ lợi dụng
v
ụ
-
Q
u
ả
n
t
r
ị
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI CỤC
HẢI QUAN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI
1. Sơ lược về cục Hải quan Hà Nội (Đơn vị quản lý của Chi cục Hải quan
Bưu điện Hà Nội):
Cục Hải quan Hà Nội là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, thuộc Bộ
Tài chính, có chức năng tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước về Hải
quan và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động xuất nhập
khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa trên địa bàn Hà Nội và các
tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình. Hiện nay, Cục có trụ
sở chính tại đường Nguyễn Phong Sắc, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy,
Hà Nội.
Về bộ máy lãnh đạo, Cục có 6 lãnh đạo, trong đó có 1 cục trưởng và 5
cục phó.
Về tổ chức, Cục hải quan thành phố Hà Nội có 11 phòng và tương
đương: Phòng Tổ chức Cán bộ - Đào tạo; Phòng Tài vụ - Quản trị; Phòng
Nghiệp vụ; Phòng Tham mưu xử lý vi phạm và thu thập, xử lý thông tin
r
ị
quan Hà Tây ; Chi cục Hải quan Việt Trì; Chi cục Hải quan Bắc Ninh ; Chi
cục Hải quan Vĩnh Phúc
Sơ đồ 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CỤC HẢI QUAN HÀ NỘI
.
2.1.
2. Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội:
2.1 Quá trình hình thành của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội:
Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội tiền thân là Trạm Hải quan Bưu điện
Hà Nội trực thuộc Sở Hải quan Hà Nội, được thành lập theo nghị định số 34
CT/KB/NĐ của Bộ trưởng Bộ Công Thương ngày 2/4/1955. Là một bộ phận
của Sở Hải quan Hà Nội, Trạm Hải quan Bưu điện Hà Nội nhận nhiệm vụ
quản lý về Hải quan trên tuyến bưu chính trong khu vực Hà Nội và các vùng
lân cận. Trải qua những năm tháng đấu tranh chống Mỹ cam go, Sở Hải quan
Hà Nội nói chung và Trạm Hải quan Bưu điện Hà Nội nói riêng vẫn không
ngừng vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Ngày 2/6/1981, Bộ ngoại thương ra quyết định số 583/BT/TCCB chuyển
tên Trạm Hải quan Bưu điện Hà Nội thành Chi cục Hải quan Bưu điện Hà
Nội trực thuộc cục Hải quan Hà Nội.
SV: Lê Hoài Nam 4 Hải quan 48
Phó cục
trưởng
Cục trưởng
Phó cục
trưởng
Phó cục
trưởng
Phó cục
trưởng
a
̀
o
t
a
̣
o
V
ă
n
p
h
ò
n
g
P
h
ò
n
g
T
à
i
v
ụ
o
̀
n
g
T
h
a
m
m
ư
u
t
h
u
t
h
ậ
p
,
x
ử
l
ý
́
T
r
u
n
g
t
â
m
d
ư
̃
l
i
ê
̣
u
v
a
̀
C
N
T
T
P
h
k
i
ê
̉
m
s
o
a
́
t
h
a
̉
i
q
u
a
n
Đ
ộ
i
k
i
ể
m
k
i
ể
m
t
r
a
s
a
u
t
h
ô
n
g
q
u
a
n
2.2 Địa bàn quản lý của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội:
Do chức năng quản lý đặc thù của các Chi cục Hải quan Bưu điện nói
chung là quản lý Hải quan đối với toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu bưu
phẩm, bưu kiện và cả hàng chuyển phát nhanh nên địa bàn quản lý của Chi
cục Hải quan Bưu điện Hà Nội tương đối rộng. Vị trí công tác nằm rải rác
trong thành phố và tương đối xa nơi làm việc của lãnh đạo. Cụ thể:
1. Quyết định biện pháp kiểm tra, kiểm soát, giám sát, quản lý về Hải
quan đối với các loại bưu phẩm, bưu kiện xuất, nhập khẩu phù hợp với từng
đối tượng, đảm bảo đúng nguyên tắc và chế độ quản lý của Ngành, của Nhà
nước về Hải quan.
2. Đề xuất, xử lý hành chính các vi phạm pháp luật về Hải quan, về thuế
của các tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo đúng quy
định của pháp luật.
3. Tuyên truyền, phổ biến pháp Luật Hải quan và các chế độ chính sách
khác có liên quan đến các đối tượng làm thủ tục xuất nhập khẩu biết và thực
hiện.
4. Bồi dưỡng, giáo dục và đề xuất thực hiện việc bố trí, sắp xếp, bổ
nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức trong đơn vị theo Quy định
phân cấp quản lý cán bộ, công chức của Cục Hải quan Hà Nội, không ngừng
nâng cao phẩm chất, năng lực để hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
SV: Lê Hoài Nam 6 Hải quan 48
5. Chủ động tổ chức các đợt tập huấn, nghiên cứu rút kinh nghiệm về
công tác nghiệp vụ để nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức trong đơn vị.
6. Bảo quản, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài sản, phương tiện kỹ
thuật, nghiệp vụ được giao đúng mục đích, đúng quy định.
7. Được sử dụng con dấu riêng để giải quyết công việc hành chính,
nghiệp vụ của Chi cục Hải quan theo đúng quy định.
8. Phối kết hợp với các đơn vị để giải quyết các công việc có liên quan.
2.4 Cơ cấu tổ chức của Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội:
Về bộ máy lãnh đạo, Chi cục có 1 Chi cục trưởng và 3 Chi cục phó. Chi
cục trưởng chịu trách nhiệm trước Cục trưởng Cục Hải quan Thành phố Hà
Nội về toàn bộ hoạt động của Chi cục. Các chi cục phó chịu trách nhiệm trước
Chi cục trưởng về các nhiệm vụ được giao bởi Chi cục trưởng.
Về cơ cấu tổ chức, Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội hiện nay có 4 tổ ,
đội:
- Đội Tổng hợp
kết quả sau:
2.5.1 Về công tác giám sát quản lý:
Chi cục đã thường xuyên chủ động tổ chức phổ biến, tuyên truyền và
hướng dẫn doanh nghiệp nắm bắt được Luật Hải quan, quy trình thủ tục hải
SV: Lê Hoài Nam 9 Hải quan 48
Chi cục trưởng
Chi cục phó Chi cục phóChi cục phó
Đội thủ tục
hàng hóa
XNK
chuyển
phát nhanh
Đội thủ tục
hàng hóa
XNK liên
tỉnh
Đội tổng
hợp
Tổ kiểm
soát, phòng
chống ma
túy
quan, luôn bám sát các quy định của Nhà nước, của Bộ tài chính và hướng
dẫn của ngành Hải quan, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
Trong quá trình thực hiện Luật Hải quan, quy trình thủ tục hải quan, Chi
cục đã kịp thời phát hiện các vướng mắc, bất cập, báo cáo về cục cho ý kiến
chỉ đạo và phương hướng giải quyết kịp thời.
Năm 2007, Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội đã làm thủ tục cho
27.304 lượt tờ khai hàng hóa XNK với tổng trọng lượng hàng XNK là
3.350.334kg và tổng kim ngạch XNK đạt 84.459.996 USD.
12.992.414
Nhập
khẩu
21,07
7
25,62
0
26.80
6
1,805,45
1
959,59
5
1.587.38
6
70,050,62
1
114,136,71
8
115.801.739
Tổng
27,3
94
29,64
1
29.89
1
3,350,33
3,350,33
4
1,693,17
3
2.120.44
7
85,459,9
96
124,491,73
1
128.794.15
3
I.Mậu
dịch
9,93
4
7,61
3
10.
016
908,52
0
416,34
2
242.09
6
68,616,20
5
103,247,80
2
187,64
7
411,11
6
232.09
9
60,748,62
5
101,703,71
4
90.622.23
0
II. Phi
mậu
dịch
17,46
0
22,02
8
19.8
74
2,441,81
4
1,276,83
1
1.878.35
0
16,843,79
1
21,243,92
4
548,47
9
1.354.68
7
9,301,99
6
12,433,00
4
25.179.50
9
(Nguồn: Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy, số lượng hàng mậu dịch và phi mậu
dịch xuất nhập khẩu có xu hướng tăng lên dù mức tăng không đồng nhất và
đôi khi giảm. Đây là xu thế tất yếu vì Việt Nam đang trên con đường công
nghiệp hóa, giao thương buôn bán được đẩy mạnh.
Bên cạnh đó, trọng lượng hàng xuất nhập khẩu cả mậu dịch và phi mậu
dịch giảm mạnh: Năm 2009 giảm 37% so với nắm 2007. Nhưng ngược lại, trị
giá hàng hóa lại tăng lên: Năm 2009 tăng 150% so với năm 2007, phản ánh
đặc thù hang hóa xuất nhập khẩu của ngành Bưu điện: Trọng lượng thấp
nhưng giá trị cao.
Số lượng tờ khai xuất khẩu có xu hướng giảm qua từng năm. Đáng chú ý
số lượng tờ khai loại hình xuất khẩu mậu dịch năm 2009 chỉ bằng 10% so với
SV: Lê Hoài Nam 11 Hải quan 48
năm 2007; số lượng tờ khai loại hình xuất khẩu phi mậu dịch năm 2009 bằng
82% so với năm 2007 và bằng 73% so với năm 2008. Trong khi đó số lượng
tờ khai nhập khẩu lại tăng mạnh, đặc biệt là hàng phi mậu dịch. Năm 2009 số
lượng tờ khai nhập khẩu hang phi mậu dịch là 17.150 tăng 121% so với năm
2007 và gần gấp đôi số lượng tờ khai nhập khẩu hàng mậu dịch cùng năm
2009. Tuy nhiên về khối lượng hàng hóa, hàng nhập khẩu phi mậu dịch chỉ
2.5.3 Về công tác kiểm tra phúc tập hồ sơ và chống buôn lậu, gian lận
thương mại, kiểm soát phòng chống ma túy và xử lý:
Quy trình kiểm tra phúc tập hồ sơ của Tổng cục Hải quan được thực hiện
nghiêm túc: 100% số tờ khai Hải quan được kiểm tra, phúc tập.
Năm 2007 đã kiểm tra phúc tập được 9.934 bộ tờ khai XNK mậu dịch
các loại hình và 17.460 bộ tờ khai XNK phi mậu dịch. Trong quá trình phúc
tập đã phát hiện nhiều trường hợp áp sai mã và thuế suất nhập, đã tiến hành
tính thuế và truy thu 31.755.000 đồng.
Năm 2008 đã kiểm tra phúc tập được 7613 bộ tờ khai XNK mậu dịch các
loại hình và 22.028 bộ tờ khai XNK phi mậu dịch. Trong quá trình phúc tập
đã phát hiện nhiều trường hợp áp sai mã và thuế suất nhập, đã tiến hành tính
thuế và truy thu 2.93 tỉ đồng.
Tính đến hết ngày 15/10/2009 đã kiểm tra phúc tập được 28.397/29.891
bộ tờ khai các loại, đạt 95% tổng số hồ sơ phải phúc tập, ra 148 quyết định
truy thu thuế với tổng số tiền là 474.304.000 đồng.
Trong 3 năm 2007-2009, Chi cục Hải quan Bưu điện Hà Nội đã lập biên
bản và ra quyết định xử lý 85 trường hợp vi phạm hành chính về Hải quan với
tổng số tiền phạt là 125.702.000 đồng. Thực hiện hoàn thuế cho 50 trường
SV: Lê Hoài Nam 13 Hải quan 48
hợp, với số tiền là 408.729..000 đồng, bảo đảm đúng quy định của Luật quản
lý thuế.
Đầu năm 2010, Chi cục đã phát hiện và đang trong quá trình xử lý 01
trường hợp nhập khẩu 420 g cần sa.
2.5.4 Công tác cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa Hải quan :
Chi cục Hải quan Hải quan Bưu điện Hà Nội thực hiện nghiêm túc cơ
chế hành chính một cửa. Tổ giải quyết vướng mắc, hướng dẫn thủ tục hoạt
động có hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp
những vấn đề thuộc thẩm quyền. Chi cục báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp
trên giải quết kịp thời những phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền trong quá
trình thực hiên chức năng quản lý Nhà nước về hải quan.
không thể tránh khỏi những hành vi làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã
hội cũng như các quốc gia vì mục đích lợi nhuận. Trong mối quan hệ đa
phương đó, sự xâm nhập của các yếu tố tiêu cực có tính chất quốc tế là không
thể tránh được, và một khi có sự gian lận trong hoạt động buôn bán xuất nhập
khẩu thì tình trạng tham nhũng, tiêu cực vẫn còn xảy ra và phát triển. Vì vậy,
các nước đều phải có luật pháp và các cơ quan chức năng ngăn ngừa, phòng
chống các tệ nạn trong lĩnh vực thương mại.
Công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại là một
nhiệm vụ quan trọng của ngành Hải quan, được tiến hành bằng các biện pháp
nghiệp vụ, thực hiện đúng theo chính sách pháp luật vừa tạo điều kiện thuận
SV: Lê Hoài Nam 15 Hải quan 48
lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, đồng thời phải quản lý chặt
chẽ, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Chức năng quản lý Nhà nước về hải quan thể hiện ở hai mặt: quản lý
bằng chính sách pháp luật và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát. Nhà nước tạo
điều kiện thuận lợi đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập
cảnh qua biên giới trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế
có liên quan đến hoạt động hải quan mà Việt Nam ký kết và công nhận.
Hải quan Việt Nam, khi tiến hành kiểm tra, giám sát, kiểm soát, có
nhiệm vụ tổ chức đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng
hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới; áp dụng các biện pháp phát hiện,
ngăn chặn, điều tra, xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật.
Do đó, việc tăng cường giao lưu để hợp tác, trao dổi là một đòi hỏi tất
yếu để hòa nhập với nền kinh tế thế giới.
2.7 Mối quan hệ công tác của Chi cục Hải quan Bưu điện với các đơn vị
khác trên mặt trận chống buôn lậu:
Trước tình hình hoạt động buôn lậu ngày một tinh vi, phức tạp, hình
thành những đường dây, những tổ chức lớn móc ngoặc với nhau đòi hỏi lực
lượng Hải quan cũng phải mở rộng mối quan hệ công tác của mình mới hoàn
thành tốt được nhiệm vụ canh giữ “biên giới thương mại” cho đất nước.
Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn
hóa”.
Buôn lậu có thể được chia ra thành :
- Buôn lậu hàng hóa
- Buôn lậu vũ khí
- Buôn lậu người (chủ yếu là trẻ em và phụ nữ)
Các hình thức buôn lậu bao gồm:
- Tránh sự kiểm tra của cơ quan thanh tra tại biên giới bằng cách giấu
hàng hóa trong các phương tiện cá nhân
- Hàng hóa được giấu trong chính cơ thể của người đi buôn hoặc giấu
trong các hàng hóa khác nhằm che mắt cơ quan Hải quan tại biên giới
- Người đi buôn lậu có sự kết hợp với các quan chức Hải quan để đưa
hàng hóa qua biên giới một cách hợp pháp.
Hàng nhập lậu thuộc phạm vi áp dụng của Điều 16 Nghị định số
175/2004/NĐ - CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thương mại (sau đây gọi tắt là Nghị định số 175) được
xác định căn cứ vào quy định tại điểm 1 mục II Thông tư liên tịch số
SV: Lê Hoài Nam 18 Hải quan 48
07/1997/TTLT – BTM – BNV – BTC – TCHQ ngày 21/10/1997 của Bộ
Thương mại – Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ (nay là Công an) và Tổng cục Hải
quan hướng dẫn thực hiện việc chống buôn lậu theo Nghị quyết 85/CP- của
Chính phủ và tổ chức phối hợp lực lượng chống buôn lậu, gồm 4 loại hàng
hoá sau đây:
- Hàng cấm nhập khẩu theo quy định hiện hành
- Hàng nhập khẩu không qua cửa khẩu quy định, không khai báo hải
quan.
- Hàng nhập khẩu bày bán tại các cửa hàng, ở trong kho, vận chuyển trên
đường không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc nhập khẩu hợp
pháp hoặc sử dụng chứng từ hoá đơn không hợp lệ theo quy định của Bộ Tài
chính.
kiểm tra, nộp thuế) và công khai, hợp pháp đưa hàng hóa qua cửa khẩu.
nhưng lợi dụng những kẽ hở để khai báo gian dối như về mẫu mã,về số lượng,
về chất lượng...nhằm đạt được kết quả cuối cùng là gian lận về mức thuế phải
nộp. Hành vi này có khi chỉ là thủ đoạn riêng của chủ hàng khi có sự tiếp tay
của một số nhân viên Hải quan biến chất.
- Buôn lậu là hành vi lén lút đưa hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới
trốn tránh hoặc chống lại sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng cách
không đi qua cửa khẩu, hoặc tuy có đi qua cửa khẩu nhưng dùng thủ đoạn bí
mật bất hợp pháp như trà trộn hàng lậu trong các hàng hóa khác có làm thủ
SV: Lê Hoài Nam 20 Hải quan 48
tục, cấu tạo chỗ bí mật để giấu hàng lậu...để che dấu hàng hóa, trốn tránh,
chống lại sự kiểm tra của Hải quan, nhằm đạt được lợi ích cuối cùng là thu
được lợi nhuận thặng dư siêu ngạch. Hành vi buôn lậu có khi chỉ có giá trị
nhỏ, nhưng hầu hết phải do những tổ chức bất hợp pháp có đường dây bất hợp
pháp qua biên giới, có khi xuyên quốc gia thực hiện.
Vấn đề đặt ra là ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hai khái
niệm này chưa được phân định rõ ràng. Nhiều nước coi buôn lậu cũng là hành
vi gian lận thương mại. Tổ chức Hải quan Thế giới tại hội nghị lần thứ 5 về
chống gian lận thương mại đã xếp buôn lậu vào một trong những hình thức
gian lận thương mại nhưng coi đó là loại hình gian lận thương mại đặc biệt
nguy hiểm.
Ở Việt Nam hiện nay, buôn lậu được coi là hành vi vi phạm pháp luật,
không đồng nhất với gian lận thương mại.
Theo Bộ Luật hình sự 2000 quy định tại điều 153 và điều 154, buôn lậu
và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, là hành vi vi phạm
pháp luật hình sự và bị coi là phạm tội. Hai tội danh này tương ứng với hai
khung hình phạt khác nhau. Tội buôn lậu (Điều 153) hình phạt thấp nhất là
phạt tiền 10 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng, cao nhất là tử hình. Tội vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154) hình phạt thấp
nhất là phạt tiền từ 5 triệu đồng, cải tạo không giam giữ 2 năm hoặc vào tù 3