LUẬN VĂN: Đấu tranh phòng chống buôn lậu của Cục Hải quan Bình Định - thực trạng và giải pháp doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Đấu tranh phòng chống buôn lậu của
Cục Hải quan Bình Định - thực trạng
và giải pháp

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn buôn lậu, gian lận thương mại ở nước ta trong những năm gần đây diễn

khăn cho công tác phòng chống.
Để nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những giải pháp hữu hiệu khắc
phục tình trạng buôn lậu trên địa bàn Bình Định, tác giả chọn đề tài: "Đấu tranh phòng
chống buôn lậu của Cục Hải quan Bình Định - thực trạng và giải pháp" nhằm đáp ứng
yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn đang đặt ra ở Bình Định hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đấu tranh phòng chống buôn lậu là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước
rất quan tâm, đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác này; trong lĩnh vực khoa học
pháp lý đã có không ít công trình khoa học của các nhóm tác giả, cá nhân được công bố;
có liên quan đến vấn đề đấu tranh phòng chống buôn lậu, đáng lưu ý các công trình nghiên
cứu dưới đây:
Vũ Ngọc Anh, Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Hải quan ở nước ta hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 1996; PTS. Lê Thanh Bình, Chống buôn lậu và gian lận
thương mại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; ThS. Lê Văn Tới, Buôn lậu và chống
buôn lậu, nhận diện và giải pháp, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; GS.TS Nguyễn
Xuân Yêm - PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Tội phạm kinh tế thời mở cửa, Nxb
Công an nhân dân (tài liệu lưu hành nội bộ), 2003; TS. Đỗ Đình Hòa, Tổ chức hoạt động
điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 2003.
Các công trình, bài viết trên đây tập trung chủ yếu nghiên cứu và làm rõ về mặt lý
luận cũng như thực tiễn những vấn đề về buôn lậu trên phương diện cả nước, nhưng cho
đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn dưới
giác độ khoa học luật học về đấu tranh phòng, chống buôn lậu của Cục HQBĐ.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu của Cục
HQBĐ hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:
- Khái quát những vấn đề lý luận về buôn lậu và đấu tranh chống buôn lậu.

- Đề tài này góp phần cùng với Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng Cục Hải quan)
xây dựng phương án phòng chống buôn lậu cho toàn ngành; đồng thời làm cơ sở để vận
dụng chỉ đạo cho các Cục Hải quan địa phương về đấu tranh phòng chống buôn lậu trong
tình hình mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương, 9 tiết. Chương 1
Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về công tác đấu tranh Phòng chống buôn lậu của
ngành hải quan

1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về buôn lậu
1.1.1. Khái niệm buôn lậu
Buôn lậu là hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện cùng với hàng rào thuế quan, nó tồn
tại phát triển trong hoạt động thương mại của xã hội loài người.
Là một hiện tượng kinh tế - xã hội tiêu cực, buôn lậu xuất hiện cùng với sự ra đời
của bộ máy nhà nước và hàng rào thuế quan quản lý hoạt động thương mại ở mỗi quốc gia;
là hoạt động kinh tế bất hợp pháp, mục đích là làm sao đạt được lợi nhuận cao nhất.
Việc nhìn nhận đánh giá hiện tượng buôn lậu ở từng giai đoạn lịch sử và mỗi quốc
gia cũng khác nhau.
ở Việt Nam thuật ngữ "buôn lậu" đã có từ lâu trong dân gian và đã được các nhà
ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: "buôn lậu là các hành vi buôn bán hàng trốn thuế
hoặc hàng quốc cấm" hoặc là "mua bán những mặt hàng cấm và trốn đóng thuế theo quy
định" có nghĩa là trong kinh doanh buôn bán, nếu có các hành vi trốn lậu, gian lận thì
đều được xem là buôn lậu. Quan niệm trên đây đến nay vẫn tồn tại phổ biến trong nhận
thức của nhiều người Việt Nam. Nói về buôn lậu người ta nghĩ ngay đến việc buôn bán
hàng quốc cấm, trốn lậu thuế, buôn bán không trong sáng, buôn gian bán lậu.
Khác với nhận thức trên, trong Từ điển tiếng Anh, buôn lậu (smuggling) được giải

ngăn chặn những hàng hóa nhập khẩu có ảnh hưởng xấu đến xã hội như ma túy, chất nổ
Đối với các nước nghèo, sức sản xuất thấp, giá cả hàng hóa cao, nhu cầu tiêu dùng
của xã hội lớn thì buôn lậu và chống buôn lậu là vấn đề hết sức nan giải.
Xuất phát từ những yếu tố khách quan của hoạt động buôn lậu, cũng như thực tiễn
tình hình và yêu cầu đấu tranh chống buôn lậu ở Việt Nam, ta có thể đưa ra khái niệm

buôn lậu như sau: Buôn lậu là buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam,
ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc các vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa.
Theo khái niệm trên buôn lậu có phạm trù điều chỉnh rộng hơn nhiều so với tội
buôn lậu. Sự khác nhau đó không phải là về hành vi mà là ở chỗ hậu quả gây ra cho xã hội
của hành vi "buôn lậu trái phép qua biên giới" như thế nào, tức là nếu hành vi "buôn lậu
trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quí, đá quý hoặc các vật
phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa" chưa hội tụ đủ các điều kiện pháp luật hình sự quy
định (hậu quả gây ra cho xã hội chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) thì xử lý
hành chính. Ngược lại, hành vi đó xâm hại các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ
thì được điều chỉnh tại Điều 153 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Một số vấn đề đặt ra ở đây là phân biệt giữa hành vi buôn lậu và hành vi gian lận
thương mại.
Gian lận thương mại là hành vi gian lận thể hiện thông qua mua bán, trao đổi, dịch
vụ hàng hóa; mục đích của hành vi này nhằm thu lợi bất chính. Cụ thể đối tượng lừa dối cơ
quan chức năng nhà nước để thực hiện hành vi gian lận của mình, như hàng hóa nhiều khai
ít, ít khai nhiều hàng có thuế xuất cao khai thấp, khai không đúng chủng loại nhằm để
trốn thuế.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống gian lận thương mại tại Brúc-xen (Bỉ) các
nước thành viên tổ chức WCO đã đưa ra khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực hải
quan như sau:
Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm pháp
luật hải quan và các quy định liên quan khác nhằm đạt mục đích trốn tránh việc
nộp thuế hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa
trong thương mại; tiếp nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa

thương mại, trong khi đó pháp luật Việt Nam định nghĩa buôn lậu và gian lận thương mại
riêng biệt, đồng thời coi gian lận thương mại là một dạng của buôn lậu. Việc không thống
nhất này gây rất khó khăn trong việc giải quyết vi phạm phát sinh trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.

Từ nhận thức về buôn lậu và gian lận thương mại ta có thể phân biệt hai hành vi
này như sau:
Mặc dù mục đích, hậu quả của hai hành vi khá giống nhau nhưng nội dung và hình
thức, thủ đoạn của buôn lậu và gian lận thương mại hoàn toàn khác nhau. Trong khi buôn
lậu thu lợi bằng cách trốn tránh khai báo, có khi lén lút vận chuyển trái phép hàng hóa qua
biên giới để trốn thuế, thì gian lận thương mại là hành vi công khai xuất trình hồ sơ và làm
các thủ tục hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) trước sự chứng kiến của cơ quan quản lý.
Bản chất của buôn lậu là mạo hiểm, sử dụng mọi thủ đoạn che giấu và dùng các
phương tiện cần thiết để đưa hàng qua biên giới; còn bản chất của gian lận thương mại là lợi
dụng chính sách, luật lệ của Nhà nước để hợp thức hóa trái phép hàng hóa XNK nhằm thu lợi
bất chính. Biểu hiện của hoạt động buôn lậu thường là lén lút, thậm chí liều lĩnh; còn gian
lận thương mại thường biểu hiện sự ngoan ngoãn, tuân thủ các quy định, nhưng bên trong che
giấu hành vi bất chính. Vì vậy cuộc đấu tranh chống gian lận thương mại thực sự là cuộc đấu
trí, đấu lực cam go, giữa các cơ quan quản lý nhà nước và những kẻ bất chính.
Dấu hiệu để nhận biết buôn lậu là hành vi trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ
quan chức năng, không đăng ký việc buôn bán với cơ quan nhà nước; còn gian lận thương
mại là hành vi gian dối trong khai báo làm thủ tục hải quan để tránh việc kiểm tra, kiểm
soát của Hải quan; công khai vận chuyển hàng hóa XNK qua cửa khẩu, do đó nhận biết
khó khăn hơn như núp bóng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước, do vậy cần phải
kiểm tra cụ thể, tỉ mỉ (cân, đong, đo, đếm, kiểm tra kỹ hồ sơ…) mới phát hiện được.
Xử lý hành vi buôn lậu được qui định cụ thể trong Luật hình sự, Luật Hải quan,
các văn bản pháp luật khác; còn hành vi gian lận thương mại không những khó khăn trong
nhận biết mà còn phức tạp khi xử lý vì hiện nay chưa có văn bản của cấp có thẩm quyền
hướng dẫn thống nhất.
Thực tế đặt ra đòi hỏi pháp luật sớm xác định rõ để phân biệt hai hành vi này, đảm

vậy, "cùng với thành thị đã xuất hiện sự cần thiết phải có sự cai trị, cảnh sát, thuế khóa
v.v "

[30, tr. 72].
Nói về kinh doanh, trao đổi hàng hóa, Aristốt (383 - 322 tr. CN) - nhà tư tưởng lớn
nhất thời cổ đại - ông đã phân biệt trong kinh doanh có hai loại: Một là, loại "kinh tế": giá
trị sử dụng có tác dụng kích thích là chủ yếu, việc trao đổi chỉ là phương tiện để tổ chức
kinh tế tốt hơn. Loại này gồm thương nghiệp trao đổi (trao đổi tự nhiên hàng - hàng) và
tiểu thương nghiệp hàng hóa hoạt động, ông cho là loại này hợp lẽ tự nhiên và hợp quy

luật. Hai là, loại "sản xuất ra của cải": có mục đích làm giàu và tăng khối lượng tiền tệ, và
tiền tệ là mục đích cuối cùng, là sự bắt đầu và kết thúc của vòng chu chuyển, là mục đích
chính của lưu thông hàng hóa. Ông cho loại này là trái quy luật, vì nó làm cho tiền tệ trở
thành mục đích cuối cùng, thành phương tiện làm giàu và dễ làm cho một số người bị đồng
tiền nô lệ, buôn bán bất chính. Mác viết:
Lợi nhuận mà thích đáng thì tư bản trở nên can đảm, lợi nhuận mà đảm
bảo được 10% thì người ta có thể dùng được tư bản ở khắp nơi, đảm bảo được
20% thì nó hăng máu lên, đảm bảo được 50% thì nó táo bạo không biết sợ là gì,
đảm bảo 100% thì nó chà đạp lên tất cả mọi luật lệ, đảm bảo được 300% thì nó
chẳng từ một tội ác nào mà không dám, thậm chí có thể bị treo cổ nó cũng không
sợ

[29, tr. 285].
Hơn nữa, trong thương trường sự cạnh tranh tự do không giới hạn, thường là sự
đối đầu giữa những kẻ mạnh và kẻ yếu tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh, hậu quả sẽ
là sự bần cùng hóa và việc gạt ra ngoài lề xã hội một số tác nhân kinh tế. Nếu để cho sự tự
do đó tiếp diễn sẽ làm rối loạn các mối quan hệ kinh tế - xã hội và tất yếu sẽ làm cho nền
kinh tế kiệt quệ, không còn tái tạo nổi sự trao đổi hàng hóa. Chính vì vậy, Nhà nước cần phải
can thiệp nhằm cân đối, kiềm chế, điều tiết và duy trì "một thế bình quân hợp lý nhất định
giữa nguyên tắc tự do và nguyên tắc bình đẳng" [4, tr. 12] và một trong những biện pháp

bất chấp tất cả: "Ai cũng biết là phạm pháp, nhưng người đi trước, người sau nối tiếp, cực khổ
cũng cam lòng, dần dần thành tập quán. Và trong các đời Chính Đức, Gia Tĩnh (1506 -
1556), việc ra biển buôn lậu… đã trở thành phong tục"

[36, tr. 292].
ở Việt Nam từ thế kỷ X, khi đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ, triều đại
nhà Lý đã quan tâm phát triển sản xuất và mở mang giao thương với bên ngoài, buôn lậu
và chống buôn lậu đã được đặt ra. Đến các triều đại Nhà Trần, Lê, Nguyễn sau này công
tác chống buôn lậu qua biên giới ngày càng được chú trọng hơn. Cụ thể ngay từ năm 1149,
Vua Lý Anh Tông đã định ra chức án sát để kiểm soát việc buôn bán của tàu thuyền nước

ngoài tại các "Bạc dịch trường"; thời nhà Lê, triều đình đặt ra chức Tuần ty để thu thuế ở
các cửa ải và chợ búa; lúc đó cả nước có đến 4.000 Tuần ty, chứng tỏ việc kiểm soát, thu
thuế, ngăn chặn buôn lậu đã được coi trọng.
Buôn lậu như một căn bệnh có tính lịch sử, do đó các nhà nước phong kiến trước
đây cũng như giai đoạn sau này đã chú trọng đến công tác phòng chống buôn lậu. Trong
thời kỳ chống Pháp, hoạt động buôn lậu vẫn diễn ra giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm.
Đến thời kỳ chống Mỹ, khi cả nước đang tập trung sức lực cho chiến trường miền Nam thì
ở miền Bắc buôn lậu hàng ngoại, thuốc phiện vẫn diễn ra. Từ khi đất nước thống nhất, đặc
biệt là sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, với chính sách mở cửa làm cho đời sống của nhân
dân được nâng cao, tình trạng buôn lậu và các tệ nạn khác cũng nảy sinh và diễn biến ngày
càng phức tạp.
Nhận diện và hiểu rõ nguồn gốc buôn lậu có ý nghĩa quan trọng, không những
giúp chúng ta lý giải vì sao buôn lậu tồn tại dai dẳng đến ngày nay - cho dù các quốc gia
trên thế giới đều coi buôn lậu như là một kiểu kinh doanh không sòng phẳng, bất hợp pháp
và tuyên bố bài trừ - mà còn chỉ ra nội dung cốt lõi của buôn lậu để nhận thức sâu sắc về
nó, không nhầm lẫn buôn lậu với các tội phạm kinh tế khác, từ đó đề ra phương pháp đấu
tranh phòng chống có hiệu quả hơn.
1.1.3. Thủ đoạn buôn lậu
Lịch sử quan hệ buôn bán giữa các quốc gia từ trước đến nay, theo quy luật vừa

Khi bị truy bắt gắt gao chúng chuyển sang hoạt động bí mật; cụ thể các tàu chở
hàng lậu ở nước ngoài về thường trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng,
lén lút đưa hàng vào bờ; hàng hóa thường là hàng cấm, hàng có giá trị kinh tế cao, lãi suất
lớn. Ngoài ra, chúng còn tổ chức lực lượng ngầm theo dõi, nắm quy luật hoạt động của các
lực lượng Công an, Hải quan, Quản lý thị trường, Biên phòng v.v nắm giờ xuất phát và
hành trình của tàu tuần tra, chống buôn lậu của các cơ quan chức năng để đối phó.
Tóm lại, vì lợi nhuận đối tượng buôn lậu không từ mọi thủ đoạn nào và chống đối
ngày càng quyết liệt.

1.1.4. Nguyên nhân và hậu quả của buôn lậu
1.1.4.1. Nguyên nhân và điều kiện buôn lậu tồn tại
Những năm gần đây tình hình buôn lậu đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội,
đã và đang có những diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng.
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là các Bộ, ngành, ủy ban nhân
dân các cấp chưa nhận thức đầy đủ về nguy cơ và tác hại lâu dài của tệ nạn buôn
lậu, đã buông lỏng quản lý nhà nước, chưa có biện pháp kiên quyết, triệt để nhằm
đấu tranh có hiệu quả với nạn buôn lậu. Nhiều trường hợp vì quyền lợi cục bộ, lãnh
đạo một số Bộ, ngành, địa phương đã làm ngơ, thậm chí tiếp tay cho buôn lậu.
Các lực lượng làm nhiệm vụ chống buôn lậu còn yếu kém, thiếu phương tiện,
hoạt động tản mạn, chưa có sự phối hợp với nhau. Một bộ phận cán bộ, nhân
viên có biểu hiện tiêu cực. Việc xét xử để xử lý các vụ vi phạm hành vi buôn
lậu chưa nghiêm, chưa kịp thời [43, tr. 3].
Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng, chống buôn lậu cho thấy buôn lậu tồn tại
do một số nguyên nhân:
Một là, nền kinh tế nước ta chậm phát triển, chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng
nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng; giá thành cao, mất cân đối giữa cung và cầu, chênh
lệch lớn về giá.
Thị trường bao giờ cũng tuân theo quy luật cung - cầu và giá trị hàng hóa; hàng
tốt, rẻ sẽ chiến thắng hàng xấu, chất lượng kém, giá thành cao; đây là quy luật phổ biến
vận hành trong bất kỳ nền kinh tế hàng hóa nào. Kinh tế nước ta trong những năm gần đây

các quan hệ phát sinh nhất là trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống buôn lậu. Ví dụ như
quy định của Bộ Thương mại cho phép nhập khẩu khung gầm xe ôtô có gắn động cơ
chính sách thuế hiện hành của Nhà nước ta vừa đánh thuế theo tính chất mặt hàng, lại vừa
đánh thuế theo mục đích sử dụng. Ví dụ như xe ôtô du lịch 12 chỗ ngồi được cải biến
thành xe tải nhẹ hoặc xe cứu thương; xe ôtô có trọng tải thấp khai trọng tải cao để được

giảm thuế. Hoặc bảng giá tối thiểu đã được xác định trong luật thuế XNK chưa nhiều, do
đó giá tính thuế căn cứ theo giá ghi trên hợp đồng và hóa đơn thương mại hợp lệ doanh
nghiệp lợi dụng thông đồng với chủ hàng ở nước ngoài ghi giá thấp nhiều so với thực tế để
trốn thuế. Theo báo cáo của Chính phủ, thất thu thuế qua giá ước tính khoảng 25% trên
tổng số thuế XNK.
Mặt khác, khi thực hiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, chúng ta chưa có nhiều
kinh nghiệm trong thực tế, cơ chế thiếu đồng bộ, bộ máy vận hành chưa tốt, buông lỏng quản
lý; quan điểm chỉ đạo có lúc chưa thống nhất, vận dụng không căn cứ vào quy định chung
của pháp luật, thậm chí làm trái pháp luật vì lợi ích cục bộ của ngành, của địa phương.
Công tác điều tra, truy tố, xét xử thiếu nhất quán, quan điểm xử lý không thống nhất, còn
tùy tiện. "Theo số liệu thống kê, trung bình hàng năm chúng ta mới xét xử được dưới 1%
số vụ buôn lậu bị phát hiện bắt giữ, trong đó có tới 50% là xử án treo" [57, tr. 463].Ba là, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống buôn
lậu trong các ngành, các cấp và trong quần chúng nhân dân chưa được quan tâm đúng
mức.
Nhận thức của một số cán bộ và nhân dân về công tác phòng ngừa đấu tranh
phòng chống buôn lậu lại rất hạn chế; nhiều địa phương, cơ quan nhà nước chưa đặt công
tác chống buôn lậu lên ngang tầm với yêu cầu, quản lý còn lỏng lẻo, chưa thật sự chỉ đạo
một cách thường xuyên mạnh mẽ; có nơi xuất phát từ lợi ích cục bộ đã tham gia buôn lậu
hoặc tiếp tay, tạo điều kiện cho bọn buôn lậu núp bóng hoạt động, như thu thuế nhẹ hơn
thuế nhập khẩu, làm ngơ để cho hàng lậu vào nội địa để thu thuế cho địa phương.
Bốn là, sự tác động của kinh tế chung trong khu vực đã kích thích, ảnh hưởng đến

nào kể cả những mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh, buôn bán như ma túy, vũ khí, đạn
dược, vật liệu nổ, quân trang quân dụng v.v
Buôn lậu ảnh hưởng đối với nền kinh tế, tất yếu sẽ làm cho an ninh chính trị của
đất nước càng khó khăn hơn. Hàng hóa nhập lậu làm cho thị trường hỗn loạn, Nhà nước

không kiểm soát được tình hình hoạt động XNK và các chính sách đầu tư đối với nước
ngoài; ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, làm giảm các khoản chi cho các quỹ phúc lợi
xã hội, làm cho tệ nạn xã hội phát triển. Những khoản thu nhập có từ buôn lậu làm cho một
bộ phận làm ăn bất chính giàu lên, sống sa đọa, coi thường kỷ cương phép nước, làm cho
Nhà nước không điều hành được công việc của mình tất yếu Nhà nước sẽ suy yếu, ảnh
hưởng đến chủ quyền và an ninh quốc gia.
Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng mạnh mẽ; việc không thắng
nổi về mặt quân sự thì việc dùng kinh tế để xâm lược đang được các thế lực thù địch sử
dụng một cách triệt để, vừa tinh vi, vừa thủ đoạn. Với ưu thế về kinh tế, khoa học kỹ thuật,
một số thế lực thù địch đang lợi dụng chính sách hội nhập để thực hiện "diễn biến hòa
bình", "chiến tranh biên giới mềm", chính sách dùng hàng hóa, viện trợ giúp đỡ có điều
kiện tạo thói quen lệ thuộc kinh tế, dẫn đến lệ thuộc về chính trị.
c) ảnh hưởng về mặt văn hóa - xã hội
Lợi nhuận của buôn lậu làm gia tăng chênh lệch giàu và nghèo, làm cho một số
nhà sản xuất đi lạc hướng, số người không có việc làm ngày một tăng. Buôn lậu lôi kéo
một lực lượng lớn lao động tham gia, bỏ sản xuất, trẻ em đến tuổi đến trường phải bỏ học,
người dân bỏ sản xuất đi làm thuê, trật tự an toàn xã hội biến động.
Buôn lậu là một trong những nguyên nhân làm suy thoái đạo đức xã hội, ảnh
hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục. Vì hám lợi họ phản lại giá trị đạo đức truyền thống để
chạy theo đồng tiền, và chính đồng tiền có được từ buôn lậu một cách dễ dàng dễ đưa họ tới
những tệ nạn như cờ bạc, ma túy, mại dâm. Song song với việc nhập hàng lậu, bọn buôn lậu
còn nhập tài liệu phản động, tranh ảnh khiêu dâm, cổ vũ lối sống thực dụng, coi trọng đồng
tiền, làm ảnh hưởng đến nhân cách con người, ảnh hưởng cả thế hệ lười lao động, sáng tạo.
Tóm lại, buôn lậu đã xâm hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, nền kinh tế quốc
dân, phá vỡ kỷ cương xã hội, gây cản trở đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính

ký Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và
gian lận thương mại (còn gọi là Ban 127) thay thế Ban 853 TW.

Ngoài các văn bản nêu trên, trong BLHS, luật Hải quan, luật Thương mại, luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính v.v cũng đã có các quy định
cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm này.
Như vậy, thông qua các văn bản trên ta thấy Đảng và Nhà nước thể hiện quan điểm
quyết liệt trong chỉ đạo đấu tranh phòng chống tệ nạn này; xác định đấu tranh chống buôn
lậu là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng, lâu dài và là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của các
ngành, các cấp và toàn thể nhân dân.
1.2.1. Quy định của pháp luật về hành vi và tội phạm buôn lậu
Sau khi giành chính quyền năm 1945, để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân
còn non trẻ, Đảng và Nhà nước chủ trương vừa đẩy mạnh sản xuất, tăng cường lực lượng
vũ trang bảo vệ Tổ quốc, từng bước hoàn thiện các chính sách quản lý kinh tế, quản lý xã
hội và hệ thống pháp luật nhằm chủ động phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm. Trong
những năm đầu xây dựng chính quyền, Nhà nước đã chú ý ban hành các văn bản pháp luật
quy định về đấu tranh chống buôn lậu như Thông tư 33/VH-HS ngày 05/7/1958 của Bộ Tư
pháp quy định cụ thể về xử lý hành vi buôn lậu.
Đến ngày 30/6/1982 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội đầu
cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Với nhận thức cho rằng buôn lậu bao
gồm các hành vi kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế, đầu cơ tích trữ, buôn bán hàng cấm…
có nghĩa là trong kinh doanh, buôn bán nếu có hành vi "gian lận", "trốn lậu", trái với quy
định của Nhà nước đều gọi là buôn lậu.
Như vậy, pháp luật hình sự trong giai đoạn này chỉ coi hành vi buôn bán hàng hóa
qua biên giới là tội phạm, còn vận chuyển tiền tệ (tiền Việt Nam và ngoại tệ) qua biên giới
thì không phải là tội phạm. Đây là một khiếm khuyết của hoạt động xây dựng pháp luật.
Mặt khác thời kỳ này tội buôn lậu tuy được đề cập trong một số văn bản pháp luật của Nhà
nước, nhưng việc hướng dẫn để nhận diện đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và các dấu
hiệu pháp lý đặc trưng chưa được quy định một cách cụ thể.


Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản
dưới luật cũng đã quy định chi tiết hành vi này như Nghị định 01/CP ngày 03/01/1996 của
Chính phủ quy định về vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại; Nghị định 138/CP
của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về
hải quan.
Tóm lại, việc nhận thức đối với tội buôn lậu trong hệ thống pháp luật hình sự nước
ta từng bước được hoàn thiện; điều luật quy định ngày càng rõ ràng, có sự điều chỉnh dấu
hiệu nội dung cấu thành tội phạm phù hợp với tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm
tội, đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.
1.2.2. Quy định của pháp luật về xử lý hành vi và tội phạm buôn lậu
Pháp lệnh về trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép
ban hành ngày 30/6/1982 là văn bản pháp lý tương đối hoàn chỉnh đầu tiên quy định xử lý
hành vi buôn lậu: "Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua
biên giới thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm và bị phạt tiền gấp 3 lần giá trị hàng phạm
pháp" và bị phạt tiền gấp 3 lần trị giá hàng phạm pháp (Điều 4).
Đến năm 1985, sau 4 lần sửa đổi BLHS năm 1985 đã quy định hành vi và tội phạm
buôn lậu trong Điều 97 cụ thể hơn: "Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép
qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc
di tích lịch sử, văn hóa " thì bị xử lý theo 4 khung hình phạt tương ứng với hành vi vi
phạm với mức phạt tù giam từ 2 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Bộ luật hình sự năm 1985 tiếp tục sửa đổi, bổ sung để đáp ứng với yêu cầu đổi
mới và hội nhập. Theo đó, tội buôn lậu được quy định một cách độc lập, tức là hành vi
buôn lậu và hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa trái phép qua biên giới được tác ra
thành hai điều luật riêng biệt. Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 gồm có 4 khung
hình phạt chính và 1 hình phạt bổ sung tương ứng với từng hành vi vi phạm, cụ thể: Phạt

tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm, tù chung thân
hoặc tử hình.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status