A. MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước thì các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Cộng với đó là sự biến động,
ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, các doanh nghiệp ngày càng gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc. Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phá sản hàng loạt, những doanh nghiệp ngấp
nghé đứng bên bờ vực phá sản cũng không ít. Con đường để tồn tại lúc này là phải nhanh chóng đổi
mới máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm. Xuất phát từ thực trạng
nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, kỹ thuật công chưa mấy hiện đại với vốn đầu tư thấp, các
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, chưa tạo lập được cho mình một cơ sở vật chất kĩ thuật đầy đủ,
vững chắc nhất định để nắm bắt những cơ hội phát triển kinh tế. Thực tế đó đã đặt ra nhu cầu cấp bách
về việc giải quyết vấn đề vốn cho các doanh nghiệp. Trong điều kiện các nguồn vốn đầu tư còn hạn
chế, thì cho thuê tài chính ra đời với những ưu điểm vốn có đã trở thành giải pháp kịp thời và đúng
đắn, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trên thế
giới, hoạt động cho thuê tài chính đã phát triển từ khá lâu, xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kì, một cường
quốc kinh tế số một hiện nay. Ở Việt Nam, cho thuê tài chính được đề cập lần đầu trong Quyết định số
149/QĐ - NH5 ngày 17/5/1995 của Thống đốc NHNN Việt Nam. Đây cũng là một hoạt động cấp tín
dụng quan trọng của các TCTD ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên hoạt động cho CTTC vẫn đang vướng
mắc một số bất cập và khó khăn, khiến cho hoạt động này vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả cao.
Chính vì thế việc nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động cho thuê tài chính
là rất cần thiết.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. NHỮNG QUY ĐINH CHUNG VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1. Hoạt động cho thuê tài chính
1. 1. Khái niệm
“Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị,
phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên
thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo
yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản
thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận”[2]
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo
các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy
theo thỏa thuận ban đầu.
Do tài trợ bằng hiện vật nên giá trị của vốn tài trợ luôn được giữ vững mà không bị ảnh hưởng của lạm
phát. Vì đối với hình thức tài trợ bằng cách xuất quỹ cho vay có thể làm biến động đến lưu lượng của
đồng tiền trong lưu thông cũng như việc thu hồi đồng vốn vào cuối kì cho vay có thể giảm giá trị đồng
tiền, còn hình thức tài trợ trực tiếp thông qua hiện vật tránh được rủi ro đó.
1.3. Tiêu chuẩn xác định hoạt động cho thuê tài chính
Hoạt động CTTC phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.
- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền chọn mua lại tài sản
thuê theo giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời
điểm mua lại.
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê.
-Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hoạt động thuê, ít nhất
phải tương đương với giá trị của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký
hợp đồng.
II. Quy định của pháp luật về cho thuê tài chính của các TCTD
Theo quy định tại nghị định số 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC thì hoạt
động cho thuê tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty CTTC được thành
lập và hoạt động tại Việt Nam và tuân theo các quy định của Nghị định này. Ở Việt Nam dịch vụ
CTTC do các công ty CTTC và ngân hàng cung cấp. Tuy nhiên, trường hợp ngân hàng muốn hoạt
động CTTC phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động CTTC.
Như vậy, thực chất chỉ có các công ty CTTC độc lập và công ty CTTC trực thuộc ngân hàng được trực
tiếp cung cấp dịch vụ CTTC.
2.1. Công ty CTTC
2.1.1. Khái niệm
Theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, nghị định số 16/2001/NĐ-CP, và nghị định số
95/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 16/2001/NĐ-CP thì công ty CTTC là
một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam. Công ty cho thuê tài chính được thành
lập và hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức:
2.2.3.2. Bên thuê
Là tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của
mình. Bao gồm:
- Cá nhân, hộ gia đình
- Doanh nghiệp
- Các tổ chức khác thuộc đối tượng vay của các tổ chức tín dụng.
2.2.3.3. Bên cung ứng
Bên cung ứng chỉ xuất hiện khi bên thuê và bên cho thuê thỏa thuận xong về các điều khoản và khi đó
bên cung ứng sẽ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các yêu cầu về máy móc, thiết bị theo yêu cầu của
bên thuê.
2.2.4. Đối tượng cho thuê trong hợp đồng CTTC
Tài sản cho thuê là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và các động sản khác. Riêng đối với tài sản
cho thuê có giấy phép sử dụng, cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy phép sử dụng cho bên thuê
trên cơ sở giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cho thuê của công ty CTTC và hợp đồng CTTC.
2.2.5. Lãi suất cho thuê tài chính
- Mức lãi suất cho thuê tài chính do công ty cho thuê tài chính thỏa thuận với bên thuê trong hợp đồng
cho thuê tài chính.
- Mức lãi suất áp dụng đối với các khoản nợ gốc tiền thuê tài chính quá thời hạn trả nợ do công ty cho
thuê tài chính thỏa thuận với bên thuê trong hợp đồng cho thuê tài chính, nhưng không vượt quá 150%
lãi suất cho thuê tài chính áp dụng trong thời hạn cho thuê tài chính đã được ký kết hoặc điều chỉnh
trong hợp đồng cho thuê tài chính.
2.2.6. Phương thức cho thuê tài chính
Theo quy định của pháp luật, có các phương thức cho thuê phổ biến sau:
- Hợp đồng cho thuê tài chính liên kết (Syndicate Lease)
Gồm nhiều bên cùng tài trợ cho một bên thuê. Đây còn được gọi là hình thức cho thuê hợp vốn,
thường được áp dụng trong trường hợp khoản cho thuê tài chính vượt quá hạn mức cho phép của
NHNN quy định tại từng thời kỳ.
- Hợp đồng cho thuê bắc cầu (Leveraged Lease)
Bên cho thuê (công ty CTTC) đi vay từ bên thứ 3( ngân hàng) để mua tài sản rồi cho thuê. Loại cho
nhỏ. Quy mô hoạt động kinh doanh CTTC phát triển khá nhanh và tăng trưởng vượt bậc qua các năm.
Có một điều rất đáng khuyến khích là trong hoạt động kinh doanh của mình, các công ty CTTC
thường không có sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế khác nhau, đối tượng CTTC chủ yếu
là các DN ngoài quốc doanh; các DN đi thuê còn được hưởng lợi ích từ các thành tựu khoa học kỹ
thuật tiên tiến; được hưởng các dịch vụ tư vấn miễn phí và những thông tin cần thiết khác từ những
nhà cung cấp dịch vụ.
Theo đánh giá chung hoạt động CTTC trong thời gian qua đã dần mở rộng quy mô đối tượng cho thuê
và thành phần khách hàng tham gia, doanh số cho thuê ngày một tăng cao, chất lượng hoạt động
CTTC tương đối tốt, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức cho phép, lợi nhuận năm sau tăng hơn năm trước.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được hoạt động CTTC ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại một
số vấn đề sau:
Thứ nhất, Hoạt động CTTC chưa hiệu quả.
Tình trạng thua lỗ khá phổ biến trong nhóm các công ty CTTC hiện nay. Điển hình trong hoàn cảnh
này phải kể đến hai công ty CTTC có cùng ngân hàng mẹ - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam (NHNN&PTNT VN) là Công ty CTTC I (ALC I) và Công ty CTTC II (ALC II).
Theo con số báo cáo chính thức gần nhất từ những đơn vị này, con số lỗ tính đến 2009 của ALC II là
3.000 tỉ đồng, ALC I có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tính đến tháng 6/2010 là âm (-) 200%. Đặc
biệt, nợ xấu tại ALC I lên tới 46,38% (30/6/2010). ALC II mặc dù không công bố báo cáo tài chính kế
toán kể từ 2010 nhưng theo nhiều nguồn tin khác nhau, công ty này đang phải gánh số nợ lên tới 7.000
tỉ đồng (vốn điều lệ của ALC II chỉ là 350 tỉ đồng), tình hình tài chính cũng không mấy khả quan,
công ty này cũng đang rơi vào tình trạng mất thanh khoản nghiêm trọng, không huy động được thêm
nguồn vốn.
Vào ngày 12/3/2013, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã công bố Quyết định 509 của Thống đốc về
việc thu hồi giấy phép hoạt động của Công ty CTTC ANZ/V-TRAC (100% vốn nước ngoài). Tuy vậy,
quyết định trên chỉ để hợp thức hóa bởi ANZ/V-TRAC thực chất đã ngừng hoạt động tại thị trường tài
chính nước ta từ lâu do hiệu quả hoạt động yếu kém. Ngoài ANZ/V-TRAC, còn 3 công ty CTTC
100% vốn nước ngoài đang hoạt động là Công ty TNHH CTTC Quốc tế Việt Nam, Công ty CTTC
Kexim và Công ty TNHH CTTC Quốc tế Chailease. Tuy vậy, hiệu quả hoạt động các công ty này
Thực trạng CTTC hiện nay ở Việt Nam diễn ra khá bất ổn và chứa đựng nhiều rủi ro. Ngoài nguyên
nhân chủ quan từ phía các công ty CTTC thì nguyên nhân quan trọng hơn là chính từ bất cập trong
quy định của pháp luật.
Thứ nhất, quy định của pháp luật chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể cho thuê.
Theo Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP, CTTC là hoạt động tín dụng và đối tượng là tài sản cụ thể.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 20 Luật Các TCTD thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, như
vậy có nghĩa rằng, ngân hàng hoàn toàn có thể được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính vì đây là
một hình thức cấp tín dụng.
Nhưng theo K3 Đ1 NĐ16/2001/NĐ-CP lại quy định : hoạt động CTTC trên lãnh thổ Việt Nam phải
được thực hiện thông qua các công ty CTTC được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Công ty
CTTC là một “TCTD phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam” [3]. Như vậy theo quy định này các
TCTD là ngân hàng không được tiến hành hoạt động CTTC trừ khi ngân hàng đó thành lập công ty
CTTC. Quy định như vậy là không công bằng đối với loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng, đồng
thời không phù hợp với Luật các TCTD.
Thứ hai, quy định về đối tượng cho thuê còn nhiều bất cập.
Theo nghị định số 16/2001/NĐ-CP về hoạt động CTTC thì đối tượng cho thuê tài chính bao gồm: máy
móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác. Đồng thời tại Đ73 luật các tổ chức tín
dụng quy định : các tổ chức tín dụng không được trực tiếp kinh doanh bất động sản. Điều này làm hạn
chế đi đối tượng được CTTC, chỉ bó hẹp trong phạm vi là động sản trong khi nhu cầu về bất động sản
hiện nay cũng đang phát triển. Điển hình như dịch vụ cho thuê văn phòng, nhưng đây là bất động sản
nên không xếp vào đối tượng của hợp đồng CTTC. Một bất lợi cho cả doanh nghiệp thuê và bên cho
thuê.
Thứ ba, quy định về thu hồi và xử lí tài sản CTTC chưa thực sự hiệu quả.
Những quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP hướng dẫn thu hồi và xử
lý tài sản cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính vẫn chưa trở thành một công cụ đủ mạnh
trong công tác thu hồi tài sản cho thuê tài chính. Khoản 5, mục 2, Thông tư 08 quy định, khi rủi ro tín
dụng phát sinh, bên thuê có quyền thu hồi tài sản cho thuê ngay, nhưng lại “buộc” thêm một số điều
kiện. Tại khoản 7 mục 2 quy định, sau 30 ngày kể từ thông báo mới được thu hồi tài sản CTTC. Quy
định này dẫn đến việc, khi công ty CTTC đi kiểm tra phát hiện bên thuê đã bỏ trốn, DN không có
doanh nghiệp còn rất hạn chế. Doanh nghiệp thiếu vốn thì lẽ thường họ phải đi vay ngân hàng, nhưng
nguồn vốn ngân hàng không phải lúc nào cũng dễ tiếp cận, do đó ngoài kênh cấp vốn phổ biến từ ngân
hàng thì kênh cấp vốn từ dịch vụ cho thuê tài chính có xu hướng phát triển và ngày chiếm vị trí quan
trọng trên thị trường tài chính thế giới. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay, đã
dẫn đến sự xuất hiện nhu cầu về vốn rất lớn cho đầu tư của các doanh nghiệp, đồng thời các loại thị
trường cũng có cơ hội được mở rộng, kéo theo đó là việc mở rộng môi trường kinh doanh cho dịch vụ
cho thuê tài chính phát triển. Đây sẽ là điều hứa hẹn một tương lai phát triển dịch vụ cho thuê tài chính
ở Việt Nam.