Thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu - Pdf 15



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG NGUYỄN THỊ NGỌC LAN THAY ĐỔI CƠ CẤU THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

Chuyên ngành : Thƣơng mại
Mã số : 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ THƢƠNG MẠI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Vũ Hoàng Nam
Hà Nội - 2010

LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CƠ CẤU THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
5
1.1.1. Khái niệm cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hoá 5
1.1.2. Các nhân tố tác động đến cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hoá 7
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008 .12
1.2.1. Khái niệm khủng hoảng tài chính 12
1.2.2. Nguyên nhân, diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính 13
1.2.3. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới thương mại quốc tế 19
1.3. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG
HOẢNG TỚI CƠ CẤU THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU 23
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực 23
1.3.2. Bài học từ kinh nghiệm của các nước 30
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU THỊ TRƢỜNG XUẤT
KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH TOÀN CẦU 32
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN
CẦU TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 32
2.1.1. Tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu 32
2.1.2. Tác động tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài 37
2.1.3. Tác động tới lĩnh vực tài chính – ngân hàng 38
2.1.4. Tác động tới tăng trưởng kinh tế 40
2.2. SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT
NAM DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 41 2.2.1. Các nhân tố tác động tới cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam

Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
CIS
Commonwealth of Independent
States
Cộng đồng các quốc gia độc lập
(SNG)
EC
European Committee
Uỷ ban châu Âu
EU
European Union
Liên minh châu Âu
FED
Federal Reserve System
Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
FLEGT
Forest Law Enforcement,
Governance and Trade
Thi hành Lâm luật, Quản trị rừng
và Thương mại
GDP
Gross Domestic Production
Tổng sản phẩm quốc nội
GSP
Generalised System of
Preferences
Hệ thống ưu đãi phổ cập
IMF

Bảng 1.1: Sự thay đổi kim ngạch thương mại thế giới giai đoạn 2007 – 2011 23
Bảng 1.2: Tỷ lệ tăng trưởng tại các thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan 24
Bảng 2.1: Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam 36
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người tại các khu vực thị
trường xuất khẩu chính của Việt Nam 43
Bảng 2.3 : Hoạt động xúc tiến thương mại theo khu vực thị trường 44
Bảng 2.4: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Nhật Bản 54
Bảng 2.5: Cơ cấu mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 2007 – 2009 57
Bảng 2.6: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU (2005 - 2009) 58
Bảng 2.7: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU theo mặt hàng 60
Bảng 2.8: Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ 62
Bảng 2.9: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Đại Dương 63
Bảng 2.10: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia thuộc Châu Đại
Dương 64
Bảng 2.11: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi (2007 - 2009) 65
Bảng 2.12: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang một số nước ở Châu Phi 65
Bảng 2.13: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam 2009 66
Bảng 3.1: Tốc độ tăng GDP của một số khu vực thị trường xuất khẩu chính 69
DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình hấp dẫn (Gravity Model) trong thương mại quốc tế 8

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, năm 2008 và 2009 có thể
được coi là thời kỳ suy giảm mạnh mẽ nhất của kinh tế thế giới kể từ sau cuộc đại
khủng hoảng 1929 – 1933. Bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng cho vay địa ốc dưới chuẩn
tại Hoa Kỳ vào cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng đã lan rộng ra phạm vi toàn cầu và
gây ra những tác động lớn tới nền kinh tế thế giới. Thị trường tài chính thế giới chao
đảo, hoạt động thương mại quốc tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tăng trưởng kinh tế thế
giới giảm sút. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam
không thể tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Bên cạnh hệ thống tài chính ngân hàng, hoạt động xuất khẩu cũng chịu tác động mạnh
của cuộc khủng hoảng. Do Việt Nam phần lớn xuất khẩu vào thị trường các nước phát
triển, nên hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua bị ảnh hưởng mạnh cả
về tốc độ tăng trưởng, kim ngạch, cơ cấu mặt hàng, và đặc biệt là cơ cấu thị trường do
sự thu hẹp thị trường của các nước như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN.
Đây là một hệ quả tất yếu của khủng hoảng tài chính toàn cầu do các thị trường này
chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng. Kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam có dấu hiệu suy giảm từ cuối 2008 và thực sự giảm mạnh trong năm 2009. Rất
nhiều thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh
các thị trường truyền thống bị thu hẹp và cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt do nhu
cầu tiêu dùng suy giảm cùng xu hướng áp dụng chính sách bảo hộ của các nước. Chính
vì vậy, việc phân tích sự thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, trên cơ sở đó đề xuất một số biện
pháp nhằm tìm kiếm, khai thác các thị trường mới phục vụ mục tiêu đa dạng hoá thị
trường xuất khẩu, tránh việc phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường chính là một
yêu cầu cấp bách trong thời điểm hiện tại. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong ngắn

2

hạn mà sẽ là cơ sở để hoạch định chiến lược xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ hậu
khủng hoảng. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Thay đổi cơ
cấu thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong điều kiện khủng hoảng tài chính

Nhật Bản, ASEAN và Trung Quốc, sự thay đổi về cơ cấu thị trường của một số mặt
hàng xuất khẩu chính của Việt Nam, phân tích các nguyên nhân gây ra sự thay đổi
trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu
kinh nghiệm hoạch định chính sách thúc đẩy xuất khẩu của một số nước trong bối cảnh
cơ cấu thị trường xuất khẩu thay đổi. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong điều kiện cơ cấu thị trường thay đổi
sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là thực trạng sự thay đổi về cơ cấu thị
trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ phân tích tổng quan về sự thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng
hoá của Việt Nam giới hạn phạm vi ở một số khu vực thị trường quan trọng trước và
sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ tiến hành phân tích sự
thay đổi kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu. Số liệu xuất
khẩu của Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2006 đến nay sẽ được sử dụng trong luận văn.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác – Lênin, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp thu thập tài liệu và số liệu thứ cấp,
tổng hợp, phân tích, so sánh, và đánh giá các số liệu này.

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 3 chương:

4

Khái niệm thị trường
Khái niệm thị trường đã được nghiên cứu trong khá nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh
vực kinh tế chính trị, các nhà kinh tế học hiện đại định nghĩa: “Thị trường là lĩnh
vực lưu thông, ở đó hàng hoá thực hiện được giá trị của mình đã được tạo ra trong
lĩnh vực sản xuất” [4]. Như vậy, trong định nghĩa này, thị trường là một khâu của
quá trình tái sản xuất, là nơi hàng hoá thực hiện được giá trị của mình.
Khái niệm thị trường cũng được Paul Samuelson, nhà kinh tế học thuộc trường
phái chính trị hiện đại đưa ra như sau: “Thị trường là một quá trình mà trong đó,
người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá
cả và số lượng hàng hoá” [19]. Theo khái niệm này, thị trường là một quá trình mua
bán diễn ra trực tiếp giữa người mua và người bán mà ít chịu tác động của các yếu
tố bên ngoài.
Trong lĩnh vực marketing, Philip Kotler cho rằng: “Thị trường là tập hợp tất cả
những người mua thực sự hay những người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm”
[20]. Quan điểm này coi thị trường là người mua, kể cả người mua thực sự và người
mua tiềm tàng, thể hiện rõ sự đề cao vai trò quyết định của người mua.
Với các cách tiếp cận khác nhau, các khái niệm trên đã đưa ra những nét cơ
bản của thị trường. Như vậy, có thể thấy thị trường là tập hợp tất cả các người mua
thực sự và tiềm năng (bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân) có các tác động qua
lại với người bán để quyết định giá cả và số lượng hàng hoá.

6

Khái niệm thị trường xuất khẩu
Căn cứ vào quốc tịch của người mua và người bán, có thể thấy thị trường xuất
khẩu là thị trường trong đó người mua mang quốc tịch nước ngoài, quan hệ với người bán
trong nước để xác định giá cả và số lượng hàng hoá mua bán, chất lượng hàng hoá theo
tiêu chuẩn quốc tế, thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi và phải làm thủ tục hải quan.

Khái niệm cơ cấu thị trường xuất khẩu

Giữa cơ cấu thị trường và cơ cấu mặt hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Cơ
cấu thị trường của các mặt hàng chính sẽ quyết định đến cơ cấu thị trường chung và cơ
cấu mặt hàng của các thị trường chính cũng sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu mặt hàng.
1.1.2. Các nhân tố tác động đến cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu hàng hoá
Với khái niệm về cơ cấu thị trường xuất khẩu đã nêu trong phần 1.1.1, có thể thấy
sự khác biệt trong luồng xuất khẩu giữa các thị trường khác nhau tạo nên cơ cấu thị
trường xuất khẩu. Chính vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến luồng xuất khẩu cũng có thể
là các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường xuất khẩu.
1.1.2.1. Các yếu tố tác động đến luồng xuất khẩu
Luồng thương mại giữa hai quốc gia đã được nghiên cứu khá nhiều, trong đó mô
hình hấp dẫn (Gravity Model) là mô hình kinh tế lượng thường được các tác giả sử
dụng để phân tích các yếu tố tác động đến luồng thương mại song phương. Mô hình
này tương tự như định luật hấp dẫn trong vật lý. Theo mô hình này, các yếu tố ảnh
hưởng đến luồng thương mại được minh hoạ trong Hình 1.1. Như vậy, có thể thấy
rằng, trong mô hình này xuất hiện ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến luồng thương mại:
Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung bao gồm GDP và dân số của nước xuất khẩu.
GDP của nước xuất khẩu bao gồm tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trong
lãnh thổ nước xuất khẩu. Khi hàng hoá được tạo ra càng nhiều thì khả năng xuất khẩu
càng lớn. Bên cạnh đó, dân số của nước xuất khẩu cũng sẽ tác động đến số lượng và
kim ngạch xuất khẩu. Dân số của mỗi quốc gia chính là một trong những nguồn lực
quan trọng trong việc sản xuất ra nhiều hàng hoá xuất khẩu. Theo cách này, dân số sẽ

8

tác động tích cực đến luồng xuất khẩu. Tuy nhiên, dân số cũng chính là người tiêu
dùng. Dân số càng nhiều thì tiêu dùng hàng hoá càng nhiều và lượng hàng hoá còn lại
cho xuất khẩu có thể bị ảnh hưởng. Do đó, dân số sẽ vừa tác động tích cực, vừa tác
động tiêu cực đến luồng xuất khẩu.
Nước xuất
khẩu
Nước
nhập khẩu
Năng lực
sản xuất
của nước
xuất khẩu Chính sách
khuyến
khích/ quản
lý xuất
khẩu
“Khoảng
cách giữa
hai nước”
Chính sách
khuyến
khích/ quản
lý nhập
khẩu
Sức mua
của thị
trường
nước nhập
khẩu
Các yếu tố hấp
dẫn/ cản trở

tố ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu một yếu tố ảnh hưởng
như nhau đến các luồng xuất khẩu sang các thị trường khác nhau thì nó chỉ là yếu tố
ảnh hưởng đến luồng xuất khẩu mà không ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường xuất khẩu.
Ngược lại, một yếu tố có ảnh hưởng khác nhau tới luồng xuất khẩu sang các thị trường

10

khác nhau thì yếu tố này sẽ trở thành yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường xuất
khẩu. Phần này sẽ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến luồng xuất khẩu (Nhóm yếu tố
ảnh hưởng đến cung, cầu, nhóm yếu tố hấp dẫn/ cản trở) để chỉ ra khả năng ảnh hưởng
của chúng đến cơ cấu thị trường xuất khẩu.
Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung
Nhóm yếu tố cung không ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu thị trường xuất khẩu.
Chẳng hạn nếu GDP của nước xuất khẩu tăng sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu
sang tất cả các nước mà không gây ra tác động đặc biệt với bất kỳ thị trường nào cả.
Tuy nhiên, một cách gián tiếp thì sự tương đồng về cơ cấu kinh tế sẽ có thể ảnh hưởng
đến cơ cấu thị trường. Ví dụ như GDP của nước xuất khẩu tăng nhưng nước đó là nước
nông nghiệp. Điều này sẽ giúp cho lượng hàng hoá, ở đây chủ yếu là nông sản tăng lên.
Rõ ràng, nó sẽ làm tăng khả năng xuất khẩu sang những nước có nhu cầu về nông sản
(các nước công nghiệp phát triển) mà khó có khả năng tăng xuất khẩu sang các nước có
cơ cấu kinh tế tương tự (các nước nông nghiệp).
Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Như đã phân tích trong mô hình trọng lực, GDP hay GDP bình quân đầu người
của nước đối tác là thước đo dễ thấy nhất của cầu. Khi thu nhập của người dân tăng lên
thì nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cũng có xu hướng tăng lên, trong đó có nhu cầu tiêu
dùng hàng hoá nhập khẩu. Do đó, cơ cấu thị trường xuất khẩu của các nước thường
hướng đến các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sức mua lớn.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng, thu nhập không phải là yếu tố duy nhất quyết định đến
cầu của nước đối tác. Bên cạnh thu nhập thì thị hiếu của người dân của nước đối tác
đối với sản phẩm của nước xuất khẩu có vai trò rất quan trọng. Mặc dù vậy, việc đánh

- Nhóm chính sách xúc tiến xuất khẩu: Bao gồm quảng cáo, tổ chức hội chợ triển
lãm, xây dựng thương hiệu quốc gia, Đây là nhóm chính sách mang tính định hướng
thị trường mạnh nhất trong hệ thống chính sách khuyến khích xuất khẩu.

12

Bên cạnh đó, chính sách quản lý của nước nhập khẩu cũng là một yếu tố tác động
đến luồng xuất khẩu. Cơ cấu thị trường xuất khẩu của các nước sẽ có xu hướng nghiêng
về các thị trường có rào cản thương mại thấp nếu như các yếu tố khác là như nhau.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008
1.2.1. Khái niệm khủng hoảng tài chính
Lịch sử tài chính tiền tệ thế giới không còn xa lạ với “khủng hoảng tài chính”, tuy
nhiên cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về “khủng hoảng tài chính”.
Theo nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1998), khái niệm khủng hoảng tài
chính không được đưa ra cụ thể mà được hiểu thông qua khái niệm về các hình thức
khác nhau của khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng tiền tệ có thể nổ ra khi hoạt động
đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá (hoặc giảm giá đột ngột) đồng tiền đó, hoặc khi các
cơ quan có trách nhiệm buộc phải bảo vệ đồng tiền của mình bằng cách chi ra một khối
lượng dự trữ ngoại tệ lớn. Khủng hoảng hệ thống tài chính là những rối loạn (có thể tới
mức nghiêm trọng) của thị trường tài chính. Những rối loạn này, do làm suy yếu những
chức năng của thị trường tài chính, có thể tác động tới toàn bộ nền kinh tế. Khủng
hoảng hệ thống tài chính thường đi liền với khủng hoảng tiền tệ, nhưng một cuộc
khủng hoảng tiền tệ thì không nhất thiết phải gắn với những rối loạn nghiêm trọng
trong hệ thống thanh toán quốc gia, và do đó có thể không đạt đến mức độ trở thành
khủng hoảng hệ thống tài chính. Một cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra khi tình
trạng ngân hàng thực tế hoặc có khả năng đổ vỡ buộc các chính phủ phải can thiệp
bằng các khoản trợ giúp tài chính lớn. Khủng hoảng ngân hàng tác động trên diện rộng,
tới nhiều thành phần của hệ thống kinh tế. Còn khủng hoảng nợ nước ngoài là tình
trạng một quốc gia không thể thực hiện nghĩa vụ với các khoản nợ nước ngoài của
mình, cả nợ chính phủ lẫn nợ tư nhân.

họ sở hữu căn nhà mà gia đình họ sinh sống. Quan điểm này tiếp tục được tiếp thu và
kế thừa qua các đời tổng thống Mỹ và là nguyên nhân ra đời của các tổ chức được
chính phủ bảo trợ (GSE – Government Sponsored Enterprise) như Fannie Mae, Freddie

14

Mac. Các tổ chức này dùng uy tín của chính phủ để giúp giảm lãi suất các khoản vay
địa ốc của người dân thông qua các công cụ tài chính như MBS (Mortgage – Backed
Securities - Chứng khoán có thế chấp). Cùng với quá trình toàn cầu hoá và quá trình
chuyển đổi sang kinh tế thị trường của khối xã hội chủ nghĩa trước đây, kinh tế toàn
cầu đã có một giai đoạn tăng trưởng rất mạnh trong suốt thập kỷ 90 và những năm đầu
thế kỷ XXI. Nổi lên trong giai đoạn này là các con hổ châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore, Hong Kong) và Trung Quốc, những nền kinh tế đã đi theo chiến lược phát
triển dựa vào xuất khẩu (export – led growth strategy). Kết quả chung của chiến lược
này là thặng dư mậu dịch đi đôi với tăng trưởng kinh tế. Khoản thặng dư mậu dịch này
của các nước đang phát triển và số tiền thặng dư xuất khẩu dầu mỏ của các nước OPEC
do giá dầu tăng vọt đã chủ yếu chảy vào Mỹ, nơi nhu cầu đầu tư vào địa ốc và chứng
khoán đang ngày càng nóng.
Hệ quả quan trọng thứ hai của chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu là sự cạnh
tranh gay gắt của các nhà sản xuất hàng tiêu dùng ở Trung Quốc và các nền kinh tế mới
nổi khác làm giá các mặt hàng này được giữ ở mức rất thấp. Điều này làm mức lạm
phát trên toàn thế giới giai đoạn 1990 – 2006 khá thấp, dẫn đến các ngân hàng trung
ương trong đó có FED đã giữ lãi suất ở mức thấp trong thời gian khá dài. Lãi suất thấp
và thanh khoản dồi dào đã bơm cho bong bóng giá nhà đất và chứng khoán tiếp tục
phình to trong những năm 2001 – 2006.
Ngoài ra, sự bùng nổ giá bất động sản ở Mỹ và một số nước phát triển là do sự ra
đời của hai loại sản phẩm tài chính được cho là có khả năng giảm bớt rủi ro cho các
nhà đầu tư, đặc biệt là rủi ro cho vay bất động sản. Đó là chứng khoán có thế chấp
(MBS) – hình thức chứng khoán hoá các khoản cho vay bất động sản với sự đảm bảo
của các GSE hoặc được mua bảo hiểm và CDO (collateralized-debt-obligations – nghĩa

cắt giảm lãi suất, trực tiếp bơm tiền cứu các ngân hàng đầu tư lớn như Bear Sterns,
Indy Mac (tháng 3/2008), Fannie Mae và Fredie Mac (tháng 7/2008). Khủng hoảng tài
chính Mỹ đã tác động mạnh đến thị trường tài chính châu Âu, khiến nhiều ngân hàng

16

có nguy cơ đổ vỡ dây chuyền buộc châu Âu phải giải cứu (ví dụ như IKD của Đức,
Northern Rocks của Anh, …). Tháng 9/2008, thị trường tài chính Mỹ diễn biến xấu rất
nhanh. Ngày 8/9/2008, tập đoàn Fannie Mae và Freddie Mac nhận trợ giúp 200 tỷ USD
và chịu sự quản lý của Chính phủ Mỹ. Ngày 15/9/2008, ngân hàng Lehman Brothers
nộp đơn phá sản với tổng số nợ lên đến 613 tỷ USD. Ngân hàng Merrill Lynch được
Ngân hàng Mỹ (Bank of America - BA) mua lại với 50 tỷ USD. Ngày 16/9/2008,
Chính phủ Mỹ phải cho tập đoàn quốc tế Mỹ (AIG) vay 85 tỷ USD và xem xét đưa vào
diện quản lý. Ngân hàng đầu tư Morgan Stanley bị tập đoàn tài chính Mitsubishi (Nhật)
mua lại 20% cổ phần. Các tập đoàn tài chính lớn, trong đó có Washington Mutual, JP
Morgan và Goldman Sachs bị thua lỗ nặng và gặp nhiều khó khăn. Cơ quan bảo hiểm
tiền gửi liên bang (FDIC) Mỹ cho biết 117 tổ chức tài chính ngân hàng Mỹ trong tình
trạng “báo động đỏ”. Đến cuối năm 2008, đã có 25 ngân hàng Mỹ bị giải thể. Trong 6
tháng đầu năm 2009, đã đóng cửa thêm 52 ngân hàng, gấp đôi số ngân hàng đóng cửa
năm 2008 (đầu tháng 7 vừa đóng cửa thêm 7 ngân hàng) .
Sự đổ vỡ của một số ngân hàng hàng đầu của Mỹ đã tác động mạnh vào hệ thống
tài chính – ngân hàng toàn cầu, đặc biệt là châu Âu. Quý IV/2009, hàng loạt các ngân
hàng lớn ở châu Âu đứng bên bờ phá sản và buộc Chính phủ các nước châu Âu phải
giải cứu ví dụ như Hypo Real Estate, Commerzbank (Đức), Glitnir (ngân hàng lớn thứ
ba ở Iceland), Bradford & Bingley (Anh), Fortis (Bỉ và Hà Lan).
Cuộc khủng hoảng này là cuộc khủng hoảng có một không hai, không chỉ bởi
mức độ ảnh hưởng sâu mà còn bởi mức độ ảnh hưởng toàn cầu của nó: gần như không
một nền kinh tế nào không bị ảnh hưởng. Khủng hoảng lan nhanh đến các quốc gia với
một tốc độ chóng mặt. Tất cả các nước phát triển đều bị suy thoái về kinh tế. Ở Hoa
Kỳ, các hoạt động kinh tế có xu hướng giảm khoảng 3%. Khủng hoảng tín dụng và thu

ở đây sẽ giảm mạnh. Cho đến nay, khủng hoảng toàn cầu có ảnh hưởng đến lục địa này
chủ yếu là qua thương mại. Riêng các nhà xuất khẩu dầu, khoáng sản và nguyên liệu
nông nghiệp thô chịu tác động nặng nề do giá các mặt hàng sơ cấp giảm đột ngột.

18

Đối với các nước Nam Mỹ và vùng biển Carribean, năm 2009, nhìn chung GDP
có xu hướng giảm khoảng 2%. Mexico là nước cảm nhận được sâu sắc nhất tác động
của cuộc khủng hoảng này với GDP giảm khoảng 7% do cầu nước ngoài giảm đối với
các sản phẩm công nghiệp và du lịch kém khởi sắc. Ảnh hưởng của khủng hoảng thể
hiện qua khối lượng thương mại giảm, đầu tư cố định giảm và sản lượng đầu ra sản
phẩm công nghiệp giảm. Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, ở tất cả các quốc gia lớn,
hầu hết các lĩnh vực này đều giảm đến hai con số.
Năm 2009, GDP cũng giảm ở một số nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Đây là các nước phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp, đặc biệt
là tư bản và hàng tiêu dùng có tuổi thọ cao. Mạng lưới dày đặc các ngành công nghiệp
trong khu vực này đã khiến cho cả sản lượng công nghiệp lẫn thương mại quốc tế cùng
nhau suy giảm. Hầu hết các nước Nam Á đều tiếp tục tăng trưởng vào năm 2009 nhưng
tốc độ tăng trưởng thấp. Các nước này chịu tác động của khủng hoảng thông qua luồng
vốn vào giảm, nguồn kiều hối giảm và cầu nước ngoài giảm. Tuy nhiên, do thị trường
nội địa là thị trường chính nên các nước Nam Á, cụ thể là Ấn Độ, vẫn được dự đoán là
tiếp tục tăng trưởng năm 2009. Ở Tây Á, GDP toàn khu vực nhìn chung là giảm nhẹ
tuy nhiên mức độ tăng trưởng của các quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Các nước
xuất khẩu dầu đã chịu tác động của nguồn thu thấp hơn từ xuất khẩu mà chủ yếu là do
giá hạ thấp và hạn ngạch giảm theo thỏa thuận của các nước trong Tổ chức Các nước
Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dẫn đến sản lượng dầu mỏ trên thực tế giảm. Đối với các
nước không xuất khẩu dầu và khí ga, tăng trưởng kinh tế cũng có xu hướng giảm do
lượng kiều hối cũng như xuất khẩu và du lịch giảm.
Vào giữa năm 2009 và ngay cả đầu năm 2010, viễn cảnh phục hồi kinh tế vẫn còn
rất xa vời mặc dù suy thoái kinh tế ở một số quốc gia phát triển đã được kìm chế chứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status