1
DẪN NHẬP
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống tư
tưởng Hồ Chí Minh vấn đề nông dân chiếm một vị trí đặc biệt. Chính vì
thế vấn đề nông dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những kiến giải sáng tạo,
đặc sắc, có tác dụng chỉ đạo lâu dài với cách mạng Việt Nam.
Ở nước ta, qua mọi thời kỳ nông dân luôn là mot lực lượng chính trị
xã hội, lực lượng sản xuất có vai trò quyết định thắng lợi của công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Ở Việt Nam, nông dân chiếm hơn 90% trong cộng đồng dân tộc,
nên giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân đế quốc thực chất là giải phóng
nông dân. Chỉ khi giai cấp nông dân được giác ngộ, đi theo Đảng thì sự
nghiệp giải phóng dân tộc mới thực sự có lực lượng, mới có điều kiện
thành công. Hồ Chí Minh đã xây dựng cái gốc của cách mạng là khối
liên minh công nông để đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của
Đảng, thực hiện nhiệm vụ dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh nông dân Việt Nam không chỉ là đối tượng giải
phóng mà còn là động lực, là gốc của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí
Minh tin tưởng nông dân đã anh dũng trong cách mạng, trong kháng
chiến thì trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục phát huy
truyền thống đó.
Thực tiễn khi bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội,
nông dân ta đã thể hiện tinh thần tích cực cách mạng của mình. Quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng là quá trình không ngừng nâng cao
đời sống người nông dân. Mục tiêu đó của cách mạng được thể hiện
trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Hồ Chí Minh nói
chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời
sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt
là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.
2
2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ
NÔNG DÂN:
Nông dân Việt Nam là một lực lượng to lớn trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước. Trong lịch sử, nông dân từng đi theo tiếng gọi thiêng
liêng của Tổ quốc, tự nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ cứu nước của các
anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Công Uẩn, Trần Hưng
Đạo, chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Trong thời kì thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, nông dân
là lực lượng đông đảo tham gia các cuộc khởi nghĩa của Trương Công
Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, để chống Pháp, nhưng cuối
cùng đều bị thất bại.
Chỉ sau khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tìm được con đường
cứu nước đúng đắn - giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô
sản, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì giai cấp nông dân mới
thực sự là gốc của cách mạng, góp phần to lớn vào mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam.
2.1. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống tốt đẹp của nông dân Việt
Nam
Việt Nam là một quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, với 54 dân tộc
anh em sinh sống trên một địa bàn mà thiên nhiên vừa ưu đãi lại vừa khắc
4
nghiệt. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều, đất đai rất thích hợp với việc trồn lúa nước và phát triển nhiều loài
động vật, thực vật.
Sự giao lưu kinh tế, văn hóa cũng vừa có thuận lợi cũng vừa có khó
khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là thường xuyên đứng trước sự xâm
lược của các thế lực bên ngoài.
Vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội đó cùng với cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm trong hàng nghìn năm đã tạo nên những đặc trưng cơ
bản của một dân tộc mà nông dân chiếm tuyệt đại đa số.
cư dân nông nghiệp Việt Nam luôn luôn kết hợp hà hòa với truyền thống
văn hóa tinh thần.
Tinh thần quý trọng độc lập, tự do, quý trọng nếp sinh hoạt và lao
động cộng đồng, tình đoàn kết "đùm bọc" lẫn nhau là cơ sỏ để người
nông dân Việt Nam tiếp thu có chọn lọc và Việt hóa các triết lý tôn giáo
từ nước ngoài du nhập vào thành triết lý yêu nước Việt Nam phục vụ cho
sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Cũng trên tinh thần ấy mà các cư dân
nông nghiệp Việt Nam đã tiếp thu các nền văn minh nhân loại: Trung
Quốc, Ấn Độ, Pháp, để cải tiến kỹ thuật canh tác, nâng cao mức sống
của mình.
Ý chí tự lập, tự cường, anh dũng, kiên cường, bất khuất, chống
ngoại xâm và chống phong kiến:
Trải qua hàng ngàn năm chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân
tộc và toàn vẹn lãnh thổ, nông dân Việt Nam đã tham gia và đánh thắng
các cuộc xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc để bảo vệ nền
độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.
Dưới chế độ phong kiến, đời sống của nông dân vô cùng cực khổ.
Họ không những phải chịu thu phep, tạp dịch, binh dịch mà còn bị các tập
đoàn phong kiến, địa chủ thống trị bóc lột nặng nề. Cũng như các giai cấp
bóc lột khác, giai cấp phong kiến địa chủ Việt Nam khi cần phải chống
6
ngoại xâm hoặc địa vị của họ "khoan thư sức dân". Nhưng khi đã được
giữa ngai vàng thì họ vơ vét , của cải của nông dân, chiếm ruộng đất, làm
cho nông dân ngày càng điêu đứng. Mâu thuẫn giữa nông dân với triều
đình phong kiến nảy sinh.
Từ năm 1858, chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược Việt Nam. Triều
đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp đi đến đầu hàng giặc. Khuất phục
được triều đình phong kiến, nhưng đế quốc Pháp không thể đè bẹp nổi ý
chỉ của nhân dân ta. Khắp nơi từ Nam chí Bắc, giặc Pháp đã vấp phải một
phong trào kháng chiến sô nổi và bền bỉ với khẩu hiệu "đánh cả triều lẫn
đại Việt Nam nhưng lại nảy sinh trực tiếp từ giai cấp nông dân. Chiếm đa
số trong dân cư, giai cấp công nhân là một lực lượng cách mạng to lớn,
sớm có ý thức dân tộc, dân chủ. Họ chưa từng đi theo giai cấp tư sản dân
tộc không phải vì giai cấp tư sản Việt Nam ra đời sau giai cấp công nhân
mà còn vì nó yếu về kinh tế, bạc nhược về chính trị, không thể đáp ứng
được nhu cầu của nông dân và của dân tộc. Nông dân Việt Nam có tinh
thần cách mạng, nhưng đứng trước nhiệm vụ chống lại kẻ thù là đế quốc
tư bản phương Tây, họ không thể trở thành lực lượng lãnh đạo vì nông
không có hệ tư tưởng độc lập.
Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân đã mang trong mình dòng
máu quật cường, bất khuất của dân tộc. Hơn nữa, cũng như giai cấp nông
dân, từ khi ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã mang thân phận nô lệ
một cổ hai tròng: đế quốc, phong kiến. Sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa
đế quốc và tay sai của chúng khiến hận thù dân tộc và hận thù giai cấp
quyện vào nhau. Do đó, tinh thần đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp
trong người công nhân và nông dân không thể tách rời. Kẻ thù áp bức dân
tộc cũng là kẻ thù áp bức giai cấp, đó là chủ nghĩa đế quốc thực dân Pháp
và phong kiến tay sai của chúng.
Người công nhân và nông dân Việt Nam không những có mối quan
hệ nhà - làng - nước, mà còn có mối quan hệ huyết thống - họ tộc. Một
gia đình Việt Nam vừa có người nông dân, vừa có công nhân và người
1
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 (1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 171.
8
làm những nghề khác. Ở đây, mối quan hệ huyết thống giữa người công
nhân và người nông dân quyện vào nhau, vừa là gia đình, vừa là xã hội.
Điều đó đã tạo tiền đề cho sự hình thành liên minh chiến đấu chống đế
quốc và phong kiến một cách tự nhiên giữa công nhân và nông dân.
Từ ngày ra đời, giai cấp công nhân đã tham gia phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc mà lực lượng đông đảo nhất là nông dân. Năm 1908
1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, cao trào Mặt trận dân chủ
Đông Dương và cao trào kháng Nhật cứu nước đã dẫn đến thắng lợi của
Tổng khởi nghĩa tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Tổng kết 30 năm hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
viết: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào
đầu năm 1930”
2
.
2.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin
Ở các nước tư bản phương Tây, giai cấp nông dân đã từng là đồng
minh của giai cấp tư sản trong cuộc chiến đấu chống chế độ phong kiến,
xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa. Song khi đã giành thắng lợi, nắm được
chính quyền, giai cấp tư sản liền quay lại đàn áp giai cấp công nhân và
nông dân - những người đồng minh đã đem lại địa vị thống trị cho họ.
Qua nghiên cứu lịch sử phong trào nông dân, phân tích về mặt lý
luận và hình thức đấu tranh giai cấp, Mác và Ăngghen đã kết luận về
những hạn chế của phong trào này và triển vọng của cách mạng vô sản
thế giới. Hai ông khẳng định trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, người
nông dân không thể tự mình giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, rằng
lối thoát duy nhất của họ là thắng lợi của cách mạn vô sản.
Mác và Ăngghen chẳng những chỉ cho giai cấp vô sản thấy rõ sự cần
thiết phải lôi kéo nông dân về phía mình để giành lấy chính quyền mà còn
2
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, (1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 8.
10
vạch ra con đường và biện pháp đưa nông dân đi cùng với giai cấp công
nhân tiến lên xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản văn minh.
Khi chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc,
đạo của chính quyền nhà nước. Lênin cho rằng nếu không có sự liên minh
ấy thì không thể có sự dân chủ vững bền, không thể có cải tạo xã hội chủ
nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi nước Nga xô viết bước vào giai
đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin chỉ rõ đối tượng liên minh của
giai cấp vô sản là tầng lớp trung nông và nội dung liên minh là liên minh
kinh tế. Sau khi chế độ sở hưu phong kiến ruộng đất bị xóa bỏ, trung
nông trở nên đông hơn và chỉ có liên minh với trung nông mới cô lập
được tầng lớp phú nông và tư sản nông thôn để cải tạo họ theo con đường
xã hội chủ nghĩa.
Lênin gọi liên minh công nông là "điều kiện cần thiết và đầy đủ cho
sự vững mạnh" của chính quyền xô viết. Ông viết: “Sức mạnh chủ yếu và
chỗ dựa của chính quyền xô viết là ở sự liên minh đó, vì nó bảo đảm cho
chúng ta hoàn thành tốt công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, công cuộc
chiến thắng bọn tư bản, thủ tiêu mọi sự bóc lột”
3
Cùng vơi chính sách kinh tế mới, Lênin còn đề ra các biện pháp để
giải quyết khó khăn, thực tế để xây dựng hợp tác xã cho phù với chính
sách kinh tế mới. Theo Lênin thì việc đưa nông dân đi vào làm ăn tập thể
là một nhiêm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp và phải lâu dài. Dựa vào kế
hoạch hợp tác hóa của Lênin, Đảng Cộng sản quyết định phải tăng cường
vai trò của hợp tác xã tiêu thụ, phát triển hợp tác xã nông nghiệp và hợp
tác xã tín dụng.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xô viết trở thành
nguồn động viên cổ vũ và giúp đỡ tận tình đối với các dân tộc đang đấu
tranh cho độc lập dân tộc, trong đó có Việt Nam.
Xuất phát từ đặc điểm nước ta và phong trào nông dân, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã tiếp thu vàn vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về
3
V. I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 43, NXB Tiến bộ, Matxcova, tr. 457.
12
nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn
đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng nông dân do giai
cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính
quyền của công nông. Vì vậy, trải qua các thời kỳ Đảng ta đã nắm vững
4
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 3.
5
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 80.
6
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 487.
13
và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, cũng cố liên minh công nông”
7
.
3. TƯ TƯỜNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VÀ
PHONG TRÀO NÔNG DÂN
3.1. Giai cấp nông dân là động lực cách mạng to lớn nhưng lại không
có khả năng lãnh đạo cách mạng
Nghiên cứu nông dân thuộc địa, Hồ Chí Minh nhìn thấy sức mạnh,
lực lượng hùng hậu của họ còn đang tiềm ẩn, chưa được khơi dậy, hoặc
chưa được hướng dẫn, tổ chức làm cách mạng cho nên có khởi nghĩa họ
cũng thất bại. Trong Báo cáo đọc tại phiên họp 25 Đại hội V Quốc tế
Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đề cập: “Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã
chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần
nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn ở trong tình trạng
tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo.
Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán
bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải
phóng”
8
thực dân đầu độc cả về tinh thần và thể xác, bị giam hãm trong vòng nô lệ
và tối tăm đã mất hết khả năng cách mạng, cải tạo xã hội. Người khẳng
định đanh thép: "Không! Người Đông Dương không chết. Người Đông
Dương vẫn sống, sống mãi mãi". Nhưng để nhân dân Đông Dương, nhân
dân thuộc địa có thể đứng lên làm cách mạng, Nguyễn Ái Quốc rất nhiều
lần yêu cầu sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản. Người nói: "Tuy rằng Quốc
tế cộng sản đã làm cho vấn đề thuộc địa có được tầm quan trọng xứng
đáng với nó bằng cách coi nó là thuộc về những vấn đề thời sự khẩn
trương nhất, nhưng trong thực tiễn, các Ban thuộc địa ở các cường quốc
thực dân, cho đến nay, vẫn chưa quan tâm đến vấn đề này, thậm chí các
Ban này cũng chưa xem xét vấn đề một cách nghiêm túc". Cách giúp đỡ
tốt nhất từ phía Quốc tế Cộng sản cho nhân dân thuộc địa, theo Hồ Chí
Minh là việc giúp đỡ họ đào tạo cán bộ, mở lớp huấn luyện và các
phương tiện tuyên truyền lý luận học thuyết Mác - Lênin trong quần
chúng nhân dân, đặc biệt giúp và tạo điều kiện cho các nước thuộc địa
xây dựng được tổ chức Đảng của mình. Hồ Chí Minh viết: “Trước hết
phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng,
ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng
có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cấm lái có vững
thuyền mới chạy”
10
. Từ lý luận đến thực tiễn có khi là cả một vấn đề cần
phải có thời gian làm chuyển hóa nhận thức. Nhưng đối với Hồ Chí
10
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 267.
15
Minh, việc áp dụng lý luận vào thực tiễn được tiến hành rất mau lẹ. Sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của quá trình truyền bá tư
tưởng, lý luận học thuyết Mác - Lênin, đồng thời khẳng định ý chí quyết
tâm của Hồ Chí Minh trong việc thành lập một Đảng mác xít ở một nước
sự nghiệp cách mạng ở thuộc địa, trí tuệ sáng suốt của Người vẫn luôn
nhắc nhở các nhà lý luận và các lãnh tụ cách mạng rằng: “Trong thời đại
ngày nay, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và có sứ mệnh
lịch sử lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng bằng cách liên minh
với nông dân”. Người cảnh báo: “Những trào lưu cơ hội chủ nghĩa, phỉnh
nịnh nông dân, cho nông dân là lực lượng chủ yếu, là động lực duy nhất
của cách mạng, là độ ngũ cách mạng nhất chỉ dẫn đến chủ nghĩa phiêu,
chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ và đi tới phản bội chủ nghĩa Lênin”
11
.
Rõ ràng theo Hồ Chí Minh, con đường giai phóng của giai cấp nông dân
thuộc địa nói chung, nông dân Việt Nam nói riêng muốn giành được
thắng lợi cuối cùng tất yếu phải có sự lãnh đạo của chính Đảng vô sản,
phải được tổ chức trong khối liên minh công nông. Đó là lý luận và cũng
là chân lý thực tiễn.
3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề nông dân trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hôi
3.2.1. Nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc
“Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân" hay
vấn đề nông dân là nên tảng của vấn đề dân tộc. Luận điểm này được
Hồ Chí Minh nêu rõ vào ngày 25 - 11 - 1953, khi Người đọc báo cáo
trước Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động
Việt Nam
12
.
Vấn đề nông dân là nên tảng của vấn đề dân tộc. Đây là một luận
điểm chẳng những nói lên đặc điểm lớn nhất của dân cư Việt Nam, mà
còn chỉ rõ thực chất mâu thuẫn dân tộc trong xã hội Việt Nam thuộc
11
Nguyễn Ái Quốc, Tham luận đọc tại Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Nông dân 10/1923, báo Nhân
bọn thực dân chiếm cả những tư liệu sản xuất chủ yếu khác của họ để
khai thác ruộng đất đó và biến luôn họ thanh những tá điền, thực hiện
"chế độ nô lệ hiện đại hóa", bóc lột thậm tệ sức lao động của họ. "Như
vậy là nông dân An Nam đã biến thành nông nô và buộc phải cày cấy
ruộng đất của chính mình cho bọn chủ nước ngoài".
13
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 204.
18
Được chính quyền nhượng gần như cho không hàng chục ngàn
hécta đất đai màu mỡ, bọn chủ đồn điền thực dân chẳng khác gì bọn
chúa phong kiến tân thời. Chúng chiếm đoạt của tá điền có khi tới 90%
sản lượng thu hoạch. Chúng có lính canh gác, nếu tá điền hoặc công
nhân nông nghiệp bản xứ nổi dậy thì liền bị hành hạ hết cách, như đối
xử, đánh đập một con vật bẩn thỉu.
Cũng lả dân thuộc địa, nhưng so với người nông dân Ấn Độ, Mã
Lai, Nam Dương, người nông dân An Nam dưới chế độ thực dân Pháp
phải đóng thuế ruộng nhiều hơn, trong khi đó người nông dân các thuộc
địa này có thể đóng góp dễ dàng số thuế quá nặng đối với người An
Nam, vì đời sống kinh tế của họ cao hơn ở An Nam rất nhiều.
Cũng theo khảo sát, nhận định của Hồ Chí Minh, đế quốc Pháp cố
tình duy trì gần như nguyên vẹn giai cấp địa chủ phong kiến và phương
thức bóc lột ruộng đất phong kiến ở An Nam. Bọn thực dân tìm thấy ở
giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam một đồng minh trung thành và
một chỗ dựa vững chắc. Còn giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam vì
quyền lợi giai cấp riêng của mình mà bán nước hại dân, cam tâm làm
tay sai cho giặc. Vì vậy, đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến
Việt Nam cấu kết chặt chẽ với nhau để giữ nền thống trị thực dân phong
kiến áp bức bóc lột nhân dân. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản
Pháp duy trì, sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến đã lỗi thời, phản động
còn để ngăn cản sự phát triển của thuộc địa, kìm hãm nhân dân thuộc
lý rượu và thuốc phiện cho 1000 làng ở Việt Nam. Vì thế, hầu hết
người dân An Nam không biết chữ. Càng nghèo khổ, số người thất học
càng nhiều, nhất là nông dân, mặc dù người An Nam rất hiếu học. "Sự
dốt nát đã khiên cho nông dân trở thành một công cụ dễ sai khiến trong
tay thế lực phản cách mạng".
Theo Hồ Chí Minh, từ những năm 20 của thế kỉ XX, trong xã hội
Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến, nông dân là bộ phận chiếm tuyệ
địa đa số trong dân cư. Họ vừa là người dân mất nước, vừa là người nô
lệ hiện đại bị thực dân, phong kiến áp bức, bóc lột hơn ai hết trong dân
14
Hồ Chí Minh (1995), toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 93.
20
tộc và năng nệ hơn cả dưới chế độ phong kiến độc lập. Do đó, mâu
thuẫn trong xã hội này chủ yếu là mâu thuẫn giữa nông dân và chủ
nghĩa đế quốc, phong kiến tay sai. Từ nhận thức đó Hồ Chí Min chỉ rõ:
"Nội dung cách mạng dân chủ căn bản là giải phóng nông dân, chia
ruộng đất cho nông dân. Nội dung cách mạng dân tộc cũng là giải
phóng nông dân", hay vấn đề nông dân trong cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân là nền tảng vấn đề dân tộc. Quan điểm này của Hồ Chí
Minh hoàn toàn thống nhất với tư tưởng của Người về thực chất của
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Đó là cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc, chủ yếu là giải phóng nông dân, bao gồm cả
nhiệm vụ xóa bỏ tàn tích của chế độ phong kiến, thực hiện những quyền
dân chủ cho nhân dân, trong đó trước hết và quan trọng nhất là các
quyền về ruộng đất cho nông dân.
Trên cơ sở tổng kết cách mạng ở các nước thuộc địa nói chung, ở
Việt Nam nói riêng, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Sự thật là cuộc cách
mạng ở các nước thuộc địa lúc đầu và trước hết là cuộc cách mạng nông
dân. Cuộc cách mạng ấy không tách rời cuộc cách mạng chống phong
kiến".
trên cơ sở nghiên cứu lịch sử cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh thấy rõ
vai trò của nông dân các dân tộc trên thế giới trong đấu tranh cách
mạng. Từ lịch sử cách mạng Pháp, cách mạng Nga, Hồ Chí Minh rút ra
bài học cho cách mạng Việt Nam: "Cách mạng Nga dạy cho chúng ta
rằng muốn làm cách mạng thành công thì phải lấy dân chúng làm gốc".
Những kết luận rút ra qua các phong trào dân tộc ở Việt Nam và
các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới nêu trên góp phần nào quan
trọng vào việc hình thành ở Hồ Chí Minh một quan điểm lớn, đúng đắn
của cách mạng Việt Nam. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh nông dân
Việt Nam là lực lượng cách mạng to lớn. Nếu giai cấp công nhân và
Đảng Cộng sản không lôi kéo được lực lượng đông đảo nhất này trong
22
dân tộc về phía mình thì không thể đưa cách mạng đến thành công.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 với đường lối cách
mạng đáp ứng được cả hai nguyện vọng cơ bản, sâu xa của nông dân
Việt Nam là độc lập dân tộc và "dân cày có ruộng". Vì vậy, tinh thần
yêu nước nồng nàn, khả năng làm cach mạng to lớn của nông dân được
nhân lên gấp bội và nhằm trúng vào kẻ thù dân tộc và kẻ thù giai cấp là
thực dân đế quốc, phong kiến tay sai để đấu tranh. Phong trào cách
mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã chứng minh
hùng hồn điều này. Từ đây, dưới ngọn cờ đấu tranh của Đảng Cộng sản
Việt Nam, nông dân Việt Nam luôn luôn là lực lượng cách mạng to lớn
nhất trong dân tộc.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, một mặt khẳng định
Đảng ta và Hồ Chí Minh có đường lối, phương pháp cách mạng đúng
đắn, có sự chỉ đạo cách mạng tài tình, mặt khác chứng tỏ nông dân lao
động nước ta theo Đảng, theo Bác, trung thành với giai cấp công nhân,
quyết tâm chống đế quốc xâm lược, chống phong kiến tay sai. Nhờ
được nhân dân, chủ yếu là nông dân, ủng hộ, đi theo cách mạng Việt
Nam từ một nhóm nhỏ ở bản Pác Bó đã lớn lên không ngừng và làm
trước hết giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam phải được
giai cấp nông dân ủng hộ, phải liên minh chặt chẽ với giai cấp nông
dân. Quan điểm này của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở quán
triệt lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản, đồng thời
từ những kết luận cùa Người sau khi nghiên cứu cách mạng các nước
trên thế giới và từ tực tiễn cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp ở
Việt Nam.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến liên minh công nông trong
cách mạng dân tộc dân chủ còn vì, theo Người, sự liên minh này "làm
cái nền tảng trên đó có thể thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất
rộng rãi và vững chắc".
24
Đoàn kết toàn dân trong mặt trận thống nhất rộng rãi được Hồ Chí
Minh quan tâm hàng đầu khi xây dựng lực lượng cách mạng đấu tranh
chống đế quốc, chống phong kiến. Việc Người tổ chức mặt trận Việt
Minh ngay trong ngày tháng đầu tiên về nước, sau 30 năm bôn ba khắp
thế giới tìm đường cứu nước, cũng như việc Người luôn hết sức quan
tâm củng cố, phát triển mặt trận này và các hội, liên minh yêu nước
khác trong dân tộc suốt gần 30 năm trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt
Nam đã chứng tỏ điều đó. Khi xây dựng mặt trận thống nhất, thực hiện
đoàn kết dân tộc, trước hết Hồ Chí minh quan tâm xây dựng khối liên
minh công nông do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Trên cơ sở
khối liên minh công nông đông đảo, vững mạnh. Ngườ thực hiện đoàn
kết tất cả các lực lượng, Đảng phái, cá nhân có tinh thần dân tộc, dân
chủ trong mât trận dân tộc thống nhất phấn đấu cho một nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Theo Hồ Chí Minh, Mặt trận
dân tộc thống nhất càng rộng rãi, càng chặt chẽ thì lực lượng cách mạng
càng hùng hậu, sức mạnh cách mạng càng to lớn. Muốn vậy, giai cấp
công nhân trước hết phải thu phục được nông dân, phải liên minh chặt
chống đế quốc Pháp, phong kiến và tư sản Việt Nam tay sai đế quốc
nhằm giành lại độc lập hoàn toàn cho nước Nam và ruộng đất cho nông
dân nghèo. Hồ Chí Minh nhất quán quan điểm này trong suốt cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, chính quyền dân
chủ nhân dân do Hồ Chí Minh đứng đầu tiến hành tịch thu đồn điền, đất
đai của đế quốc , Việt gian đem chia cho nông dân nghèo, đồng thời
thực hiện giảm tô 25%. Trong kháng chiến chống Pháp, hai chính sách
này được Hồ Chí Minh và Đảng ta xem là những chính sách chủ yếu
nhằm tiếp tục giải quyết vấn đề nông dân, giữ vững đoàn kết giữa nông
dân nghèo và địa chủ để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công,