CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NGƯỜI KHAI SINH NỀN LÝ LUẬN CÁCH MẠNG MỚI CỦA VIỆT NAM - Pdf 15

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI KHAI SINH NỀN LÝ LUẬN CÁCH
MẠNG MỚI CỦA VIỆT NAM

ThS Hoàng Ngọc Vĩnh, ĐHKH Huế
Sinh thời, Hồ Chí Minh không tự nhận mình là một nhà lý luận. Toàn bộ cuộc
đời và sự nghiệp cách mạng của Người là sự lặn lộn với thực tiễn cách mạng Việt
Nam và cách mạng thế giới để tìm ra con đường cách mạng khoa học đưa cách mạng
Việt Nam đến thắng lợi.
Tuy nhiên, Người từng dạy chúng ta rằng: “Thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận
hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý
luận suông”
1
; “Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: kém lý luận, hoặc khinh lý luận,
hoặc lý luận suông”
2
; “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà
không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”
3
; “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực
hành phải nhằm theo lý luận Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng,
để lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”
4
Cách nói, cách viết của Người là làm sao
cho dân ta ai cũng hiểu được, nhớ được và làm được. Vì thế, cùng một khái niệm, một
vấn đề, nhưng với các đối tượng người khác nhau, với tính chất của các hội nghị khác
nhau, Người đã có nhiều cách khác nhau để diễn đạt nó.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người, với di sản vô giá Người để lại
cho mai sau chứng tỏ Hồ Chí Minh không chỉ là một thiên tài tổ chức, thực hiện thực
tiễn, mà Hồ Chí Minh còn là một nhà lý luận thiên tài của Đảng Cộng sản Việt Nam
và của Dân tộc Việt Nam:

Qua các tác phẩm của Người: “Bản yêu sách tám điểm” 1919, “Đường Kách
mệnh” 1927, “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng” 1930, phải thấy rằng, từ một người Việt
Nam yêu nước nồng nhiệt, Người đã bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người
Việt Nam cộng sản đầu tiên, rồi nhanh chóng trở thành một trong các lãnh tụ của
Quốc tế Cộng sản. Từ đó Người đã rút ra kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường
cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do Lênin vạch ra, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân
tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa,
thực hiện chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam. Đó là đường lối cách
mạng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ
nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và giải phóng con người.
2. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đóng góp to lớn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
a) Độc lập - tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” là điểm xuất phát và là nội dung lớn
nhất, bao trùm nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ 1919, trong “Bản yêu sách tám điểm” gửi đến Hội nghị Véc-xây, Hồ Chí
Minh cũng chính là người Việt Nam đầu tiên đã thống nhất hai nội dung Độc lập dân
tộc và Tự do của nhân dân trong lịch sử Việt Nam.
Tư tưởng của Người về cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm các luận điểm:
Phải đi theo con đường cách mạng vô sản; Phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo; Phải là sự nghiệp của toàn dân được thực hiện trên nền tảng liên minh công-
nông; Nếu thực hiện chủ động và sáng tạo thì có khả năng thắng lợi trước cách mạng
ở chính quốc; Phải được thực hiện bằng con đường bạo lực cách mạng.
Dưới ánh sáng “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin
và tấm gương cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa
Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp

. “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không
chịu làm nô lệ”. “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, thì cũng phải quyết tâm đánh
thắng giặc Mỹ xâm lược”
7
. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5
năm, mười năm, hai mươi năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
phố khác có thể bị tàn phá, thì chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược”
8
.
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”
9
là chân lý sáng ngời thời đại do Người
vạch ra mãi soi sáng cho cách mạng Việt Nam và cách mạng nhân loại.
b) Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi, bao
trùm và xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nếu trong “Bản yêu sách tám điểm” gửi đến Hội nghị Véc-xây là sự thống nhất
giữa độc lập dân tộc với tự do của nhân dân, thì trong “Đường Kách mệnh” và trong
“Cương lĩnh đầu tiên của Đảng” là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với CNXH. Thì
kể từ “Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” đến các “Lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến” sau này, trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất
giữa độc lập dân tộc gắn liền với CNXH và quyết tâm cao nhất của dân tộc nhằm giữ
vững mục tiêu cao cả Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Tư tưởng dân tộc của Người bao gồm các nội dung cơ bản: Độc lập-tư do là
quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc; Trong thời đại ngày nay, chủ
nghĩa dân tộc chân chính vẫn là một động lực lớn của các dân tộc; Kết hợp nhuần
nhuyễn các vấn đề dân tộc-giai cấp, độc lập dân tộc-chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu
nước truyền thống-chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng vừa giành độc lập cho dân
tộc mình, vừa giành độc lập cho dân tộc bạn; Các luận điểm của Người về cách mạng
giải phóng dân tộc. Ở đó, chủ nghĩa dân tộc chân chính là sự phát triển chủ nghĩa

Nam thể hiện ở các điểm chính sau:
Thứ nhất: Bằng việc đặt ra và trả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
gì?”, trên cơ sở tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin từ các phương diện đạo đức, văn hóa,
xã hội, tùy vào các đối tượng người Việt Nam khác nhau, các góc độ xem xét và mục
đích của mỗi Hội nghị khác nhau, mà Hồ Chí Minh đưa ra nhiều định nghĩa về chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ những quan điểm cụ thể khác nhau ấy của Người về chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà Người đã xác định CNXH ở Việt Nam có 5 đặc trưng
bản chất.
Khi trả lời cho câu hỏi “Làm gì để có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?”, Hồ Chí
Minh đã xác định 5 mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các mục tiêu này (cả
phương diện tổng quát và cụ thể) quan hệ biện chứng với 5 đặc trưng bản chất, là sự
cụ thể hóa 5 đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam.
Những đặc trưng bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư
tưởng triết học Hồ Chí Minh, đã chứa đựng trong đó một hệ thống các giá trị đặc thù,
mà giá trị trung tâm là con người với các nhu cầu lợi ích của nó. Con người là mục
tiêu phát triển.
Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là xã hội của con người, vì con người, chế
độ xã hội đó mang bản chất dân chủ, nhân đạo trong tiến trình vận động xã hội loài
người.
Thứ hai, khi trả lời cho câu hỏi “Làm gì để có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?”,
Hồ Chí Minh đồng thời đã chỉ ra các động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là:
Một: Động lực hiểu theo nghĩa rộng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sử dụng
đồng bộ các đòn bẩy về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nhằm kích thích tính tích
cực của người lao động. Ở nghĩa rộng, Người nhấn mạnh hai nội dung: Tính đồng bộ
trong sử dụng các đòn bẩy và trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước
trong sử dụng đồng bộ các đòn bẩy.
10
Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 161; tập 12, trang
517.

Thứ ba: Hồ Chí Minh là người đầu tiên ở phương Đông chủ trương xây dựng
CNXH với nền kinh tế nhiều thành phần. Trong sửa sai cải cách ruộng đất, từ 1955
Người đã chủ trương và quy định cho người nông dân miền Bắc có ruộng 5%. Trong
lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc ngày ấy, Người thường bàn về kinh
tế nhiều thành phần ở nước ta. Điều này một lần nữa cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh
rất trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của Lênin trong “Chính sách kinh tế
mới” vào Việt Nam. Đồng thời, quan điểm ấy cho đến nay đã và đang là một động lực
to lớn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Thứ tư: Hồ Chí Minh là người đầu tiên trên thế giới chủ trương chia nhỏ thời kỳ
quá độ lên CNXH thành nhiều bước đi. Người không chỉ rõ phải chia thời kỳ quá độ
lên CNXH thành bao nhiêu bước đi, nhưng thông qua các cách diễn đạt khác nhau của
Người về tiến dần lên CNXH ở Việt Nam, thì cách chia nhỏ của Người là quy mô,
trình độ, tốc độ của mỗi bước đi phải tùy thuộc vào thành tựu của quá trình CNH,
HĐH đất nước ở mỗi thời kỳ. CNH, HĐH đất nước là một trong những điều kiện tiên
quyết của CNXH thắng lợi ở Việt Nam.
11
Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, trang 227.
5
Thứ năm: Xuất phát từ trình độ rất thấp của Việt Nam, mà Người đã chỉ ra tầm
quan trọng to lớn của quyết tâm dân tộc khi thực hiện mục tiêu CNXH. Người từng
dạy, làm CNXH ở Việt Nam là “kế hoạch 10 phần, thì biện pháp phải 15 phần và
quyết tâm phải 20”
12
.
Thứ sáu: Theo Hồ chí Minh muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam phải đảm bảo 4 nguyên tắc: Một: Phải đảm bảo một cách tuyệt đối sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai: Phải nâng cao trình độ, năng lực quản lý nhà
nước đối với toàn xã hội. Ba: Phải mở rộng và tăng cường hoạt động chủ động và tích
cực có hiệu quả của các tổ chức chính trị quần chúng. Bốn: Phải đào tạo đủ đội ngũ
cán bộ có đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của lịch sử.

phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”, “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa
12
Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 54.
6
Lênin”
13

Để đạt mục tiêu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: phải dựa vào
lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, phải làm cho chủ nghĩa
Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt có nghĩa là Đảng ta nắm vững tinh thần
của chủ nghĩa Mác-Lênin, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-
Lênin, đồng thời nắm vững tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại vận dụng sáng
tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Không máy móc, kinh viện, giáo điều.
Vì vậy, trong tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh lưu ý những điểm sau đây: Học tập, nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-
Lênin phải luôn phù hợp với hoàn cảnh và từng đối tượng; Vận dụng phải phù hợp
từng hoàn cảnh; Chú ý học tập, kế thừa kinh nghiệm tốt của các Đảng cộng sản khác,
tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ sung cho chủ nghĩa Mác-Lênin; Đảng tăng
cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Lý luận xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự
trung thành của Người với những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của Lênin.
Đồng thời quan điểm về quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam “là kết quả của
sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Việt Nam”, quan niệm xây dựng “Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là Đảng của
giai cấp công nhân mà còn là Đảng của Dân tộc, Đảng của Nhân dân Việt Nam”
14
là

; Người đánh giá đúng, đề cao sức
mạnh và phát huy tinh thần quật cường của “nhân dân ta có truyền thống nồng nàn
yêu nước, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng thì triệu người như một xông lên phía trước,
quyết giữ gìn và bảo vệ độc lập dân tộc”
16
, mà luôn thực hiện đường lối cách mạng
đại đoàn kết toàn dân, với nguyên tắc “tin dân, dựa vào dân”, khẳng định sức mạnh vô
tận, vô địch của dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng
qua”
17
, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
18
;
Và một trong các cơ sở của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc theo
phương châm “quân với dân như cá với nước”
19
, “tất cả sức mạnh đều từ dân mà ra”
20
.
Đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, lâu dài, trong cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đại đoàn
kết của Hồ Chí Minh (đoàn kết trong Đảng là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết dân tộc là
sức mạnh vô tận vô địch quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đoàn kết quốc
tế là nhân tố bảo đảm cho sự thắng lợi triệt để của cách mạng Việt Nam) mãi mãi là
một sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
5. Xây dựng Nhà nước Việt Nam thành Nhà nước của dân, do dân và vì dân
là cống hiến vĩ đại của Người vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về
nhà nước.
Từ việc nghiên cứu kỹ các mô hình nhà nước trong lịch sử dân tộc cũng như trên
thế giới, Người đã lựa chọn một mô hình nhà nước phù hợp với thực tế của Việt Nam:

Xem Sđd, tập 4, trang 101; tập 5, trang 55, 409.
21
Sđd, tập 2, trang 270.
22
Sđd, tập 5, trang 698.
8
Điểm khác nhau giữa nhà nước ta với nhà nước bóc lột đã từng tồn tại trong
lịch sử là Nhà nước của dân; Nhà nước do dân; Nhà nước vì dân.
Mọi hoạt động của chính quyền phải nhằm mục tiêu mang lại quyền lợi cho nhân
dân và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu lâu dài. Trách nhiệm của Nhà nước là
nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, mà trước hết là: “Làm cho dân
có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”
23
;
“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức
tránh”
24
Hồ Chí Minh chú ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với cán
bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân uỷ quyền. Là người
phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân.
Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, vừa hiền lại vừa minh. Dân là chủ và dân làm chủ
nên nhân dân là người phải hiểu, phải nắm vững và thực hiện nghiêm túc các đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hồ Chí Minh là người Chủ tịch suốt đời vì dân. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có
một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ Quốc, và hạnh phúc của nhân dân”
25
.
b) Nhà nước của dân, do dân, vì dân là sự thống nhất giữa bản chất giai cấp
công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là nhà

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 4, tr.240
26
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 9, tr.586
27
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 6, tr.175
9
Sau đó, Người bắt tay xây dựng Hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà. Chính phủ hợp hiến là do nhân dân bầu ra. Chính phủ ấy mới có
đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.
Nhà nước pháp quyền nhân dân là hoạt động quản lý nhà nước phải bằng Hiến
pháp, Pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống: Theo Hồ Chí Minh, dân
chủ đích thực bao giờ cũng đi liền với kỷ cương, phép nước. Mọi quyền dân chủ của
người dân phải được thể chế hoá bằng hiến pháp và pháp luật; và ngược lại, hệ thống
pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong
thực tế.
Người đặc biệt quan tâm và có công lớn trong sự nghiệp lập hiến, lập pháp của
nước ta. Người luôn chăm lo hoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ nhân dân.
Theo Người, công bố luật mới chỉ là bước đầu, phải tuyên truyền giáo dục lâu
dài mới thực hiện luật được tốt. Phải đưa pháp luật vào đời sống một cách sâu rộng.
Phải “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của
mình, dám nói, dám làm”
28
. Pháp luật phải xét xử công bằng, nghiêm minh, “phải
thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề gì”
29
.
Trong Nhà nước của dân, do dân và vì dân đội ngũ cán bộ, công chức phải đủ
đức và đủ tài: Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công
chức. Người coi cán bộ nói chung “là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành

10
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng nhà nước của dân, do
dân và vì dân vào việc xây dựng nền dân chủ và Nhà nước kiểu mới ở nước ta hiện
nay, Nhà nước ta đã và đang tập trung vào những việc cần làm ngay là: Nhà nước phải
bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân; Phải kiện toàn bộ máy hành chính nhà
nước, làm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền XHCN có hiệu lực pháp
lý mạnh mẽ; Phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Nhà nước.
6. Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một trong những nguyên thủ quốc gia rất hiếm
của thế giới đồng thời nhà đạo đức học.
Người chỉ rõ: Đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người cách mạng phải
có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ
vang. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một thể thống nhất giữa đạo đức với chính
trị, đạo đức với tài năng, giữa nói và làm, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời
thường.
Hồ Chí Minh là tâm gương đạo đức cách mạng sáng ngời. Suốt cuộc đời và sự
nghiệp cách mạng của mình, vấn đề đạo đức cách mạng luôn được Người quan tâm ở
vị trí hàng đầu. Đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và dày công vun đắp cho
dân tộc Việt Nam là đạo đức suốt đời vì hạnh phúc nhân dân.
Là nhà đạo đức học, Người có nhiều tác phẩm chuyên về đạo đức. CCác tác
phẩm đạo đức tiêu biể của Người là “Sửa đổi lối làm việc” - 1947, “Đạo đức cách
mạng” – 1955 và 1958, “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” –
1969, “Di chúc” – 1965, 1967, 1968.
Người đề ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ,
trách nhiệm của từng đối tượng người Việt Nam. Với thiếu niên nhi đồng, là năm điều
Bác dạy
31
. Với thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, Người có sáu lời
khuyên
32

11
Với tự mình phải rất nghiêm khắc; Với người phải thật sự khoan dung, độ lượng; Với
công việc phải tận tâm, tận lực.
Trước Cách mạng Tháng Tám, chuẩn mực đạo đức được Người đặt lên hàng
đầu là vì độc lập của Tổ Quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, mối quan tâm hàng đầu
về chuẩn mực đạo đức của Người là liêm chính chí công vô tư, chăm lo cung phụng
lợi ích của nhân dân.
Người quy định 12 tư cách của Đảng chân chính cách mạng và căn dặn:
“Muốn cho Đảng được vững bền, Mười hai điều đó chớ quên điều nào”
36
. Về đạo đức
cách mạng của Đảng chân chính, Người viết: “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ
quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư”
37
. Người cũng quy định 6
điều về tư cách và 6 điều về bổn phận của đảng viên
38
. Ở đó, Người nhắc nhở, phải
luôn là kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi công việc. “Dân chúng đồng lòng, việc gì
cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”
39
.
Người kêu gọi: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của
Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá
nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết,
tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”
40
.
Trước khi đi gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin, Người căn dặn, sau khi cuộc kháng

Xem Sđd,Tập 12, Trang 439.
41
Xem Sđd,Tập 12, Trang 503.
12
sự kết tinh tinh hoa của dân tộc Việt Nam và trí tuệ của thời đại mãi mãi soi sáng cho
cách mạng Việt Nam và góp phần to lớn định hướng sự phát triển của nhân loại
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status