QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Đề tài
Quản trị chiến lược
của công ty SC
Johnson
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_051
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
MỤC LỤC
Đề tài 1
Quản trị chiến lược của công ty SC Johnson 1
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 5
A. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY SC JOHNSON 6
I. Giới thiệu chung về công ty SC Johnson 6
II. Lịch sử hình thành, quá trình phát triển và thành tựu của công ty 6
III. Thị trường và sản phẩm của công ty 8
a. Logo 10
b. Slogan 10
IV. Sứ mệnh và viễn cảnh của công ty 11
a. Giá trị cốt lõi 11
“Sự cam kết bền vững về tính đổi mới và chất lượng sản phẩm” 11
b. Mục đích cốt lõi 11
“Chúng tôi làm cho các ngôi nhà trở nên tốt đẹp hơn cho mọi gia đình ở khắp mọi nơi
trên thế giới” 11
a. Triết lý kinh doanh 12
b. Giới hữu quan 12
B. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 14
I. Môi trường vĩ mô 14
Nhận xét: 39
a. Đổi mới quy trình sản xuất 47
b. Tích hợp các mục tiêu môi trường bền vững 49
c. Phát triển nền văn hóa, lợi ích vượt trội 49
III. Chuỗi giá trị 51
a. Nghiên cứu và phát triển 52
b. Chức năng Marketing 52
c. Sản xuất 52
d. Dịch vụ khách hàng 53
a. Quản trị nguồn nhân lực 53
b. Cơ sở hạ tầng 54
c. Hệ thống thông tin 54
D. PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC 55
I. Chiến lược cấp công ty 55
II. Chiến lược toàn cầu 61
1. Sức ép giảm chi phí và đáp ứng địa phương ở Ấn Độ 61
a. Sức ép giảm chi phí 61
b. Đáp ứng địa phương 61
2. Các quyết định thâm nhập thị trường cơ bản 62
a. Lý do chọn thị trường Ấn Độ 62
b. Thời điểm thâm nhập 63
c. Quy mô và cách thức thâm nhập 63
3. Lựa chọn cách thức thâm nhập 63
4. Lựa chọn chiến lược 64
III. Chiến lược chức năng 65
1. Hiệu quả 65
a. Hoạt động sản xuất 65
b. Hoạt động Marketing 65
c. Chiến lược R&D 66
d. Hệ thống thông tin, Internet 67
http://www.forbes.com 79
http://www.schumachercargo.com 79
http://linkingsustainability.com 79
Danh sách nhóm: 79
1.Trần Thị Hiền 36k15.2 QTCL3_13 9 tín chỉ 79
2.Trần Thị Minh Toàn 36k15.2 QTCL3_3 11 tín chỉ 79
3. Võ Thị Thu Hương 36k15.2 QTCL3_3 11 tín chỉ 79
4 Nguyễn Hồng Diệu Linh 36k15.2 QTCL3_5 11 tín chỉ 79
Website công ty http://www.breadtalk.com/ 79
Nhóm đã đăng kí học sáng Thứ 5 lớp QTCL3_3 79
Chúng em chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của nhau 79
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_054
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
LỜI NÓI ĐẦU
Toàn nhân loại đã bước vào thế kỷ 21, thế kỷ bắt đầu với nhiều thay đổi đáng
kể trong môi trường kinh doanh toàn cầu như: nhiều công nghệ mới liên tục ra đời,
những quy định về quản lý chất lượng ngày càng chặt chẽ, môi trường thiên nhiên
có nhiều diễn biến bất thường khắp các châu lục,… Sự hoạt động của doanh
nghiệp phải gắn với toàn cục của nền kinh tế với sự hòa nhập khu vực và quốc tế
bằng sự tìm kiếm và phát huy lợi thế so sánh nhằm giành thắng lợi trong các cuộc
cạnh tranh ngày càng gay gắt trong phạm vi quốc gia, quốc tế và toàn cầu. Trong
bối cảnh đó, mỗi doanh nghiệp đều có những cơ hội mới để khai thác, đồng thời
vừa phải đối mặt với nhiều nguy cơ cần ngăn chặn. Chính vì vậy, để thích nghi với
môi trường kinh doanh đạt hiệu quả cao và thành công lâu dài đòi hỏi các doanh
nghiệp đều phải có tư duy chiến lược, nghĩa là phải có tầm nhìn dài hạn nhằm
hướng tới sự mềm dẻo cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp trước những diễn biến môi trường như hiện nay. Muốn đạt được điều đó thì
nghiệp hoạt động.
Đặt trụ sở tại Racine, Wisconsin, Mỹ, công ty là một trong những nhà sản xuất
hàng đầu thế giới về các sản phẩm chuyên làm sạch trong nhà, làm sạch không khí
và diệt côn trùng, giải pháp bảo quản đồ dùng và sản phẩm chăm sóc xe hơi. Công
ty sản xuất và bán các sản phẩm với các nhãn hiệu mang tên Glade, OFF!, Pledge,
Raid, Scrubbing Bubbles, Shout, Windex và Ziploc ở Mỹ và xa hơn nữa, với các
nhãn hiệu bán ngoài thị trường Mỹ bao gồm cả Autan, Baygon, Brise, Kabikiller,
Klear và Mr.Muscle. Công ty 125 năm tuổi, với hơn 8 tỷ USD doanh số bán hàng
mỗi năm, thuê khoảng 12.000 người trên toàn thế giới và bán các sản phẩm ở hầu
như tất cả các quốc gia trên thế giới.
Cho đến nay, SC Johnson đã qua 5 thế hệ trong gia đình Johnson quản lý, hiện
là công ty gia đình lớn thứ ba thế giới theo xếp hạng của tạp chí Forbes với doanh
số bán hàng được xếp hạng trong top 150 các công ty công nghiệp châu Mỹ. Kể từ
khi thành lập vào năm 1886, SC Johnson đã đạt được sự công nhận của các tổ
chức quốc tế trong việc nhận biết và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thông
qua các sản phẩm đổi mới được phát triển với cam kết đạt chất lượng cao và sự
thực hiện cam kết đó. Không những thế, SC Johnson luôn đảm bảo thực hiện tốt
các vấn đề môi trường, sức khỏe và phúc lợi của khách hàng.
II. Lịch sử hình thành, quá trình phát triển và thành tựu của công ty
1. Lịch sử hình thành
Câu chuyện của Samuel:
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_056
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Samuel Curtis Johnson - người sáng lập SC Johnson không tìm thấy thành
công một cách dễ dàng. Nhưng cuối cùng ông đã “khuấy” được nó lên trong một
bồn tắm ở Racine, Wisconsin - đó là sự thành công đã từng bị mắc kẹt. Hơn 120
năm sau, sự kiên trì và cam kết của ông đã đặt nền tảng cho SC Johnson ngày nay.
Năm 1906, Herbert F. Johnson, Sr, con trai của Samuel C. Johnson, trở thành
thành viên và công ty hoạt động dưới tên gọi SC Johnson.
Năm 1914, SC Johnson bắt đầu mở rộng ra nước ngoài với việc thành lập công
ty con ở Anh.
Năm 1917, SC Johnson chuyển từ kinh doanh sàn gỗ sang tập trung vào các
sản phẩm chăm sóc sàn nhà và gỗ.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_057
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
1956-1958, các nhãn hiệu Raid, Glade, OFF! và Pledge được giới thiệu.
Năm 1970, gel cạo râu Edge được giới thiệu như là sản phẩm chăm sóc cá
nhân đầu tiên của SC Johnson.
Năm 1992, SC Johnson mua lại Công ty Drackett, đưa các sản phẩm Windex,
Vanish và Drano trở thành các nhãn hiệu gia đình của họ.
Năm 1998, SC Johnson mua lại doanh nghiệp DowBrands, bổ sung các sản
phẩm Ziploc, Saran, Bubbles và Fantastik vào hệ thống nhãn hiệu gia đình của
họ nhằm mục đích mở rộng việc kinh doanh và đa dạng hóa sản phẩm.
Năm 2003, SC Johnson mua lại việc kinh doanh thuốc diệt côn trùng trong nhà
của Bayer AG, bổ sung thuốc diệt côn trùng Baygon và Autan vào hệ thống
nhãn hiệu gia đình của họ.
Năm 2003, Johnson Associates (JWA) được thành lập, chủ yếu tập trung vào
sản xuất các thiết bị giải trí ngoài trời như tàu thuỷ, thiết bị lặn, la bàn và các
sản phẩm xác định hướng và quần áo ngoài trời. Sau đó tách thành công ty
riêng.
Năm 2005, Công ty tài chính Johnson ra đời, cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài
chính cho các doanh nghiệp và cá nhân. Sau đó, công ty này tách ra thành công
ty riêng.
Năm 2005, thành lập công ty thương mại SC Johnson, Inc, bao gồm hai bộ
Hoạt động ở hơn 70 quốc gia và sản phẩm có mặt ở hơn 110 quốc gia, người
tiêu dùng trên toàn thế giới có thể dễ dàng tìm thấy các sản phẩm của SC Johnson,
điều đó làm cho cuộc sống của họ sạch hơn, khỏe mạnh hơn và tốt đẹp hơn. Các
chi nhánh của SC Johnson có mặt ở Châu Phi, Châu Á, Australia, Newzealand,
Châu Âu, Bắc Mỹ, Mỹ Latinh. Công ty chào bán các sản phẩm của mình thông
qua một mạng lưới cửa hàng tạp hóa, buôn bán sỉ và cửa hàng tiện lợi, cũng như
các nhà bán lẻ trực tuyến.
2. Danh mục sản phẩm
Từ làm sạch nhà bếp đến không khí, từ việc loại bỏ vết bẩn đến bảo quản các
đồ dùng trong nhà, SC Johnson được dành riêng cho việc tạo ra các sản phẩm làm
cho cuộc sống của bạn dễ dàng hơn và giữ cho ngôi nhà của bạn sạch và đẹp hơn.
Các dòng sản phẩm và chức năng chính:
Home Cleaning
Làm sạch sâu để khử trùng, loại bỏ bụi để làm sạch bóng, chúng tôi có những
gì bạn cần để giữ cho ngôi nhà của bạn thật tươi mát.
Các nhãn hiệu: Pledge, Scrubbing Bubbles, Mr. Muscle, Duck, Windex, Shout,
Nature's Source, fantastik, Drāno.
Air Care
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_059
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Dù bạn muốn đưa hương thơm vào căn phòng của mình hoặc loại bỏ mùi khó
chịu, chúng tôi có những gì bạn cần để làm thơm ngát ngôi nhà của bạn.
Các nhãn hiệu: Glade, Oust.
Pest Control
Chúng tôi có hơn 50 năm kinh nghiệm trong việc bảo vệ bạn và gia đình khỏi
côn trùng và chúng tôi có những sản phẩm mà bạn cần để làm điều đó.
Các nhãn hiệu: Raid, OFF!, Baygon, Autan, Allout.
Johnson’x Wax trở thành một thương hiệu gia đình.
Samuel C. Johnson: chỉ sau một năm sau khi gia nhập SC Johnson, ông
được giao công việc là Giám đốc phụ trách sản phẩm mới và ông cho rằng,
công ty cần những ý tưởng mới để thành công trong môi trường cạnh tranh
ngày càng tăng.
H. Fisk Johnson: là thế hệ thứ năm của nhà Johnson lãnh đạo công ty gia
đình này, ông là Chủ tịch và Giám đốc điều hành hiện tại của SC Johnson.
IV. Sứ mệnh và viễn cảnh của công ty
“SC Johnson dedicated to innovative, high-quality products, excellence in the
workplace and a long-term commitment to the environment and the communities
in which it operates”. “We make homes better for families”. “We've been making
trusted household brands for more than a century”.
“SC Johnson luôn đổi mới tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, sự ưu việt tại
nơi làm việc và cam kết lâu dài đối với môi trường và cộng đồng tại nơi mà doanh
nghiệp hoạt động”. “Chúng tôi làm cho các ngôi nhà trở nên tốt đẹp hơn cho mọi
gia đình”. “Chúng tôi đã làm cho các nhãn hiệu dùng cho gia đình đáng tin cậy
trong hơn một thế kỷ qua”.
1. Tư tưởng cốt lõi
a. Giá trị cốt lõi
“Sự cam kết bền vững về tính đổi mới và chất lượng sản phẩm”.
b. Mục đích cốt lõi
“Chúng tôi làm cho các ngôi nhà trở nên tốt đẹp hơn cho mọi gia
đình ở khắp mọi nơi trên thế giới”.
2. Hình dung tương lai
Trở thành và nắm giữ vị trí nhà sản xuất hàng đầu thế giới trong ngành công
nghiệp sản xuất các sản phẩm dùng cho gia đình.
Các sản phẩm đáng tin cậy của chúng tôi có thể tìm thấy trong các ngôi nhà
trên khắp thế giới.
Thiết lập một thế hệ có trách nhiệm về môi trường, dẫn dắt cộng đồng, cung
cấp những nơi tuyệt vời để làm việc.
Dân cư và nước sở tại
“Chúng tôi tin tưởng trong việc đóng góp vào sự thịnh vượng của các quốc gia
và cộng đồng nơi chúng tôi thực hiện kinh doanh”.
Cộng đồng thế giới
“Chúng tôi tin tưởng vào việc nâng cao hiểu biết quốc tế”.
4. Hệ thống giá trị
Trải qua năm thế hệ lãnh đạo gia đình, SC Johnson đã làm cho sản phẩm tuyệt
vời như vậy trong 125 năm qua, làm cho cuộc sống trở nên sạch sẽ hơn, dễ dàng
hơn và khỏe mạnh hơn cho người tiêu dùng trên toàn thế giới. Gia đình Johnson
đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu cho các gia đình ở khắp mọi nơi. Sự lãnh đạo
gia đình cho phép SC Johnson luôn trung thành với các giá trị của họ.
Sự đổi mới và chất lượng: đổi mới và đạt chất lượng để trở thành thương hiệu
hàng đầu tại hơn 110 quốc gia, làm cho cuộc sống thêm dễ dàng hơn và ngôi
nhà sạch hơn và khỏe mạnh hơn.
Tôn trọng cá nhân: tôn trọng phẩm giá con người và hỗ trợ các quyền phổ quát
của con người.
Tôn trọng luật pháp: tôn trọng tất cả các luật địa phương và các quy định liên
quan đến sản phẩm và cách thực hiện chúng.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0512
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Đóng góp cho cộng đồng nước sở tại thông qua những hoạt động từ thiện và
tình nguyện địa phương.
Phát triển bền vững và có trách nhiệm với môi trường : tập trung vào phát triển
sản phẩm xanh, ngăn ngừa các bệnh dịch nguy hiểm, chịu trách nhiệm minh
bạch trong sản phẩm,… nhằm mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống cho con
người và cho thế hệ tương lai.
Cam kết bền vững về sự ưu việt tại nơi làm việc: việc cắt giảm các chương
còn cung cấp một gói các khoản bồi thường và lợi ích toàn diện và đầy tính
cạnh tranh.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0513
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
B. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
Ngành công nghiệp sản phẩm chăm sóc trong nhà đã trở lại tình trạng tốt hơn
trong thời gian gần đây so với hầu hết các ngành công nghiệp khác. Đối với những
người kinh doanh trong ngành, suy thoái kinh tế đã mang lại cho họ những thách
thức khác nhau như cạnh tranh khốc liệt, tăng trưởng chậm ở các thị trường phát
triển, chi phí tăng cao, tăng trưởng trong thương hiệu tư nhân, sự nhạy cảm với
giá, người tiêu dùng chuộng sản phẩm rẻ hơn, thay đổi sở thích của người tiêu
dùng và chuyển giao quyền lực cho nhà bán lẻ.
Trong khi cần phải đối mặt những thách thức này, nhằm để duy trì cạnh tranh
trong thế giới thay đổi ngày nay, các công ty sản xuất sản phẩm chăm sóc trong
nhà cần đảm bảo rằng họ vẫn nhanh chóng thích nghi với các xu hướng phát triển
như thay đổi nhân khẩu học, thay đổi thu nhập của hộ gia đình, thay đổi hành vi
mua, ảnh hưởng ngày càng tăng của các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, tầm
quan trọng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Áp lực còn tiếp diễn mạnh
theo nhiều xu hướng, cạnh tranh theo định hướng nhấn mạnh vào sự tăng trưởng
đi lên, đồng thời quản lý chi phí và giữ vững lợi nhuận sẽ rất quan trọng để ngành
công nghiệp này thành công như mong đợi. Kế hoạch kinh doanh ngành công
nghiệp sản phẩm chăm sóc trong nhà trong tương lai cần là chiến lược linh hoạt,
sự thông minh và hợp tác xuất sắc. Ba lĩnh vực mà người chiến thắng sẽ tập trung
vào là giá cả, hiệu suất và tiềm năng.
I. Môi trường vĩ mô
1. Môi trường kinh tế
a. Tăng trưởng kinh tế
- Năm 2006, SC Johnson đã mở rộng các kênh phân phối của mình bằng cách
tăng thêm hệ thống cửa hàng tạp hóa, buôn bán sỉ lẻ và cửa hàng tiện lợi, cũng
như thúc đẩy quan hệ với các nhà bán lẻ trực tuyến.
- 2007-2009, do tác động của cuộc khủng hoảng, công ty tập trung sản xuất vào
lĩnh vực chính của mình là các sản phẩm làm sạch và chăm sóc cá nhân.
- Năm 2008, công ty mua lại các hãng The Caldrea, Mrs. Meyers Clean Day,
Soy Basics, Soy Inspirations.
Với sự tăng lên của nhu cầu trong nước và các chi nhánh ngoài nước Mỹ, năm
2010, doanh thu của SC Lohnson đạt 8,75 tỷ với mức tăng trưởng 0,9%. Năm
2011, khi nền kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, sức mua của người tiêu dùng
tăng cao trở lại, đưa doanh thu toàn cầu của SC Johnson lên 9 tỷ. Hiện nay SC
Johnson là công ty tư nhân sản xuất kinh doanh sản phẩm gia dụng làm sạch lớn
thứ ba thế giới.
b. Lãi suất
Năm 2008, Mỹ ban hành lãi suất ở mức “cực thấp” 0,25%. Năm 2011, Mặt
bằng lãi suất ở Mỹ thấp, khối lượng cung ứng tiền tệ lớn và việc kích cầu vẫn còn
rất cần thiết khiến ở đâu cũng vẫn thấy chính sách tiền tệ được nới lỏng. Lãi suất
cơ bản áp dụng năm 2011 là 0,125%.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0515
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Dự báo năm 2012 Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ mở rộng, lãi suất
thấp và sẻ không tăng để hỗ trợ nền kinh tế. Ngoài chính sách lãi suất thấp, FED
còn tích cực trong việc hỗ trợ thanh khoản cho các định chế tài chính. FED tuyên
bố sẵn sàng mua lại các giấy tờ có giá để duy trì tính thanh khoản.
Biểu đồ: Tình hình lãi suất của Hoa Kì giai đoạn 2002 - 2011
c. Tỷ giá hối đoái
Dự báo trong trung hạn, USD sẽ mất 15-20% giá trị do thâm hụt ngân sách và
đó có nghĩa người tiêu dùng sẽ phải chứng kiến giá cả tăng mạnh trong thời gian
tới, khi các nhà sản xuất và bán lẻ quyết định chuyển bớt gánh nặng sang họ.
Trong tháng 2, giá bán sỉ tăng 3,9%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 11-1974 và
tăng 7,3% trong 12 tháng.
Biểu đồ: Tỷ lệ lạm phát của Hoa Kì giai đoạn 2009- 2011
Giá dầu và khí đốt tự nhiên đã tăng lên đáng kể từ năm 2006. Chi phí nguyên
vật liệu và bao bì cũng tăng lên do chi phí năng lượng và các chi phí khác đều tăng
cao. Các chi phí trên có ảnh hưởng đến sản xuất và vận chuyển trong ngành sản
phẩm chăm sóc trong nhà, do đó làm tăng giá sản phẩm nên chúng tác động không
nhỏ đến doanh số bán hàng, lấy một phần thu nhập trong tương lai của các doanh
nghiệp. Xu hướng này tạo ra thách thức cho ngành này khi phải đối mặt với sự cắt
giảm chi phí liên tục để đạt được lợi nhuận nhiều hơn.
Chịu ảnh hưởng của tình hình này nên SC Johnson đã tăng giá các mặt hàng
gia dụng từ 3-4% trong giữa năm 2011 và cắt giảm các loại chi phí không cần
thiết. Ngoài ra, SC Johnson còn tiến hành cắt giảm nhân viên, đưa số nhân viên từ
12640 xuống còn khoảng 12000 người.
2. Môi trường công nghệ
Mỹ là một quốc gia có công nghệ hiện đại, phát triển bậc nhất thế giới với
những thành tựu như chinh phục vũ trụ, phát triển tinh học và máy tính…. Nước
Mỹ đã và đang dẫn đầu trong việc sáng tạo kỹ thuật và nghiên cứu khoc học. Là
một xã hội điện tử, làm việc qua mạng. Chính phủ Mỹ tạo điều kiện phát triển các
công nghệ tiên tiến phục vụ cho sản xuất
Vận chuyển và dây chuyền công nghệ đang được cải tiến. Các công ty trưởng
thành trong ngành công nghiệp sản phẩm chăm sóc trong nhà vẫn đang tìm cách
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0517
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
để tăng lợi nhuận của mình thông qua cải tiến công nghệ. Mặc dù ngành công
sản phẩm.
3. Môi trường văn hóa xã hội
Hoa Kỳ là một quốc gia đa văn hóa, là nơi sinh sống của nhiều nhóm đa dạng
chủng tộc, truyền thống, và giá trị .Có thể thấy phần lớn dân Mỹ rất tôn trọng và
tuân thủ pháp luật. Thực sự dân Mỹ rất tự do nhưng tự do trong khuôn khổ của
pháp luật, những gì pháp luật không cấm người dân có quyền làm. Tại Mỹ, sự độc
lập và tự chủ luôn được ưu tiên. Xã hội Mỹ đang phát triển theo các hình thái chủ
nghĩa bình đẳng nam nữ, chủ nghĩa bảo vệ môi trường, và chủ nghĩa đa văn hóa.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0518
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Văn hóa Mỹ bao gồm cả hai yếu tố bảo thủ và tự do. Mặc dù có một số nguyên
tắc nhất quán tư tưởng (ví dụ như cá nhân, chủ nghĩa quân bình, và niềm tin vào tự
do và dân chủ), văn hóa Mỹ đã có một loạt các biểu thức do quy mô địa lý của nó
và sự đa dạng nhân khẩu học. Tính linh hoạt của nền văn hóa Mỹ và biểu tượng
cho bản chất của nó dẫn đến một số nhà nghiên cứu để phân loại văn hóa Mỹ như
là một huyền thoại sắc, những người khác xem nó như là ngoại lệ Mỹ .
Năm vừa qua theo báo cáo của Liên Hợp quốc, phụ nữ đang dần thể hiện được
vị trí của mình trong gia đình, xã hội, chính trị… Quỹ Dân số Thế giới tin tưởng
rằng nếu phụ nữ có tất cả quyền và cơ hội như nam giới, họ sẽ có khả năng đấu
tranh kiên cường và bền bỉ hơn nam giới với các cuộc xung đột và thảm họa do
thiên tai, đồng thời lãnh đạo thành công các dự án tái thiết lập xã hội. Từ những
kết quả trên, có thể thấy tỉ lệ lao động nữ tham gia vào các ngành công nghiệp sẽ
tăng lên và công nghiệp hàng tiêu dùng đóng gói cũng không phải ngoại lệ.
Với chiến lược đa kênh tại chỗ, các công ty sản phẩm chăm sóc trong nhà phải
có được hiểu biết về các nhu cầu của người sử dụng. Sử dụng các phân tích để
hiểu các xu hướng mua sắm tại các điểm mua hàng và sau đó tích hợp nó với toàn
bộ chuỗi giá trị - từ tìm nguồn cung ứng và trở lại điểm bán hàng - có thể tạo ra
ty ngày càng phong phú về chủng loại và giá cả phù hợp với thói quen tiêu dùng
của các tầng lớp dân cư ở Mỹ.
5. Môi trường chính trị luật pháp
Chính quyền liên bang được thiết lập bởi Hiến pháp Hoa Kỳ. Hiện nay hai
đảng chính trị lớn, Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà, đang có ảnh hưởng thống
trị trên nền chính trị Hoa Kỳ mặc dù vẫn tồn tại các nhóm hoặc các đảng chính trị
với ảnh hưởng ít quan trọng hơn. Chính quyền liên bang có vai trò tạo điều kiện
thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế và nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm,
đặc biệt là duy trì được một mức giá chung ổn định và một gánh nặng thuế có thể
quản lý được.
Tháng 9/2011, Mỹ công bố kế hoạch kích thích kinh tế Mỹ trị giá 447 tỷ USD,
còn được gọi là Ðạo luật việc làm. Ðây là gói kích thích lớn thứ ba, có thể gọi là
“QE3” được Nhà Trắng đưa ra trong gần ba năm qua. Dự luật này chủ trương
giảm thuế cho các công ty thuê mới nhân công và giảm 50% thuế tính theo bảng
lương cho công nhân, người lao động và các doanh nghiệp nhỏ. Dự luật còn giúp
tạo thêm nhiều việc làm cho lao động ngành xây dựng, giáo viên, cựu chiến binh
và những người thất nghiệp dài hạn.
Từ khi người Mỹ ý thức nhiều hơn về các ảnh hưởng đến môi trường do các
ngành công nghiệp gây ra, Quốc hội Mỹ đã thông qua nhiều bộ luật để kiểm soát ô
nhiễm không khí, đất và nước. Sự ra đời của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ
(EPA) năm 1970 đã tạo xung lực cho nhiều chương trình liên bang về bảo vệ môi
trường. EPA đã đề ra và thực hiện các giới hạn ô nhiễm, đồng thời, xây dựng lịch
trình để các ngành công nghiệp hạn chế ô nhiễm sao cho phù hợp với các quy
chuẩn mới.
Là một công ty đa quốc gia, SC Johnson luôn tôn trọng pháp luật nước sở tại
và các nước trong khu vực, điều này đã được thể hiện rõ trong sứ mệnh của công
ty, đó là tôn trọng tất cả các luật địa phương và các quy định liên quan đến sản
phẩm và cách thực hiện chúng. Năm 2002, SC Johnson là nhà sản xuất hàng tiêu
dùng đóng gói đầu tiên tham gia chương trình Climate Leaders của Cơ quan Bảo
vệ Môi trường Hoa Kỳ (the U.S. EPA).
Những năm 1990, SC Johnson mở rộng hoạt động ra các nước Áo, Bulgaria,
Croatia, Cộng hòa Séc, Hungary, Ấn Độ, Malaysia, Pakistan, Peru, Ba Lan,
Romania, Nga, Serbia, Cộng hòa Slovak, Ukraine, Uruguay và Việt Nam.
Năm 1992, SC Johnson mua lại Công ty Drackett, đưa các sản phẩm Windex,
Vanish và Drano trở thành các nhãn hiệu gia đình của họ.
Năm 1998, SC Johnson mua lại doanh nghiệp DowBrands, bổ sung các sản
phẩm Ziploc, Saran, Bubbles và Fantastik vào hệ thống nhãn hiệu gia đình của
họ nhằm mục đích mở rộng việc kinh doanh và đa dạng hóa sản phẩm.
Những năm 2000, SC Johnson mở rộng hoạt động ra các nước Belarus, Israel,
Kazakhstan, Morocco, Paraguay, Slovenia và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập
Thống Nhất. Đưa SC Johnson trở thành công ty gia đình trên toàn cầu.
Năm 2003, SC Johnson mua lại việc kinh doanh thuốc diệt côn trùng trong nhà
của Bayer AG, bổ sung thuốc diệt côn trùng Baygon và Autan vào hệ thống
nhãn hiệu gia đình của họ.
Từ năm 2010 đến nay, do tình hình khủng hoảng toàn cầu, công ty đã tiến hành
cắt giảm chi phí, giảm số lượng nhân viên.
b. Các vấn đề môi trường
Các vấn đề về môi trường luôn là đề tài được quan tâm hàng đầu đối với cộng
đồng và các nhóm xã hội. Một sản phẩm gây hại đến môi trường thì nhìn chung về
lâu dài rất khó được chấp nhận. Đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chăm sóc
trong nhà như SC Johnson, đặc biệt là các sản phẩm như thuốc diệt côn trùng,
nước xịt phòng lại luôn tiềm ẩn những thành phần gây ô nhiểm môi trường, gây
ung thư, điều đó cũng gây trở ngại đến sự lựa chọn của khách hàng.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0521
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Hiểu rõ được điều đó nên Công ty SC Johnson đã tập trung vào việc giảm ô
nhiễm môi trường trong nhiều thập kỷ. Công ty đã đặt ra mục tiêu cụ thể mỗi năm
Ngành sản phẩm chăm sóc trong nhà đại diện cho thị trường luôn có người tiêu
dùng nhưng tính cạnh tranh cao do thị trường bão hòa và chi phí chuyển đổi thấp.
Thị trường cạnh tranh cao, các nhà bán lẻ đầy năng lực và tăng trưởng chậm là
những đặc trưng cho ngành công nghiệp này. Mặc dù sự tăng trưởng đã chậm lại
trong ngành công nghiệp này, các công ty vẫn được hưởng lợi từ lợi nhuận lớn và
bảng cân đối kế toán mạnh mẽ. Những công ty lớn trong ngành có lợi thế hơn
bởi vì họ kiểm soát ảnh hưởng lớn với các nhà bán lẻ nên dễ dàng thương lượng
giá cả nhưng vẫn khó khăn để kinh doanh thành công.
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0522
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN XUÂN LÃN
Ngành công nghiệp sản phẩm chăm sóc trong nhà hiện nay bị thách thức bởi
điều kiện kinh tế toàn cầu thay đổi và thị trường có tính cạnh tranh cao. Các nhà
sản xuất đang phải đối mặt với nhu cầu biến động và chuyển đổi sự ưa thích
thương hiệu từ các khu vực địa lý khác nhau, nhân khẩu học và các phân đoạn thị
trường. Các công ty trong ngành cần đưa ra nhiều hơn những sản phẩm cải tiến có
giá trị, phân phối nhanh hơn và rẻ hơn. Ngoài ra, họ còn bị ràng buộc bởi quy định
của chính phủ và ngành công nghiệp nhằm đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của
người tiêu dùng.
Nhìn nhận về ngành công nghiệp sản phẩm chăm sóc trong nhà năm 2012:
Mặc dù hoạt động sáp nhập và mua lại chưa trở lại ở mức đỉnh cao như giữa
những năm 2000, tái cơ cấu tài sản vẫn là một trong những xu hướng đáng chú ý
nhất của ngành công nghiệp này thông qua các hoạt động mở rộng thị trường. Các
nhà sản xuất sản phẩm chăm sóc trong nhà đang định hình lại danh mục đầu tư của
họ để xây dựng hiệu quả hơn và triển khai các hệ thống năng lực làm cho họ khác
biệt. Ở một mức độ nào đó tất cả các doanh nghiệp sản phẩm chăm sóc trong nhà
cần phải có khả năng phát triển và tác động đến những hiểu biết của người tiêu
dùng và người mua sắm, đưa sản phẩm mới ra thị trường và thực hiện có hiệu quả.
với người tiêu dùng. Vì thế, ở một mức độ nào đó, tồn tại sự trung thành nhãn hiệu
của người tiêu dùng tuy sự trung thành này là không cao.
Chi phí chuyển đổi
Chi phí chuyển đổi của khách hàng trong ngành là khá thấp. Điều này sẽ tạo ra
mối đe dọa cho các công ty trong ngành, nếu họ không tạo dựng được lòng trung
thành của khách hàng và sự khác biệt của sản phẩm.
Tính kinh tế của quy mô
Các công ty trong ngành có khả năng giảm thấp chi phí, gia tăng giá trị kinh tế
nhờ sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn sản phẩm tiêu chuẩn hóa, chiết khấu khi
mua sắm lượng lớn nguyên vật liệu. Lợi thế có được còn bởi sự phân bổ chi phí cố
định cho khối lượng sản xuất lớn và tính kinh tế của quy mô trong quảng cáo. Các
công ty khác khi muốn tham gia vào ngành có thể gặp phải vấn đề về quy mô và
chi phí vốn lớn, đồng thời phải chống lại sự trả đũa mãnh liệt từ các công ty hiện
tại. Tuy nhiên, không điều gì là không thể xảy ra. Do vậy, các công ty đang hoạt
động trong ngành phải không ngừng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển
để đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thấp chi phí để gia tăng rào cản
nhập cuộc.
b. Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Ngành sản phẩm chăm sóc trong nhà được coi là một ngành phân tán với rất
nhiều công ty hoạt động trong ngành. Các công ty khó có thể tạo ra sự khác biệt so
với sản phẩm của đối thủ nên kết quả là một cuộc chiến tranh về giá xảy ra, dẫn
đến suy giảm lợi nhuận trong ngành. Áp lực giá cả không chỉ đến từ các công ty
trong ngành mà còn đến từ các nhà bán lẻ lớn. Cùng với đó là nguy cơ thâm nhập
ngành của các công ty tiềm năng bất cứ khi nào, vì thế chiến lược tốt nhất để các
công ty theo đuổi là cực tiểu hóa chi phí và tìm kiếm ra cách thức tạo sự khác biệt
cho sản phẩm của mình.
Cảnh giác với những thương hiệu cửa hàng:
Đối với những công ty vừa và nhỏ trong ngành, cạnh tranh với những thương
hiệu cửa hàng là một cuộc đấu tranh liên tục để đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách
hàng các kênh phân phối mới mở. Hiện nay, các sản phẩm tương tự là khá nhiều,
trong thế cân bằng kinh doanh của ngành. Doanh số bán hàng thu được từ các nhà
bán lẻ lớn chiếm phần lớn doanh số của nhiều công ty. Trong thực tế, một số
doanh nghiệp trong ngành chỉ có năm khách hàng là Walmart, Target, CVS,
Walgreens và Rite Aid. Nhà bán lẻ lớn nhất trong ngành có thể kể đến là Wal-
Mart. Các công ty trong ngành phụ thuộc rất nhiều vào nhà bán lẻ này, điều này
làm giảm quyền lực tương đối của các công ty trong ngành.
Sự hợp nhất các nhà bán lẻ đã ảnh hưởng lớn đến ngành công nghiệp sản phẩm
chăm sóc trong nhà trong 10 năm qua, một biểu hiện cụ thể đó là sự phát triển
nhanh chóng các điểm đặt chuỗi cửa hàng. Trong 5 năm vừa qua, nhãn hiệu tư
nhân trong cửa hàng tạp hóa đã tăng 34% lên 55,5 tỷ USD. Trong giới hạn tăng
trưởng theo tỷ lệ phần trăm, đây là thống kê nghiêm túc cho ngành công nghiệp
sản phẩm chăm sóc trong nhà đầy cạnh tranh.
Không chỉ thế, sản phẩm chăm sóc trong nhà là những sản phẩm tiêu dùng rất
phổ biến, có giá trị tương đối thấp nên khi thay đổi sản phẩm, người mua ít gặp
phải những chi phí chuyển đổi. Điều này kích thích các công ty cạnh tranh với
nhau để có thể giữ chân khách hàng.
d. Năng lực thương lượng của các nhà cung cấp
Năng lực thương lượng của người bán trong ngành sản phẩm chăm sóc trong
nhà là khá thấp. Có thể kể đến một số nguyên nhân như sau:
• Nguyên liệu chính để sản xuất những sản phẩm trong ngành là những chất hóa
học tổng hợp. Với sự tiến bộ của nền khoa học kỹ thuật và sự chuyển giao
NHÓM SC JOHNSON QTCL3_0525