1. Tập làm văn
Giá trị nhân đạo trong “chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
Dàn bài chi tiết
A- Mở bài:
- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận cong người
trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày
càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì,
“chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân
văn của Nguyễn Dữ.
B- Thân bài:
1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình
dân
- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc biệt của
tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với
chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ
dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện
khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
+ Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.
+ Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để được “ấn phong hầu”,
nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
+ Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nương
tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gai nghi thất”
Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân văn đã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn
Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người. Nhân
văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả.
2. Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng đau đớn trước bi kịch
cuộc đời của nàng bấy nhiêu.
XHPKVN thế kỉ XVI.
C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu
biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ
phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.
2
Tuần 3 – Buổi 1
LUYỆN TẬP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
Đề bài
Câu 1 (2 điểm )
Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho
rằng: “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc
đời”, song ý kiến khác lại khẳng định : “Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết
lung linh kì ảo”.
Hãy trình bày suy nghĩ của em về hai ý kiến trên.
Câu 2 (3 điểm)
LỖI LẦM VÀ SỰ BIẾT ƠN
Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người có xảy ra một cuộc tranh
luận, và một người nổi nóng không kiềm chế được mình đã nặng lời miệt thị người kia. Cảm thấy bị
xúc phạm, anh không nói gì, chỉ viết lên cát: “ Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã làm khác đi
những gì tôi nghĩ”.
Họ đi tiếp, tìm thấy một ốc đảo, và quyết định đi bơi. Người bị miệt thị lúc nãy bây giờ bị đuối
sức và chìm dần xuống. Người bạn kia đã tìm cách cứu anh. Khi đã lên bờ, anh lấy một miếng kim loại
khắc lên đá: “ Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi”.
Người kia hỏi: “ Tại sao khi tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát, còn bây giờ anh lại khắc lên
đá” ?
Anh ta trả lời : “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian, nhưng không ai
có thể xoá được được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người ”.
tư tưởng và cảm xúc” ở một cái kết độc đáo.
+ Từ việc tìm hiểu những ý kiến bàn về dụng ý cách kết của một tác phẩm văn học đã đặt ra trách
nhiệm, vai trò cho độc giả trong quá trình tiếp cận, giải mã văn bản văn học.
Câu 2 (3 điểm)
a) Yêu cầu về kỹ năng: biết cách làm bài văn nghị luận xã hội ; kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trôi chảy ;
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
b) Yêu cầu về kiến thức: trên cơ sở hiểu biết của bản thân về nội dung câu chuyện Lỗi lầm và sự biết
ơn, và từ câu chuyện đó gợi lên trong mình có những suy nghĩ về sự tha thứ và lòng biết ơn của con
người trong cuộc sống, có thể triển khai theo nhiều cách, song bài viết cần làm rõ các nội dung sau:
1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
2. Khái quát chung và nắm bắt được ý nghĩa mà câu chuyện muốn đề cập.
3.Trình bày suy nghĩ của bản thân về sự tha thứ và lòng biết ơn của con người trong cuộc sống
mà được gợi lên từ câu chuyện :
- Giải thích về vấn đề cần bàn luận :
+ Thế nào là sự tha thứ và lòng biết ơn : tha thứ là việc bỏ qua, không trách cứ, chấp nhặt, hay trừng
phạt những sai trái, lỗi lầm của người khác ;lòng biết ơn là sự thể hiện việc hiểu và nhớ công ơn của
người khác đối với mình.
+ Vì sao trong cuộc sống con người cần có sự tha thứ và lòng biết ơn ?: trong cuộc sống ai cũng có lúc
gây ra những lỗi lầm, sai trái vì vậy cần phải nhận được sự tha thứ, bao dung của mọi người. Bởi
chính sự tha thứ giúp cho người mắc lỗi có cơ hội được sửa chữa; giúp cho bản thân tìm thấy được
sự thanh thản và làm cho cuộc sống bớt đi sự căng thẳng, xung đột và thêm đi sự hoà hợp, yêu
thương, có nghĩa là phải biết viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát …; phải biết khắc ghi những
ân nghĩa vào lòng, phải biết ơn những người đã đem đến cho mình những điều tốt đẹp, và biết khắc
ghi những ân nghĩa lên đá, như cách ứng xử giữa những con người trong câu chuyện trên.
- Suy nghĩ của bản thân :
+ Sự tha thứ và lòng biết ơn là một trong phẩm chất cần thiết, cao đẹp để hình thành nên một con người
chân chính, bởi bên cạnh việc thu nhận kiến thức thì việc tu dưỡng, rèn luyện cho bản thân những đức
4
tính về sự tha thứ và lòng biết ơn có một ý nghĩa rất lớn trên con đường hoàn thiện nhân cách của mỗi
con người
- Khi mẹ chồng mất nàng lo ma chay tế lễ chu đáo như cha mẹ đẻ của mình. Lời trăng trối của bà trước
lúc ra đi " Sau này trời xét lòng thành ban cho phúc đúc … …. … đã chẳng phụ mẹ" chính là lời khẳng
định cho sự hiếu thảo của nàng.
* Là người mẹ thương con:
- Chăm sóc con chu đáo
- Đêm đêm nàng thường cái bóng trên tường và bảo đó là cha Đản -> Mong con cảm nhận được hình
ảnh của người cha, cảm nhận được không khí gia đình đầm ấm.
* Thủy chung, tiết hạnh
+ Suốt ba năm chồng đi lính nàng đã sống trong sự nhớ thương và khắc khoải đợi chờ " Mỗi khi thấy
bướm … … … ngăn được".
+Nàng một mực thủy chung với chồng " Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết … … … bén gót.
5
+ Khi bị chồng nghi ngờ là thất tiết nàng đã một mực thanh minh. Cuối cùng nàng đã tự tử để khẳng
định tấm lòng trinh bạch của mình.
* Trọng tình nghĩa, nhân hậu, vị tha
+ Khóc khi nghe Phan Lang kể chuyện gia đình, quê hương.
+Tuy sống dưới thủy cung đầy đủ và sung sướng nhưng nàng vẫn không nguôi nhớ về gia đình, chồng
con, vẫn lo lắng cho phần mộ tổ tiên, vẫn khao khát phục hồi danh dự.
+ Nàng đã trở về tha thứ cho TS - người đã trực tiếp cướp đi cuộc sống của nàng.
b. Vũ Nương là người phụ nữ có số phận bi thảm.
* Vũ Nương bị cướp đi quyền yêu, quyền hạnh phúc : Là cô gái xinh đẹp nết na nhưng con nhà kẻ khó
nên phải lấy một người chồng vừa cả ghen, vô học lại đa nghi. Vì vậy trong cuộc sống vợ chồn nàng
luôn phải giữ gìn để gia đình yên ấm.
* Phải xa chồng, chấp nhận cuộc sống của người chinh phụ: Tuy chỉ có khát vọng giản dị là thú vui
nghi gia, nghi thất nhưng "vợ chồng chưa thỏa tình chăn gối đã phải chia phôi vì động việc lửa binh".
Từ đó nàng sống trong nỗi cô đơn vò võ, khắc khoải đợi chờ trong niềm hi vọng mong manh: Mỗi khi
thấy bướm… ngăn được.
* Phải sống vất vả, khổ cực: Chồng đi lính, nàng phải một mình sinh con, nuôi con, chăm sóc gia đình,
quán xuyến nhà cửa ruộng vườn. Tất cả mội gánh nặng gia đình đều dồn lên đôi vai mảnh mai yếu ớt
của nàng.
a. Nêu bản chất, biểu hiện của vấn đề:
*NX: Tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục trở thành căn bệnh khá trầm trọng và phổ
biến hiện nay.
* Biểu hiện chính : - Tiêu cực:
+ Xin điểm, chạy điểm
+ Mua bằng cấp
+ Xin, chạy cho con vào trường chuyên, lớp chọn
+ Đuờng dây chạy điểm vào THPT, Đại học….
+ Thi hộ, thi thuê….
+ Chạy chức chạy quyền…
- Bệnh thành tích trong giáo dục :
+Báo cáo không đúng thực tế
+ Bao che khuyết điểm để lấy thành tích
+ Coi trọng số lượng chứ không coi trọng chất lượng
+HS: Học để lấy bằng cấp, phát biểu chỉ để cộng điểm…
+ Số GSTS, các nhà khoa học nhiều nhưng ít có những cải tiến sáng tạo
b. Phân tích đúng sai lợi hại:
- Lợi: trước mắt cho cá nhân- không cần bỏ công sức nhiêu nhưng vẫn đạt kết quả cao
- Hại là rất nghiêm trọng để lại hậu quả lâu dài:
7
+Các thế hệ HS được đào tạo ra không có đủ trình độ để tiếp cận với công việc hiện đại, đất nước ít
nhân tài
+ Tạo thói quen cho HS ngại học, ngại thi, ngại sáng tạo
+ Tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội
c. Nguyên nhân của hiện t ượng này là :
- Do gia đình : Không muốn con vất vả mà vẫn đạt kết quả cao
- Do nhà trường: Muốn HS có thành tích cao để báo cáo
- Do XH: Hệ thống luật cha nghiêm, cụ thể; cha thực sự coi trọng nhân tài(ĐB là những cơ quan nhà
nước); nhận thức của nhiều ngời còn hạn chế …
d. Cách khắc phục:
“ Một người Ấn Độ thường dùng hai cái bình lớn để gánh nước từ suối về nhà. Một trong hai cái
bình này bị nứt và khi về đến nhà, nước trong bình đã bị vơi đi một nửa. Cái bình nứt luôn buồn bã,
khổ sở vì khiếm khuyết của mình. Một ngày nọ, cái bình nứt nói với người chủ của mình:
- - Tôi thấy thật xấu hổ khi mình không làm tròn công việc. Vì tôi mà ông phải làm việc cực nhọc hơn.
Người gánh nước nói bằng giọng cảm thông:
- Trên đường về, ngươi có để ý những luống hoa xinh đẹp dọc đường không? Ngươi có thấy hoa chỉ
mọc ở phía đường của ngươi mà không phải là phía bên kia không? Ta đã biết khiếm khuyết của
ngươi. Vì vậy ta đã gieo những hạt hoa bên đó, và mỗi ngày ngươi đã tưới nước cho chúng. Hai năm
qua, ta đã hái những bông hoa này để tặng mọi người và làm đẹp cho căn nhà chúng ta…”
Câu 3( 5đ) : Phân tích giá trị hiện thực của “ Chuyện người con gái Nam Xương”.
Gợi ý
Câu 1: Chuyện người con gái Nam Xương", chiếc bóng là chi tiết nghệ thuật đắt giá.
- Nó là chi tiết nút truyện, đấy truyện lên kịch tính, là đầu mối trực tiếp dẫn đến nghi ngờ của TS, buộc
VN phải tìm đến cái chết. Nhưng chính cái bóng lại là chi tiết cởi nút truyện, nó là đầu mối giải tỏa mối
nghi ngờ của TS về VN sau khi nàng đã chết.
- Cái bóng xuất hiện 2 lần trong truyện là những mắt xích quan trọng, vừa làm câu chuyện triển khai
một cách lô gic, hợp lí, vừa làm cho truyện có kịch tính hấp dẫn tự nhiên.
- Hình ảnh cái bóng đã khái quát hóa tấm lòng của người vợ khi VN trỏ cái bóng của nàng trên tường
và bảo đó là cha Đản. Đồng thời cái bóng thể hiện cảnh ngộ đau khổ, cô đơn của người vợ xa chồng.
- Cái bóng gắn với sự ngộ nhận ngây thơ của con trẻ, sự hiểu lầm của người chồng đa nghi. Nó vừa là
niềm vui khi VN nói đùa con, vừa là nỗi buồn dẫn đến hiểu lầm của TS. Nó vừa thực lại vừa ảo.
- Đối với mỗi nhân vật trong truyện, cái bóng được hiểu theo mỗi cách khác nhau:
+ Với VN: Đó là hình ảnh người chồng mà nàng tưởng tượng để đùa với con
+ Với bé Đản: Đó là người cha bí ẩn
+ Với TS: Đó là người đàn ông thứ ba đã chen vào hạnh phúc gia đình chàng.
- Nguyễn Dữ lấy cái bóng để dẫn dắt câu chuyện một cách nghệ thuật, đồng thời thể hiện bi kịch của
con người. Trong xã hội ấy số phận con người rất mong manh, có thể mất tất cả cuộc sống vì một cái
bóng mơ hồ. Có thể nói chi tiết "Cái bóng" đã thể hiện cô đọng vừa hiện thực vừa nhân đạo của nhà
văn.
Câu 2: Bài viết có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng cơ bản nêu được các ý sau:
Đề bài
Câu 1 : Câu 1 (1,0 điểm).
Viết một đoạn văn ngắn, nêu cảm nhận của em về những câu thơ sau trong bài thơ Con cò
của Chế Lan Viên:
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
10
( Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục, 2005, trang 46)
Câu 2 : Viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập trong cuộc sống.
Câu 3 :
Gợi ý
Biết trình bày đoạn văn theo yêu cầu, có mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn; các câu liên kết chặt chẽ và
đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Đoạn thơ sử dụng sáng tạo biện pháp tu từ ẩn dụ: “Cò”- ẩn dụ cho người mẹ, tình mẹ. Hình
ảnh con cò tảo tần, chịu thương chịu khó trong ca dao được tác giả nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng
cho tấm lòng yêu thương con của người mẹ; mẹ lúc nào cũng ở bên con cho đến suốt cuộc đời. Phép ẩn
dụ đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng. Nét độc đáo trong cách sử dụng biện pháp tu từ của tác giả là
hình ảnh ẩn dụ vừa dân dã, mộc mạc, mang âm hưởng ca dao; vừa mang tính biểu tượng, đậm chất triết
lí, suy tưởng.
- Lời dặn của "cò" giản dị mộc mạc mà hàm nghĩa sâu xa. Dưới hình thức thơ tự do, nhà thơ như
dựng lên cả một bầu trời yêu thương bao la mà đặc điểm của nó là không gian và thời gian không giới
hạn: Lên rừng - xuống bể - hai chiều không gian gợi ấn tượng về những khó khăn của cuộc đời. Từ
không gian xác định (rừng, bể), không gian ngày càng rộng dần thêm đến một không gian tâm tưởng
(đi hết đời) vừa bao la vừa sâu thẳm như chính lời ru cất lên từ trái tim của mẹ.
Tấm lòng người mẹ vượt ra ngoài mọi khoảng cách không gian, thời gian. Đó là quy luật bất biến
và vĩnh hằng của mọi tấm lòng người mẹ trên đời mà nhà thơ đã khái quát, đúc kết trong câu thơ đậm
chất suy tưởng và triết lí.
thơ để miêu tả Thúy Kiều như ngầm dự đoán vẻ đẹp sẽ hoàn mĩ hơn người :
" Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn".
Câu thơ vừa mang ý so sánh, vừa mang ý tương phản. Nếu Thúy Vân đẹp một vẻ đẹp đầy đặn
phúc hậu thì Thúy Kiều đẹp một vẻ đẹp sắc sảo mặn mà. Đến đây ta mới hiểu dụng ý của NGuyễn Du,
ông đã sử dụng thủ pháp đòn bẩy, miêu tả chân dung Thúy Vân trước đây làm điểm tựa, làm phông nền
nổi bật lên chân dung Thúy Kiều. Thúy Vân đã đẹp hoàn hảo nhưng Thúy Kiều lại còn vượt lên trên sự
hoàn hảo ấy để trở thành cái đẹp tuyệt bích. Thúy Kiều không chỉ hơn Thúy Vân ở vẻ đẹp mà còn ở
tình người mặn mà đằm thắm. Câu thơ so sánh mà để khẳng định :
" Làn thu thủy nét xuân sơn ".
Cách miêu tả chân dung của nhà thơ hoàn toàn khác so với khi miêu tả Thúy Vân, ông không đi
và chi tiết cụ thể mà điềm nhãn. Bút lực của ông tập trung vào miêu tả đôi mắt - cửa sổ của tâm hồn.
Vẫn là bút pháp ẩn dụ tượng trưng nhưng có sự sáng tạo : đôi mắt Thúy Kiều trong xanh như nước hồ
mùa thu, đôi lông mày xinh tươi như vẻ núi mùa xuân. Ngôn ngữ chắt lọc tinh tế cao độ khi nói đến từ
"làn", người đọc thường liên tưởng đến làn nước sóng. Ở đây Nguyễn Du miêu tả đôi mắt Thúy Kiều
như làn nước mùa thu. Đôi mắt ấy không chỉ mang ánh sắc xanh của nước mà còn lấp lánh sự hiểu biết
của trí tuệ, của đời sống tâm hồn phong phú. Với một vẻ đẹp tuyệt bích như vậy đã khiến cho thiên
nhiên phải đố kị ghen ghét :
" Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh".
Đối với Thúy Vân, thiên nhiên sẵn sàng nhường bước chịu thua, nhưng với Thúy Kiều, thiên nhiên lại
oán hờn ghen ghét bởi vì đó là sắc đẹp "nghiêng nước nghiên thành". Nguyễn Du đã không ngần ngại
khẳng định :
"Sắc đành đòi một".
Vẻ đẹp của Thúy Kiều là vẻ đẹp có một không hai.
* Tài :
- Khác với Thúy Vân, Nguyên Du chỉ miêu tả nhan sắc của nàng, với Thúy Kiều ông lại chú trọng đến
tài năng. Sáu câu thơ liên tiếp miêu tả tài năng trên mọi phương diện của nàng :
" Thông minh vốn sẵn tính trời
Một thiên tài bạc mệnh lại càng não nhân".
Kiều là một cô gái " thông minh vốn sẵn tính trời", đó là một trí thông minh thiên bẩm - một quà tặng
( Trích: Truyện Kiều – Nguyễn Du )
A- Giới thiệu chung:
a/ Đoạn trích trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:
b/ Đoạn trích trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân:
“ Nói về ở Bắc Kinh, có một vị viên ngoại họ Vương tên Lưỡng Tùng, tự Tử Trinh , tính tình thuần
thục trung hậu, gia kế thường thường, không dồi dào cũng không túng kém. Vợ họ Hà, cũng là người
hiền năng, sinh được một con trai tên Vương Quan, học tập nghiệp nho, và hai gái, chị tên Thuý Kiều,
em tên Thuý Vân, tuổi đều đang độ thanh xuân. Cả hai chị em đều thạo thơ phú. Riêng Thuý kiều vẻ
người tha thướt phong lưu, tính chuộng hào hoa, lại thích âm luật, rất thạo ngón hồ cầm. Thuý Vân
dáng yêu kiều, hiền dịu, thấy Thuý Kiều thạo hồ cầm, thường nhân lúc rảnh can ngăn chị:
- Âm nhạc không phải là công việc khuê phòng, e người ngoài nghe biết không được nhã!
Thuý Kiều nghe em can, nhưng không cho thế là phải, thường soạn bài ca Bạc mệnh, phả vào hồ cầm,
trăm vần thê lương, khiến người nghe thấy đều chau mày rơi lệ ”.
( Dẫn theo sách Ngữ văn 9, tập 1)
2- Văn bản: Chị em Thuý Kiều:
a- Vị trí đoạn trích:
“ Chị em thuý Kiều” là đoạn trích ở phần mở đầu “ Truyện Kiều”, giới thiệu gia cảnh nhà Vương
Viên ngoại. Sau khi kể về gia đình họ Vương, Nguyễn Du dành 24 câu thơ ( từ câu 15 đến câu 38 của
tác phẩm) để nói về chị em Thuý kiều, Thuý Vân. Sau đoạn trích này, tác giả kể ba chị em ( Thuý Kiều,
Thuý Vân, Vương Quan) du xuân trong tết thanh minh.
b- Bố cục: Đoạn trích có thể chia làm ba phần:
- Phần 1: 4 câu đầu : Nguyễn Du giới thiệu chung về vẻ đẹp của hai chị em Kiều.
- Phần 2: 16 câu tiếp theo: Tác giả khắc hoạ chân dung Thuý Vân – Thuý Kiều. Trong đó, ông
dành:
+ 4 câu : gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân.
+ 12 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều .
- Phần 3: 4 câu cuối: Tác giả nhận xét chung về nếp sống của chị em Kiều.
=> Bố cục của đoạn trích rất chặt chẽ. Ở đây, đại thi hào Nguyễn Du đã dẫn người đọc đi từ cảm nhận
chung về vẻ đẹp của hai chị em, sau đó chiêm ngưỡng bức chân dung cụ thể của từng người, sau cùng
thì tìm hiểu cuộc sống chung của họ. Hơn nữa, Cụ Tố Như đã có sự sắp đặt với dụng ý nghệ thuật rõ
của hai Kiều trong lời thiệu thêm nổi bật. Bằng phương thức miêu tả qua hai hình ảnh ước lệ, ẩn dụ đó,
thiên tài Nguyễn Du đã phác hoạ vẻ đẹp toàn mĩ trong cốt cách và phẩm cách của hai chị em. Cả hai
Kiều đều có cốt cách duyên dáng, thanh cao như mai; tâm hồn, phẩm hạnh trắng trong như tuyết. Biểu
tượng thiên nhiên “ mai”, “tuyết” ấy đã tôn vẻ đẹp của 2 chị em lên đến độ toàn bích trong cách nói
kiệm lời, cô đúc của thi sĩ. Từ việc gợi tả khái quát vẻ đẹp chung của hai người con gái, ông đã khẳng
định:
“Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười”
Với cách ngắt nhịp 4/4, nghệ thuật tiểu đối, cách sử dụng thành ngữ Tiếng Việt (mười phân
vẹn mười) và phương thức biểu đạt biểu cảm, tác giả đã khẳng định, nhấn mạnh vẻ riêng của từng
người nhưng cả hai đều là những trang tuyệt sắc giai nhân. Lời khen của thi nhân chia đều cho cả Kiều
và Vân. Nhưng nét bút lại muốn đậm nhạt “ mỗi người một vẻ”, vì thế, những lời thơ tiếp theo, thi sĩ đã
tập trung rọi sáng chân dung của từng người.
2/ Mười sáu câu tiếp theo: Nguyễn Du khắc hoạ cụ thể hai bức chân dung Thuý Vân và Thuý
Kiều.
a/ Thuý Vân- người con gái phúc hậu, đoan trang:
Khi giới thiệu về thứ bậc trong gia đình, Nguyễn Du đã viết: “Thuý Kiều là chị, em là Thuý
Vân”. Lẽ thường bao giờ cũng vậy, đặc biệt trong xã hội phong kiến khi mà mọi lễ nghi phải đúng theo
quy tắc. Nhưng ở đây thì khác, tác giả muốn muốn đặt vấn đề đường nét, màu sắc đậm nhạt lên hàng
đầu nên đã không tuân thủ điều này. Vì vậy, nét bút đầu tiên thi sĩ đã dành cho Thuý Vân những nét vẽ
rất cụ thể, chi tiết:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
15
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”
Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung của giai nhân. Cảm nhận chung, ấn tượng chung
về Thuý Vân, đó là vẻ đẹp “ trang trọng ”, “đoan trang”. “ trang trọng”, “đoan trang” là những tính từ
gợi tả vẻ đẹp cao sang, quý
phái. Nhưng vẻ đẹp của Vân khác với vẻ đẹp của những cô gái khác; vẻ “trang trọng” của nàng có nét
riêng, nét “khác vời” khó lẫn. Từ lời nhận xét chung đó, Nguyễn Du tiếp tục phác hoạ những nét cụ thể
Mặc dù tả Thuý Vân khá kĩ lưỡng nhưng Nguyễn Du vẫn còn chỗ dành cho Thuý Kiều. Cái chỗ
ấy chiếm một khoảng không gian không lớn nhưng rất quan trọng. Đến đây, chúng ta mới hiểu rõ vì
sao tác giả lại tả cô em trước, cô chị sau. Thì ra tả Vân mục đích là làm nổi bật Kiều:
‘Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn”
Nhà thơ dùng nghệ thuật so sánh, đòn bẩy, nghệ thuật “tá khách hình chủ” (mượn khách để nói
chủ, mượn Vân để tả Kiều). Với nghệ thật đó, Thuý Vân trở thành điểm tựa để chân dung Thuý Kiều
16
nổi lên, trội hẳn. Thuý vân đã được tả như một cô gái đẹp hoàn hảo, đằm thắm nhưng chưa đến mức
mặn mà, thông tuệ nhưng chưa phải là sắc sảo. Vẻ đẹp của Thuý kiều vượt lên trên cái hoàn hảo ấy để
trở thành cái đẹp tuyệt mĩ. Chính phó từ “càng” đã khẳng định điều đó. Kiều không chỉ sắc sảo mặn
mà trong hình sắc mà còn sắc sảo về trí tuệ và “ mặn mà” trong tình cảm, trong tình người. Và chính
cái đẹp sắc sảo, mặn mà đó mới là cái đẹp tuyệt đỉnh của người con gái. Một chữ “mặn mà” thật đúng
với con người Thuý kiều biết bao!
Khác với Thuý Vân, khi gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du không liệt kê, không
miêu tả chi tiết, cụ thể. Ngòi bút của ông chỉ ngưng đọng ở đôi mắt – một đôi mắt hoàn mĩ:
“ Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”
Đôi mắt ấy đẹp như một bức tranh,long lanh, trong sáng như làn nước mùa thu gợn sóng. Nó
không chỉ đẹp, có sức cuốn hút mãnh liệt mà nó còn có tình, ẩn chứa một sự tinh anh trong tâm hồn và
trí truệ. Như vậy, khi miêu tả chân dung Thuý Kiều, Nguyễn Du không chỉ gợi tả “sắc” mà còn thể hiện
cái “tình” của nàng. Đôi mắt ấy lại ẩn dưới lớp lông mày thanh tú, tươi tắn như dáng núi mùa xuân. Sự
kết hợp tuyệt diệu đó càng làm cho vẻ đẹp của Thuý Kiều thêm hài hoà, kiều diễm hơn nhiều phần.
Cũng là nét ngài nhưng thay cho “nét ngài nở nang” là sự mơn mởn của “nét xuân sơn”. Để rồi “Sơn”
đi với “thuỷ” thật là hữu tình. Những hình ảnh trong trẻo mỹ lệ của thiên nhiên dưới hình thức nghệ
thuật ẩn dụ, ước lệ, tượng trưng, tiểu đối được sử dụng tuyệt vời như đúc lại vẻ đẹp của giai nhân trong
câu thơ sáu chữ để rồi mở rộng hơn, nâng cao hơn vẻ đẹp ấy đến tột đỉnh trong một so sánh khái quát:
“ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Với Thuý Vân – một người con gái có vẻ đep đoan trang, phúc hậu, có tính chất thung dung điềm đạm,
thiên nhiên sẵn sàng “thua” và “ nhường” còn vẻ đẹp của Kiều khiến cho hoa cũng phải “ghen”, liễu
cũng phải “ hờn”, hay nói cách khác nhìn vẻ đẹp của Thuý Kiều thiên nhiên, tạo hoá nhận ra khuyết
Kiều. Vì tài của Kiều còn có thể kể, có thể tả được, còn sắc đẹp thì không bút nào tả nổi. Tả sắc, kể tài
là để gợi cái tình. Vậy là vẻ đẹp của Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du là sự kết hợp cả sắc – tài –
tình, là sự kết hợp vẻ đẹp của nhan sắc, tài năng, tâm hồn ( vẻ đẹp của Thuý Vân chủ yếu là ngoại
hình). Hình như một số phận bạc bẽo, éo le đã dành sẵn trước cho Thuý Kiều. Sau này có người trong
truyện đã bình luận về Kiều:
“Anh hoa phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”
Vẽ chân dung Thuý Kiều cũng như Thuý Vân, Nguyễn Du vẫn sử dụng bút pháp ước lệ, tượng
trưng quen thuộc trong thơ Nôm thời Trung đại. Tuy vậy, bức chân dung mỗi nhân vật vẫn hiện lên rất
sống động, có hồn, nét nào cũng hoàn hảo, lí tưởng, cao quý. Giáo sư Đặng Thanh Lê đã nhận xét:
Nguyễn Du khắc hoạ chân dung Thuý Kiều, Thuý Vân để “thể hiện khuynh hướng tâm lí hoá ngoại
hình và hơn thế nữa khuynh hướng thân phận hoá phẩm cách nhân vật”.
c/ Đến bốn câu thơ cuối, Nguyễn Du nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em:
“Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”
Ở đây, ông đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ (Phong lưu rất mực hồng quần; Êm đềm trướng rủ màn
che) để nhấn mạnh cuộc sống phong lưu, êm đềm của chị em Thuý Kiều. Họ đều đã “ xuân xanh xấp xỉ
tới tuần cập kê”. Cái hay của câu thơ này là ở cách sử dụng phối hợp các phụ âm một cách tài tình. Một
câu thơ mà thi sĩ đã dùng tới bốn phụ âm “x” ( xuân xanh xấp xỉ), hai phụ âm “t” ( tới tuần), hai phụ
âm “ c – k” (cập kê). Sự cộng hưởng của các phụ âm này trong một dòng thơ đã tạo nên âm điệu nhẹ
nhàng, êm đềm của cuộc sống yên vui, êm ấm của thiếu nữ phòng khuê. Với việc dùng một loạt từ Hán
– Việt: “Phong lưu”, “hồng quần”, “cập kê” và thành ngữ Tiếng việt “trướng rủ màn che”, tác giả đã
nhấn mạnh cả hai chị em đã đến tuổi yêu, tuổi lấy chồng. Mặc dù vậy, họ vẫn giữ được nền nếp gia
đình:
“ Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai”
Sự đối lập giữa khát vọng và thái độ của chị em Thuý Kiều càng làm tăng thêm vẻ đẹp về đức hạnh
của hai người, khiến ai cũng động lòng trắc ẩn.
1.Trình tự
giới thiệu
nhân vật:
- giới thiệu Thuý Kiều
trớc > Thuý Vân sau
- giới thiệu Thuý Vân trớc Thuý
Kiều sau
? Lí giải vì
sao lại có sự
khác nhau
đó?
-> đảm bảo nguyên tắc
trong quan hệ ứng xử
theo quan điểm phong
kiến: ngời trên bao giờ
cũng đợc xếp trớc, giới
thiệu trớc
->Nguyễn Du nhìn con ngời trong mối
quan hệ bình đẳng, ít chịu giàng
buộc của lễ giáo phong kiến
->hơn nữa, tả vẻ đẹp của Thuý Vân tr-
ớc là để làm cơ sở nhấn mạnh, làm nổi
bật vẻ đẹp của Thuý Kiều-nhân vật
trung tâm của tác phẩm. Chính phó từ
càng trong câu Kiều càng sắc sảo
mặn mà đã nói lên điều đó.
? Phơng thức
biểu đạt
chính của
hai văn bản
tinh thần trắng trong nh tuyết của họ.
Còn cái tài, Nguyễn Du chỉ dành cho
Kiều khi miêu tả ở phần sau.
19
?Cái tài của
Nguyễn Du
khi miêu tả
chân dung
nhân vật là
gì?Thanh
Tâm Tài
Nhân có đạt
đợc điều đó
không?
Thuý Kiều: Vẻ ngời tha
thiết phong lu, tính
chuộng hào hoa, lại
thích âm luật, rất thạo
món hồ cầm. Về Thuý
Vân, ông giới thiệu:
Thuý Vân dáng yêu kiều,
hiền dịu
=> kể, giới thiệu nhân
vật một cách chung
chung, ngời đọc khó
hình dung ra hình dáng,
thần thái của họ.
+ Khi gợi tả vẻ đẹp của Thuý Vân,
Nguyễn Du tập trung gợi tả qua các
hình ảnh: khuôn trăng, nét ngài, hoa c-
trích?
3. Nghệ
thuật
- giá trị nghệ thuật
không cao
- Có giá trị nghệ thuật rất cao:
+ sử dụng hình ảnh tợng trng, ớc lệ
có sức sáng tạo lớn
+ sử dụng thành công các biện pháp
tu từ: ẩn dụ, so sánh, nhân hoá
+ cách dùng từ chọn lọc, giàu tính gợi
hình
+ Miêu tả chân dung->dự báo số phận
nhân vật=> đó là cái tài sáng tạo của
Nguyễn Du
? Qua hai
đoạn trích
4. Cách
nhìn con
- Giới thiệu nhân vật
Vân Kiều với vẻ đẹp
- Nguyễn Du nhìn con ngời dới con
mắt của của ngời nghệ sĩ.Qua cái
20
của hai tác
giả, em có
nhận xét gì
về cách
nhìn con ng-
ời của mỗi tác
- u s dng bỳt phỏp c l quen thuc trong vn hc c (dựng hỡnh tng thiờn nhiờn p
núi v p ca con ngi) lm ni bt v p lớ tng ca 2 ch em, cm hng ngi ca ca nh th.
Nhng vi mi mt nhõn vt, tỏc gi li to mt im nhn khỏc nhau: Thỳy Võn l s trang trng,
Thỳy Kiu l s sc so, mn m. Vỡ vy, khi miờu t Thỳy Võn , tỏc gi tp trung miờu t ngoi
hỡnh c th sinh ng, y - nhng nột gi v p tụn quý ca nng: gng mt, nột ngi, n ci,
ging núi, mỏi túc, ln da. Cũn khi t Thỳy Kiu tỏc gi ch c t v p ụi mt ca Thỳy Kiu lm
ni bt s tinh anh, khỏc thng trong v p ca nng.
- u xõy dng chõn dung s phn nhng vi cỏch s dng t ng tinh t tỏc gi ó lm ni bt
thỏi khỏc nhau ca thiờn nhiờn trc v p ca hai nng v ngm d bỏo s phn khỏc nhau ca h:
V p ca Võn khin mõy thua, tuyt nhng bỏo hiu mt cuc i bỡnh lng, suụn s; v p
ca Kiu khin hoa ghen, liu hn bỏo hiu mt cuc i nhiu ộo le, trc tr.
=> Ngh thut khc ha ngoi hỡnh nhõn vt linh hot, tinh t khin hai nhõn vt hin lờn rt
sinh ng, a dng, mi ngi mt v, th hin ti nng bc thy ca thiờn ti Nguyn Du.
* Bi tp v nh: - Hon thin cỏc bi trờn
- Chun b bi: Kiu lu Ngng Bớch.
21
Tuần 8 – Buổi 7 + 8: LUYỆN TẬP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
Câu1: 2đ:
Chỉ rõ và phân tích các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ sau:
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau, tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người
Gợi ý
-Trong khổ thơ cây tre được nhân hóa có những hành động cử chỉ, tình cảm của con người. Dùng hình
ảnh : thân bọc lấy thân, tay ôm, tay níu… vừa miêu tả rất sinh động cành tre, cây tre quấn quýt trong
gió bão, vừa gợi hình ảnh con người gắn bó, che chở, kiên cường.
Câu 2 (4 điểm)
Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã viết:
- Văn học trung đại Việt Nam thường biểu hiện tiếng nói nhân văn ở sự trân trọng mọi phẩm
giá con người, đồng tìh thông cảm với khát vọng của con người, đồng cảm với số phận bi kịch của
con người và lên án những thế lực bạo tàn chà đạp lên con người
- Dựa vào những điều cơ bản trên,người viết soi chiếu và “Chuyện người con gái Nam Xương”
để phân tích những biểu hiện cụ thể về nội dung nhân văn trong tác phẩm. Từ đó đánh giá những
đóng góp của Nguyễn Dữ vào tiếng nói nhân văn của văn học thời đại ông.
- Tuy cần dựa vào số phận bi thương của nhân vật Vũ Nương để khai thác vấn đề, nhưng nội
dung bài viết phải rộng hơn bài phân tích nhân vật, do đó cách trình bày phân tích cũng khác.
II/ Dàn bài chi tiết
A- Mở bài:
- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận cong người
trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày
càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì,
“chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân
văn của Nguyễn Dữ.
B- Thân bài:
1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình
dân
- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc biệt của
tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
23
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với
chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ
dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện
khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
+ Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.+ Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng
lập công hiển hách để được “ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
+ Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nương
- XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công.
Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu.
- Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng để cưới
Vũ Nương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con người.
Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông,
XHPKVN thế kỉ XVI.
C- Kết bài:
24
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu
biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ
phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.
Gi¸ trÞ nh©n ®¹o trong “chuyÖn ngêi con g¸i Nam X¬ng” cña NguyÔn D÷
* Học sinh viết bài -> GV nhận xét, sửa chữa.
………………………………………………………
BGH duyệt ngày :………………….
Tuần 9 – Buổi 9: LUYỆN TẬP TỔNG HỢP
Câu 1. (2,0 điểm)
Cho bài ca dao sau:
Rủ nhau xuống biển mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau
Hãy chỉ ra vẻ đẹp của bài ca dao bằng một đoạn văn từ 15 - 20 câu có câu chủ đề ở đầu đoạn ?
Câu 2 : (2điểm ).
25