Tuyển tập những bài văn Phân tích thơ hiện đại lớp 9 hay đặc sắc nhất - Pdf 15

THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ( 1945 – 1985)
§ång chÝ
I. Nhà thơ Chính Hữu
- Tên thật là Trần Đình Đắc. Quê: Can Lộc - Hà Tĩnh
- Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bắt đầu làm thơ năm 1947
- Thơ ông xoay quanh đề tài người lính và chiến tranh
- Thơ Chính Hữu ngắn gọn, cô đọng, hàm xúc, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực, mộc mạc như
bản chất của người dân xứ Nghệ nhưng lại mang nét hào hoa của người từng sống ở HN.
II. Bài thơ "Đồng chí"
1. Hoàn cảnh sáng tác: Đầu năm 1948, sau những trải nghiệm của bản thân nhà thơ trong Chiến dịch VB
Thu động 1947. “Bài thơ được khơi nguồn từ những sâu sa mới mẻ và sâu lắng trong những ngày CH
trực tiếp tham gia chiến dịch VB thu đông 1947”
2. Đề tài: Người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp
3. Chủ đề: Bài thơ ca ngợi tình đồng chí - phẩm chất cao đẹp của những người chiến sĩ cách mạng trong
cuộc kháng chiến chống P. Đó là những người lính xuất thân từ những miền quê nghèo, vượt lên mọi gian
khổ khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Ở họ có tình yêu nước tha thiết, cháy bỏng. tinh thần lạc quan, yêu
đời, tình đồng chí, đồng đội kéo sơn gắn bó.
4. Nội dung: Bài thơ xây dựng h/ả những anh bộ đội từ những miền quê nghèo khắp mọi miền đn đi đánh
giặc. Yếu tố quyết định mọi chiến thắng của các anh là tc mới nảy sinh được tôi luyện trong thử thách và
chiến đấu. Đó chính là tình đ.chí thiêng liêng cao cả.
5. Nghệ thuật
- Bài thơ ngắn gọn, súc tích, cô đọng.
- Hình ảnh chân thực, mộc mạc. Nhà thơ chú ý khai thác chất liệu hiện thực của cs chiến trường.
- Ngôn ngữ bình dị giàu sắc thái biểu cảm
- Sử dụng thể thơ tự do với kết cấu bó mạ. Số tiếng trong câu và số câu trong khổ không đều nhau, phù
hợp với việc diễn tả tc theo mạch cảm xúc.
- Sự hòa quyện giữa chất hiện thực khắc nghiệt và chất lãng mạn bay bổng.
=> Đây được coi là bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về người lính trong cuộc kháng chiến
chống P. Mở đầu cho khuynh hướng viết về anh bộ đội Cụ Hồ.
6. Mạch cảm xúc và bố cục:
* Mạch cảm xúc: Bài thơ theo thể tự do, 20 dòng chia làm 3 đoạn. Cả bài thơ tập trung thể hiện vẻ

Khổ thơ đầu, nhà thơ đã lí giải sâu sắc cơ sở hình thành lên tình đồng chí.
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
…………………
Đồng chí!
II. Thân bài
1. Khái quát: Với những lời thơ mộc mạc, giản dị, ý thơ đằm thắm, tg đã khắc họa thành công h/ả người
lính Cụ Hồ trong cuộc k/c chống P. Đoạn thơ mở đầu đã để lại bao xúc động. Bởi ta hiểu được cơ sở hình
thành nên tình đồng chí. Họ đã gắn kết với nhau bởi rất nhiều điểm chung: chung giai cấp, nhiệm vụ,
khó khăn, thiếu thốn, lí tưởng.
2. Phân tích
* Chung giai cấp:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
- Hai câu thơ với cấu trúc sóng đôi, giọng thơ trầm lắng như lời tâm sự, ngôn ngữ giản dị mộc mạc như
lời ăn tiếng nói hằng ngày, đặc biệt là cách sử dụng thành ngữ dân gian đã diễn tả đầy đủ hoàn cảnh xuất
thân của những người lính. "Nước mặn đồng chua" gợi h/ả những vùng đồng bằng chiêm trũng lắm mặn,
nhiều phèn. Cây cối khó trồng vì đất đai thiếu màu mỡ, phì nhiều. "Đất cày sỏi đá" gợi lên liên tưởng
đến những vùng trung du, đồi núi, đất đai cằn cỗi, bạc màu. Anh và tôi tuy xuất thân từ những vùng quê
khác nhau, kẻ miền núi, người miền biển nhưng đều có chung hoàn cảnh nghèo khó, vất vả, lam lũ.
Chúng ta đều là những người nông dân nghèo quanh năm gắn bó với ruộng đồng, với cái cày, cái cuốc,
con trâu.
-> Có thế thấy, tình giai cấp chính là t/c đầu tiên gắn bó những người lính nông dân ấy lại với nhau.
- Trước khi chiến tranh xảy ra, họ vẫn là người xa lạ:
Anh với tôi đôi người xa lạ
- Họ tuy là những người xa lạ nhưng tác giả lại gọi họ là "đôi". "Đôi" cũng có nghĩa là hai nhưng đó là
hai người có mối quan hệ gần gũi, khăng khít. Bởi từ trong sâu thẳm, họ gắn kết với nhau trong mối quan
hệ của người cùng một dân tộc, cùng chung nỗi đau, cùng chung nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ TQ. Họ
nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của TQ để rồi:
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

- Mỗi người lính khi bước vào chiến trường đều mang trong mình ty nước thiết tha cháy bỏng. Khó khăn
thiếu thốn không làm họ lùi bước. vất vả gian truân không làm họ nản lòng. Điều gì đã giúp họ có được
sức mạnh như vậy? Đó chính là khát vọng, là lí tưởng, là mục đích chiến đấu của họ: Đánh đuổi giặc
ngoại xâm. ba tiếng "đầu bên đầu" đều sử dụng vần bằng, diễn tả thái độ nhẹ nhàng nhưng kiên quyết về
ý thức của người lính. Tất cả họ đều đứng chung trong một hàng ngũ, một trận tuyến để cùng nhau chia sẻ
ngọt bùi. Và từ trong những chia sẻ gắn bó ấy, tình đồng đội đã trở thành tình đồng chí thiêng liêng.
- "Đồng chí" - câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy
lòng với bao t/c trìu mến trân trọng. Đó cũng chính là một phát hiện, một khẳng định về một tình cảm vô
cùng thiêng liêng. Hai tiếng "Đồng chí" ngắn gọn nhưng không khô khan bởi nó là kết tinh của rất nhiều
tình cảm: tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ. Nó như gói gọn mọi cung bậc cảm xúc để phát triển thành
thứ tình cảm mới vô cùng thiêng liêng.
- “ Đồng chí” - câu thơ được tách thành một dòng riêng, có vị trí đặc biệt. Nó như một bản lề gắn kết hai
phần bài thơ, vừa khép lại ý của bẩy câu thơ trên: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lý tưởng thì trở thành
đồng chí của nhau. Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo: Đó chính là biểu hiện cụ thể và cảm động của
tình đồng chí ở mười câu thơ sau.
-> Câu thơ như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ. Bởi đó là kết tinh của tình cảm cách mạng mới
mẻ chỉ có ở thời đại mới. Câu thơ thứ 7 thực sự là một câu thơ đặc biệt.
III. Kết bài: Khổ thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bởi nó đã khơi
gợi lại những kỷ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương để hình thành nên tình đồng chí
mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được. Bài thơ đã ca ngợi tình
đồng chí hết sức thiêng liêng như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng, không bao giờ tắt.
51
Đề bài 2: Phân tích khổ thứ hai bài thơ "Đồng chí" ( Biểu hiện cụ thể của tình đồng chí”)
I. Mở bài
- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác
- Khái quát nội dung + nghệ thuật
- Giới thiệu, chép lại khổ thơ
VD: Văn học Việt Nam 1945 – 1975 đã gắn bó mật thiết với vận mệnh cũng như với sự nghiệp cách
mạng, sáng tạo nhiều hình tượng cao đẹp về Tổ quốc và con người Việt Nam trong chiến đấu, lao động,
sinh hoạt. Lẽ tất nhiên, ở một đất nước không rời tay súng suốt ba mươi năm, hình tượng người lính là

Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm.
Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa để gợi tả cảm giác phía sau người lính
còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi. Ở đây chủ thể trong câu thơ không phải
người lính, mà chính “giếng nước gốc đa” mới là chủ thể trữ tình. Đó là nơi họ sinh ra, lớn lên, dù có dứt
khoát thế nào họ cũng không thể quên được. Chính cái thâm tình với hậu phương ấy đã biến thành động
lực để người lính chiến đấu, không chỉ vì độc lập tự do cho Tổ quốc, mà còn để giải phóng quê hương. Và
ở đây, nơi chiến trường, những người lính lại tìm được những tình cảm ấm áp và hồn hậu của quê nhà
52
trong người bạn đồng chí của mình. Họ soi vào nhau, thấu hiểu và đồng cảm về tất cả. Tình đồng chí là
bước đệm để nhà thơ mở ra vẻ đẹp tâm hồn của người lính : hy sinh thầm lặng vì Tổ quốc nhưng vẫn luôn
nhớ về quê hương, gia đình ở hậu phương.
* Chia sẻ những khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên, của vật chất đời thường.
Và chính tâm hồn cao đẹp của tình đồng chí ấy đã giúp người lính vượt qua mọi gian lao, thách thức :
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng
khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng
của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự
chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang
vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu
thốn của đời lính. Đi kháng chiến, anh lính nông dân mang theo cả cái nghèo vào chiến khu. Quân đội ta
ngày ấy thiếu thốn đủ thứ, từ quân lương, quân y đến quân phục, quân trang, quân dụng,… Thiếu cả đến
cái phương tiện tối thiểu để giữ ấm bàn chân là đôi giày. Nhưng khi ta đọc đoạn thơ lên, cái khổ chỉ là
một yếu tố phụ, vì tình đồng chí đã tỏa hơi ấm và tiếp thêm sức mạnh cho người lính. Cặp đối ứng “áo
anh rách vai” – “quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn nhưng thực chất lại mang ý nghĩa bổ sung.
Tác giả miêu tả hai con người nhưng người đọc lại cảm thấy chỉ có một hình ảnh duy nhất – “đồng chí”.

III. Kết bài : Đối với nghệ thuật, người nghệ sĩ phải bén rễ vào cuộc đời, hút lấy nguồn nhựa dạt dào
ngầm chảy trong lòng cuộc sống, đem tôi luyện trong cảm xúc của mình để kết tinh thành những viên
ngọc sáng ngời để lại cho đời. Nhà thơ Chính Hữu đã làm được điều đó. Đến với “Đồng chí”, ta cảm
nhận được hình ảnh người lính cách mạng và tình cảm gắn bó keo sơn của họ qua ngôn ngữ, hình ảnh cô
đọng, chân thực và gợi cảm. Bài thơ đã khắc họa nên bức tranh sống động và hiện thực nhất về một quá
khứ gian khổ vô cùng nhưng đầy ắp tình đồng đội, về những con người đã vượt qua tất cả để giành lấy
hòa bình, độc lập ngày hôm nay.
…………………………………………………………
* Đề bài 3 : Phân tích khổ thứ ba của bài thơ "Đồng chí
I. Mở bài
- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác - Khái quát nội dung + nghệ thuật - Giới thiệu, chép lại khổ thơ
II. Thân bài
1. Khái quát: Ba câu thơ là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về
cuộc đời người chiến sĩ. Trong bức tranh trên, nổi bật là ba hình ảnh gắn kết với nhau : Người lính, khẩu
súng, vầng trăng giữa cảnh rừng hoang sương muối phục kích giặc. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp
họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sưởi ấm
lòng họ. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh
tượng trưng.
2. Phân tích:
Đêm nay rừng hoang sương muối
- Câu thơ vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian và tính chất của thời tiết.
- Hai chữ “ Đêm nay” gợi mọt thời điểm cụ thể. Đó là lúc trời đã khuya, con người và vũ trụ đi vào sự
nghỉ ngơi nhưng người lính vẫn thức
- “ Rừng hoang” gợi liên tưởng đến không gian rộng lớn mênh mông, hoang vụ, lạnh lẽo, thiếu vắng sự
sống con người.
->Thiên nhiên và thời tiết như đang thử thách người lính giữa núi rừng hoang vu trong sương muối phủ
dày. Cái lạnh thấm sâu vào da thịt thì người lính vẫn:
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
- Ba chữ “đứng cạnh bên” vang lên như một lời khẳng định sự gắn bó sẻ chia của những người lính. Giữa
núi rừng hoang vu, giữa cái rét run người, người lính vẫn sát cánh bên nhau để chờ giặc tới.

thể hiện góc nhìn tinh tế để chụp lấy cái thần của hình ảnh. Vẻ đẹp người chiến sĩ được tôn vinh, đặt
ngang với vóc dáng kì vĩ của trời đất, tầm vóc con người sánh ngang với tầm vóc vũ trụ, tầm vóc sử thi.
Ba câu thơ giúp người đọc cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của người lính. Họ không chỉ dũng cảm can
trường trong khí phách mà rất đằm thắm, tinh tế trong tâm hồn, những con người đã từng được ca ngợi:
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
3. Kết bài:
Đoạn là hình ảnh thơ đẹp, giàu ý nghĩa. Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, vừa
thực, vừa mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình. Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ.
Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở,
vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu. Hình ảnh thơ thật độc đáo, gây xúc động bất ngờ, thú vị cho
người đọc. Đồng thời nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấu và tình nghĩa thiêng
liêng của anh bộ đội Cụ Hồ. Chính đêìu đó đã khiến hình ảnh các anh sống mãi với thời gian.
………………………………………………
Đề 4 : Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ ĐC
1.MB: Nhà thơ Chính Hữu trưởng thành từ người lính thuộc trung đoàn thủ đô, rồi nổi lên trong thơ ca
yêu nước chống Pháp với phong cách thơ bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha trầm hùng, vừa sâu
lắng, hàm xúc. Phần lớn các sáng tác của ông đều tập trung vào hình ảnh người lính, đặc biệt khai thác
sâu tình cảm, tình đồng chí, đồng đội. “Đồng chí” là bài thơ được sáng tác vào năm 1948, cũng là tác
phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Chính Hữu. Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu
nặng của những người lính cách mạng, đồng thời còn hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của
anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
2.TB - Phân tích: Làm rõ hệ thống luận điểm của nhân vật
* LĐ 1: Xuất thân từ những miền quê nghèo, Chung nhiệm vụ, chung khó khăn, thiếu thốn, chung lí
tưởng (súng bên súng … )=> Hình ảnh ĐC thiên liêng, cao đẹp.( Bảy câu thơ đầu)
* LĐ 2: Tình động đội keo sơn gắn bó - Hiếu thấu tâm tư tình cảm và hoàn cảnh của nhau.
- Cùng chia sẻ những khó khăn về thời tiết và những thiếu thốn của vật chất đời thường,
- Thương yêu gắn bó, khăng khít keo sơn ( Thương nhau tay nắm lấy bàn tay)
* LĐ 3 Lạc quan yêu đời
55
* LĐ 4: Dũng cảm kiên cường trong khí phách, đằm thắm trong tâm hồn, hòa quyện giữa chất thi sĩ và

trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có
tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan
thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây
cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh
trăng.
Ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người,
trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh.
Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là
bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ.
Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng và tr¨ng kết hợp nhau; súng tượng
trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước
quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là
hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí
tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu
56
cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập
trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời và ánh
trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạ
quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc.
Cái thần của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá,
làm sao còn nét lãng mạn ?. Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp, vì nó là hiện
tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Chỉ có
trăng “treo”. Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng
của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”, chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được
sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối”
lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế
nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện
thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. ở đây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăng và
súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có một
câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên

áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa. đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ
quốc và nhân dân đứng dưới một tròng áp bức. "Anh" và "tôi", hai người bạn mới quen, đều xuất than từ
những vùng quê nghèo khó. Hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của
57
những người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họp tạm biệt người thân, tạm biệt xóm làng, tạm
biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu,họ ra đi chiến đấu để tìm lại, giành lại linh
hồn cho Tổ quốc. Những khó khăn ấy dường như không thể làm cho những người lính chùn bước:
"Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"
Họ đến với Cách mạng cũng vì lý tưởng muốn dâng hiến cho đời. "Sống là cho đâu chỉ nhận
riêng mình". Chung một khát vọng, chung một lý tưởng, chung một niềm tin và khi chiến đấu, họ lại kề
vai sát cánh chung một chiến hào Dường như tình đồng đọi cũng xuất phát từ những cái chung nhỏ bé
ấy. Lời thơ như nhanh hơn, nhịp thơ dồn dập hơn,câu thơ cũng trở nên gần gũi hơn:
"Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí ! "
Một loạt từ ngữ liệt kê với nghệ thuật điệp ngữ tài tình, nhà thơ không chỉ dưa bài thơ lên tận
cùng của tình cảm mà sự ngắt nhịp đột ngột, âm điệu hơi trầm và cái âm vang lạ lùng cũng làm cho tình
đồng chí đẹp hơn, cao quý hơn. Câu thơ chỉ có hai tiếng nhưng âm điệu lạ lùng đã tạo nên một nốt nhạc
trầm ấm, thân thương trong lòng người đọc. Trong muôn vàn nốt nhạc của tình cảm con người phải chăng
tình đồng chí là cái cung bậc cao đẹp nhất, lí tưởng nhất. Nhịp thở của bài thơ như nhẹ nhàng hơn, hơi thở
của bài thơ cũng như mảnh mai hơn Dường như Chính Hữu đã thổi vào linh hồn của bài thơ tình đồng
chí keo sơn, gắn bó và một âm vang bất diệt làm cho bài thơ mãi trở thành một phần đẹp nhất trong thơ
Chính Hữu.
Hồi ức của những người lính, những kĩ niệm riêng tư quả là bất tận:
"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay"
Cái chất nông dân thuần phác của những anh lính mới đáng quý làm sao ! Đối với những người

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chặt hẹp
Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết" ( Nhớ- Hồng Nguyên)
Một nụ cười lạc quan, một niềm tin tất thắng, một tình cảm chân thành đã được Chính Hữu cô
lại chỉ với nụ cười - biểu tượng của người lính khi chiến đấu, trong hòa bình cũng như khi xây dựng Tổ
quốc, một nụ cười ngạo nghễ, yêu thương, một nụ cười lạc quan chiến thắng.
"Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giác tới"
Nhịp thơ đều đều 2/2/2 - 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Đó cũng chính là vẻ
đẹp ngời sáng trong gian khổ của người lính. Vượt lên trên tất cả, tình đồng đội, đồng chí như được sưởi
ấm bằng những trái tim người lính đầy nhiệt huyết. Vẫn đứng canh giữ cho bầu trời Việt Nam dù đêm đã
khuya, sương đã xuống, màn đêm cũng chìm vào quên lãng. Hình ảnh người lính bỗng trở nên đẹp hơn,
thơ mộng hơn. Đứng cạnh bên nhau sẵn sàng chiến đấu. Xem vào cái chân thực của cả bài thơ, câu thơ
cuối cùng rất nên thơ: " Đầu súng trăng treo"
Ánh trăng gần như gắn liền với người lính: " Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ"
( Ánh trăng- nguyễn Duy)
Một hình ảnh nên thơ, lãng mạn nhưng cũng đậm chất chân thực, trữ tình. Một sự quyện hòa
giữa không gian, thời gian,ánh trăng và người lính. Cái thực đan xen vào cái mộng, cái dũng khí chiến
đấu đan xen vào tình yêu làm cho biểu tượng người lính không những chân thực mà còn rực rỡ đến lạ kì.
Chất lính hòa vào chất thơ, chất trữ tình hòa vào chất cách mạng, chất thép hòa vào chất thi ca. Độ rung
động và xao xuyến của cả bài thơ có lẽ chỉ nhờ vào hình ảnh ánh trăng này. Tình đồng chí cũng thế, lan
tỏa trong không gian, xoa dịu nỗi nhớ, làm vơi đi cái giá lạnh của màn đêm. người chiến sĩ như cất cao
tiếng hát ngợi ca tình đồng chí. Thiêng liêng biết nhường nào, hình ảnh những người lính, những anh bộ
đội cụ Hồ sát cạnh vai nhau " kề vai sát cánh" cùng chiến hào đấu tranh giành độc lập.
Quả thật, một bài thơ là một xúc cảm thiêng liêng, là một tình yêu rộng lớn, trong cái lớn lao nhất
của đời người. Gặp nhau trên cùng một con đường Cách mạng, tình đồng chí như được thắt chặt hơn bằng
một sợi dây yêu thương vô hình.
Bài thơ " Đồng chí" với ngôn ngữ chân thực, hình ảnh lãng mạn, nụ cười ngạo nghễ của các chiến
sĩ đã lay động biết bao trái tim con người. Tình đồng chí ấy có lẽ sẽ sống mãi với quê hương, với Tổ

- Giọng điệu rất riêng, rất mới lạ và độc đáo : Vừa ngang tàng, bông đùa, tinh nghịch, dí dỏm vừa ung
dung thanh thản, vui tươi vừa lắng sâu trách nhiệm.
III. Đề Tập làm văn
* Đề bài 1: Phân tích hình ảnh người lính trong " Bài thơ về tiểu đội xe không kính"
I. Mở bài:
Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trong những năm kháng
chiến chống Mĩ. Thơ của ông thường hay thể hiện hình ảnh thế hệ thanh niên trong cuộc chiến thần thánh
này qua hình tượng cô gái thanh niên xung phong và anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn. Trong
niềm cảm hứng phơi phới một thời :
" Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai "
Phạm Tiến Duật đã sáng tác "Bài thơ về tiểu đội xe không kính". Với một giọng thơ khỏe khoắn, tự nhiên,
tinh nghịch, tươi vui mà giàu chất suy kết hợp với những hình ảnh chân thực, nhà thơ đã làm sống lại
những năm tháng chiến tranh, những năm kháng chiến hào hùng của dân tộc qua hình ảnh những chiếc xe
không kính. Đặc biệt, tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bởi những hình ảnh
những chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn. Đó là những con người dũng cảm đến ngang tàng mà rất
giản dị, yêu đời, lạc quan.
II. Thân bài :
a, Khái quát : "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" đã đạt được giải Nhất trong cuộc thi trên báo văn nghệ
năm 1969. Trong đó, chân dung những người chiến sĩ đã được khắc họa bằng những chi tiết sống thực ở
chiến trường. Có thể thấy PTD đã khai thác được chất thơ rất lính nhưng lại bộc lộ phẩm chất cao đẹp của
những người lính lái xe nói riêng và những chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nói chung.
b, Phân tích :
b1.Hình ảnh những chiếc xe không kính:
Trong bài thơ nổi bật lên một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính vẫn băng ra chiến
trường.
60
- Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền nếu đưa vào thơ thì thường được “mĩ lệ hoá”, “lãng mạn
hoá” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. Người đọc đã bắt gặp chiếc xe tam mã trong
thơ Pus-kin, con tàu trong “tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, đoàn thuyền đánh cá trong bài thơ cùng

Ung dung buồng lái ta ngồi
=>Từ láy “ung dung” đặt lên đầu câu diễn tả thế ung dung, lạc quan của người lính – một thái độ bình
tĩnh, thanh thản, không hề mảy may lo lắng. Trên những chiếc xe ấy người lính:
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đẳng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
- Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh
nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm: nào là “:gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con
đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va
đập, quăng ném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái,
hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn
tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế.
61
- Kết cấu thơ 6 chữ với nhịp 2/2/2 đều đặn, điệp từ “nhìn”, “thấy”, được đặt ở ba đầu câu thơ liên tiếp
diễn tả thái độ tập trung cao độ của người lính, một tinh thần trách nhiệm nhưng của một tâm hồn lãng
mạn, bình thản, chủ động chiêm ngưỡng và tận hưởng từng vẻ đẹp của thiên nhiên qua ô cửa kính vỡ.
Trên chiếc xe ấy, người lính nhìn thấy mặt đất bao la, bầu trời cao rộng và con đường phía trước. Hai từ
“nhìn thẳng” mang nhiều ý nghĩa.
+ Nhìn thẳng vào con đường phía trước
+ Nhìn thẳng vào nguy hiểm, chết chóc, gian khổ, khó khăn.
- Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim -> Đó là khi xe lướt trên đường => người lính thấy con
đường như chạy ngược trở lại. Hình ảnh “Con đường chạy thẳng vào tim” là một khái quát đặc sắc của
con đường của trái tim người lính lựa chọn. Con đường chiến đấu và bảo vệ tổ quốc. Đường Trường Sơn,
con đường giải phóng miền Nam, chính là con đường của trái tim. Những câu thơ trên hé lộ diện mạo tinh
thần thầm kín của người chiến sĩ.
- “ Thấy sao trời và đột ngột cánh chim” là khi xe trong đêm, lên dốc và cua gấp.
Do không có kính, không đèn, không mui, những người lính có thể tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên. Họ
có được cảm giác mạnh khi ngồi điều khiển những chiếc xe không kính. Tuy vậy, họ vẫn ung dung, tự tin

tháp, trần trụi, không hề trau chuốt, giọt rũa. Đấy phải chăng chính là nét độc đáo trong thơ Phạm Tiến
Duật. Và những câu thơ gần gũi với lời nói hàng ngày ấy càng làm nổi bật lên tính cách ngang tàng của
62
những anh lính trẻ hồn nhiên, yêu đời, trẻ trung. Đó cũng là một nét rất ấn tượng của người lính lái xe
Trường Sơn. Cái cười sảng khoái vô tư, khác với cái cười buốt giá trong bài thơ “Đồng chí”, nụ cười hồn
nhiên ấy rất hiếm khi gặp trong thơ ca chống Pháp, nụ cười ngạo nghễ của những con người luôn luôn
chiến thắng và tràn đầy niềm tin.
* LĐ3: Tình ĐC, ĐĐ keo sơn gắn bó .
- Họ - những người lính còn biết biến những khó khăn, thiếu thốn của vật chất thành cái thuận lợi.
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
-> Đó là cách bắt tay độc đáo, có 1 không 2. Chỉ một cái bắt tay cũng ấm lòng, đủ động viên nhau, cảm
thông với nhau. Cái bắt tay truyền cho nhau cả tâm hồn, tình cảm. Tình cảm ấy thắm thiết như ruột thịt,
như anh em trong gia đình. Họ đã bỏ qua nghĩ lễ xã giao thông thường nhất để đến với nhau = tình yêu
thương của những người đồng đội, của tình đồng chí.
- Những người lính lái xe trên khắp mọi miền đất nước đã coi nhau là người thân trong gia đình. Họ đã lái
“những chiếc xe từ trong bom rơi” để về đây họp thành tiểu đội. Họ đến với nhau cũng thật chân thành:
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
- GĐ- hai tiếng thật thiêng liêng. – nhưng những người lính đã có cách định nghĩa về gia đình thật lạ,
thật tếu hóm và tình cảm thật sâu nặng, thiêng liêng giúp con người xích lại gần nhau trong những cái
chung: chung bát, chung đĩa, nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh, chung con đường với vô vàn thách
thức nguy hiểm phía trước.
- Người lính quan niệm về gia đình thật đơn giản. Chỉ cần ăn với nhau 1 bữa cơm là đã trở thành 1 gia
đình. Gia đình ấy bắt nguồn từ tình đồng đội, đồng chí khăng khít
Khi hành quân các anh động viên, chào hỏi nhau trong cảnh ngộ độc đáo, những sinh hoạt, nghỉ ngơi
thật ngắn ngủi, cái ăn, giấc ngủ thật giản dị, gian khổ nhưng tâm hồn người lính thật vui tươi, lạc quan, có
cái gì xao xuyến: “Võng mắc chông chênh đường xe chạy”. “Chông chênh” gì thì chông chênh nhưng ý
chí chiến đấu, khí phách, nghị lực vẫn vững vàng, kiên định, vượt lên tất cả. Chính mình đồng đội đã tiếp
cho họ sức mạnh để tâm hồn họ phơi phới lạc quan. Phải chăng chính tình cảm ấy đã nâng lên câu hát
nâng bước chân người lính tiếp tục vượt qua những lần “bom giật bom rung” để rồi “lại đi, lại đi trời
xanh thêm”. Điệp ngữ “lại đi” khẳng định đoàn xe không ngừng tiến tới. Hình ảnh “trời xanh thêm” gợi

những giá trị tinh thần cao đẹp….để rồi một nước nhỏ như Việt Nam đã chiến thắng một cường quốc lớn.
Hình ảnh “ trái tim” trở thành nhãn tự bài thơ, cô đúc ý toàn bài, hội tụ vẻ đẹp của người lính và để lại
cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc.
- Trái tim người lính toả sáng rực rỡ mãi đến muôn thế hệ mai sau khiến ta không quên một thế hệ
thanh niên thời kỳ chống Mỹ oanh liệt của dân tộc.
c. Đánh giá nâng cao: Cùng với “ Khoảng trời hố bom”, “ Bài ca lái xe đêm”, “ Bài thơ về tiểu đội xe
không kính” giúp ta hiểu hơn về một thế hệ trẻ Việt nam anh dũng, kiên cường. Chính họ là những con
người đã góp phần làm nên chiến thắng.
3. Kết bài: "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm
Tiến Duật. Với chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ
Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng
tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con
người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam
trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 - 1975.
………………………………………………………………….
Đề bài 3 : Hình ảnh người lính trong BTTĐXKK và Đồng Chí
1. MB: - Hình ảnh người lính (2 cuộc chống Pháp và Mĩ)
- Vị trí của họ trong lòng độc giả…
- Họ đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ. Có nhiều nhà văn thành công
khi viết về người lính. Một trong số đó phải kể đến Đồng Chí của CH và BTVTĐXKK của PTD.
2. TB: Đồng Chí và BTTĐXKK là 2 tác phẩm của 2 thế hệ thi nhân nối tiếp nhau trong cuộc chiến tranh
của dân tộc. Đặc biệt tác giả của 2 bài thơ đều là những người lính từng trực tiếp tham gia chiến đấu.
- Đồng Chí được sáng tác năm 1948 giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ còn bài thơ về tiểu đội
xe không kính ra đời sau đó 20 năm(18 năm) giữa thời kì ác liệt nhất kháng chiến chống Mĩ.
- Tuy ra đời 2 thời địa điểm khác nhau nhưng 2 nhà thơ đều viết chung 1 đề tài: hình tượng anh bộ đội Cụ
Hồ. Đó cũng chính là hình tượng tiêu biểu của Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
a. Nét chung của hình tượng người lính trong bài thơ
* Lòng yêu nước
- Dù là người lính trong kháng chiến chống Pháp hay chống Mĩ thì ở họ đều có lòng yêu quê hương, đất
nước nồng nàn, đều có chung ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc.

nhìn nên thơ như vậy.
* Tinh thần lạc quan yêu đời
+ Đặc điểm chung của 2 người lính của 2 cuộc kháng chiến là tinh thần luôn lạc quan yêu đời.
+ Giữa giá rét núi rừng Việt Bắc, người lính vẫn nở nụ cười dù đó là nụ cười gượng gạo vì giá rét,
hành động ‘ phì phèo châm điếu thuốc” tiếng cười “ha ha” giữa nơi mưa bom bão đạn là biểu hiện
cao nhất cho sự yêu đời, lòng lạc quan, cho bản lĩnh vững vàng của người lính.
* Tình yêu thương đồng chí, đồng đội keo sơn.
- Với người lính chống Pháp thì: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay ( phân tích khái quát)
- Với người lính trong cuộc k/c chống Mĩ: Những chiếc xe từ trong bom rơi.
Đã về đây họp thành tiểu đội
Bếp Hoàng…đấy”
=> Tình yêu thương đồng đôi cũng là yêu nước nồng nàn là cội nguồn tạo nên sức mạnh giúp cho người
lính có bản lĩnh vững vàng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đi đến đích cuối cùng.
b. Điểm riêng :
- Đồng chí: Khắc họa hình tượng người lính. Họ là người nông dân chưa biết chữ. Cách mạng chính là sự
giải thoát cho số phận đau khổ tối tăm của họ.Họ bước vào cuộc chiến gay go, thiếu thốn, không phải từ
sự lãng mạn bay bổng mà chính cuộc chiến biến họ trở nên lãng mạn, oai hùng.
- Bài thơ tiểu đội xe…:Người lính trong TDXKK đều là những thanh niên sinh viên tri thức, có học vấn
vì họ đã được học tập 20 năm dưới XHCN. Họ bước vào cuộc chiến với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi
cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Người lính đi vào cuộc chiến đấu với ý thức giác ngộ về lý
tưởng độ lập tự do gắn với chủ nghĩa xã hội. Họ ý thức sâu sắc về trách nhiệm của thế hệ mình. Họ sống
trẻ trung, yêu đời, lạc quan, tự tin. Hình ảnh của họ được thể hiện trong một thời điểm quyết liệt và khẩn
trương hơn. Đó là một thế hệ anh hùng, hiên ngang, mạnh mẽ.
- Họ đều có những khó khăn thiếu thốn nhưng người lính trong kháng chiến chống Pháp thiếu thốn hơn,
gánh nặng hậu phương trên vai họ trĩu nặng hơn.
65
-> Có lẽ vì thế người lính trong bài Đồng Chí, dù yêu thương sâu sắc, thương nhau chân tình thì tình đồng
đội của họ luôn lặng thầm, không ồn ào khoa trương.
- Còn người lính trong bài BTVTĐXKK bước vào cuộc chiến với tâm trạng nhẹ nhàng thanh thản, hồn
nhiên đến ngang tàng, tình cảm của họ sôi nổi, trẻ trung.

nền để tôn lên chất thơ của tuổi trẻ hiên ngang dũng cảm trẻ trung, vượt lên thiếu thốn gian khổ, hiểm
nguy của chiến tranh để sống lạc quan, để chiến đấu dũng cảm vì lý tưởng của dân tộc : giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc.
Câu 2: Cảm nghĩ về thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ qua hình ảnh người lính trong bài thơ.
So sánh hình ảnh người lính ở bài thơ này với bài Đồng chí:
- Thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ là thế hệ sống rất đẹp, rất anh hùng. Họ ý thức sâu sắc về sứ
mệnh lịch sử của mình, trong gian khổ, hy sinh vẫn phơi phới lạc quan. Như lời nhà thơ Tố Hữu, họ là thế
hệ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai” hay “Đi chiến trường như trảy
hội mùa xuân” hay “Mưa bom bão đạn lòng thanh thản”. Chính vì vậy, mãi mãi các thế hệ người Việt
vẫn tự hào, khâm phục và biết ơn họ.
- Những người lính trong “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cho thấy hình ảnh người
lính trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ có những nét chung: lòng yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng
66
hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc: thái độ bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sống lạc quan,
có tình đồng chí đồng đội thắm thiết.
Câu 3 a. Phân tích giá trị biểu cảm của từ “chông chênh” trong câu thơ: “Võng mắc chông chênh đường
xe chạy. Lại đi, lại đi trời xanh thêm”.
Gợi ý:
a. - “Chông chênh” là một từ láy giàu giá trị gợi tả, gợi cảm. Từ “chông chênh” gợi tả tư thế không
thăng bằng, không chắc chắn, không vững chãi. Trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ thì từ “chông chênh”
gợi sự nguy hiểm. Đây là một nét vẽ hiện thực mà Phạm Tiến Duật tái hiện lại cuộc đời gian khổ của
người lính lái xe Trường Sơn. Trong hoàn cảnh chiến đấu hết sức gian khổ, họ phải ăn, phải ngủ những
giấc ngủ ngắn trên xe hoặc trên dọc đường đi giữa làn mưa bom của kẻ thù nhằm huỷ diệt sự sống.
- Song từ “chông chênh” còn gợi tả phong thái hiên ngang của người lính. Bom đạn của kẻ thù tưởng
như có thể dùng sức mạnh để huỷ diệt sự sống con người nhưng không! Hình ảnh những chiếc võng mắc
“chông chênh” trên tuyến đường TS khói lửa ấy đã chứng minh điều ngược lại: sự sống không chỉ tồn tại
mà còn tồn tại trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang, tư thế của người chiến thắng.
- Bầu trời xanh là hình ảnh trượng trưng cho hoà bình, cho cuộc sống tươi đẹp. Với hình ảnh này, ta
thấy được niềm lạc quan, niềm tin bất diệt của người lính vào chiến thắng. Phải chăng đó là sức mạnh lớn
lao để đoàn xe lăn bánh tới đích

Gợi ý.
* Giống: Đều là cái nắm tay của người lính trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.
- Đều thể hiện tình yêu thương đồng đội.
- Đều tạo nên sức mạnh cho người lính.
* Khác:
+ tay nắm lấy bàn tay: sự cảm thông chia sẻ, là lời động viên âm thầm, là tình đồng chí đồng đội thiêng
liêng sưởi ấm, nâng đỡ những người lính vượt cùng vượt qua những gian lao thử thách của cuộc chiến.
(0,5đ)
+ bắt tay qua cửa kính vỡ rồi: là sự gặp gỡ, cái bắt tay thay lời chào hồ hởi, trong không khí khẩn trương
của chiến trường ác liệt, tiếp thêm cho nhau sức mạnh và những hứa hẹn lập công. Đó cũng là sự sôi nổi,
ngang tàng, tinh nghịch của những anh lính trẻ.
……………………………………………………………….
\
§oµn thuyÒn ®¸nh c¸
I. Nhà thơ Huy Cận.
- Huy Cận ( 1919 - 2005) tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê ở Ân Phú - Vụ Quang - Hà Tĩnh.
- Là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới và là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ
ca hiện đại Việt Nam.
- Trước cách mạng: Thơ Huy Cận mang một nỗi buồn man mác về một cái tôi nhỏ bé, cô đơn, lạc
lõng.
- Sau cách mạng, thơ Huy Cận dào dạt niềm vui, ấm áp tình đời, thể hiện niềm tin vào con người và
cuộc đời mới.
II. Bài thơ " Đoàn thuyền đánh cá".
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được viết vào năm 1958, khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới. Không khí hào
hứng, phấn chấn, tin tưởng bao trùm trong đời sống xã hội và ở khắp nơi dấy lên phong trào phát
triển sản xuất xây dựng đất nước. Chuyến thâm nhập thực tế ở vùng mở Quảng Ninh vào nửa cuối
68
năm 1958 đã giúp nhà thơ Huy Cận thấy rõ và sống trong không khí lao động ấy của nhân dân ta, góp

lặn xuống biển sâu, đem hơi ấm và ánh sáng xuống lòng đại dương xanh thẳm khiến đại dương trở
nên rực rỡ và lung linh sắc màu. Nhà thơ không chỉ miêu tả cảnh mặt trời trên biển mà còn cả trong
lòng biển tạo nên bức tranh thiên nhiên tráng lệ, kì vĩ.
- Hai từ " xuống biển" đã góp phần nhân hóa mặt trời đồng thời diễn tả tư thế chủ động của vật thể vĩ đại
này. Dường như biển cả chính là ngôi nhà, là nơi nghỉ ngơi của mặt trời sau một ngày làm việc vất vả.
Khi mặt trời vừa khuất sau làn nước xanh thẳm cũng là lúc:
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Với nghệ thuật nhân hóa, Huy Cận đã gợi ra sự liên tưởng vũ trụ bao la như là ngôi nhà khổng lồ, trong
đó màn đêm là cánh cửa còn những đợt sóng lan dài chính là những chiếc then cài. và khi cửa đã đóng,
then đã cài là vũ trụ đã đi vào sự nghỉ ngơi. Qua biện pháp so sánh và nhân hoá đặc sắc. Huy Cận đã miêu
tả rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển vào đêm thật đẹp, kỳ vĩ, tráng lệ
như thần thoại đồng thời gợi sự gần gũi như ngôi nhà thân quen. Lúc đó biển trở nên hiền hòa, gần gũi.
Phác hoạ được một bức tranh phong cảnh kì diệu như thế hẳn nhà thơ phải có cặp mắt thần và trái tim
nhậy cảm.
69
- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày. Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang trạng
thái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động:
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi.
Câu hát căng buồm trong gió khơi.
-> Sự đối lập này làm nổi bật tư thế lao động của con người trước biển cả.
+ Nhịp thơ nhanh mạnh như một quyết định dứt khoát.
+ Ba chữ "lại ra khơi" vang lên một cách hào hứng, phấn khởi. Nó như tiếng reo vui của người dân chài
được làm công việc mà họ yêu thích. Ra khơi khi hoàng hôn xuống không phải hành động diễn ra đầu
tiên mà nó được lặp đi lặp lại nhiều lần. Phó từ "lại" diễn tả sự lặp lại, tiếp diễn. Ra khơi vào thời điểm
này đã trở thành chu kì, nhịp điệu lao động của những ngư dân. Nó đã tạo ra sự đối lập giữa thiên nhiên
và con người. Thiên nhiên đã đi vào trạng thái nghỉ ngơi thì người dân bắt đầu lao động. Ra khơi khi vũ
trụ đã yên tĩnh nhưng không khí của đoàn thuyền không hề tẻ nhạt mà vô cung rộn ràng, hào hứng, phấn
khởi.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Câu thơ là một ẩn dụ đặc sắc, biến cái ảo thành cái thực. Câu hát tượng trưng cho khí thế phơi phới,

đến mặt biển xanh thẳm. Đó là kho của cải vô tận mà con người đang khám phá để làm giàu cho đất
nước.
70
Nếu như câu trên có mang tính khái quát cao thì câu thơ dưới miêu tả trực tiếp loài cá thu. Đó là
loài cá có nhiều và mang giá trụ kinh tế cao. Lời thơ gợi sự liên tưởng thú vị: những chú cá thu đang bơi
lội trông rất giống như những con thoi, cả đoàn cá thu là một đoàn thoi. Lời thơ giúp ta hình dung ra được
hình dáng thon dài, chắc khỏe của những con cá thu. Chúng đang chuyển động trong mọi tư thế và tạo
nên mọt thế giới lung linh, sống động
Đêm ngày dệt biển muôn luống sáng
Những chú cá thu ấy đang ra sức dệt lên tấm thảm khổng lồ. Đó là tấm thảm kì diệu với “muôn
luồng sáng”. Cả một không gian mênh mông bao la rộng lớn dù ngày hay đêm cũng đều sáng bừng lên
bởi sự chiếu sáng của tấm thảm kì diệu đó. Nhưng tấm thảm đó không ở trạng thái tĩnh mà chúng luôn
luôn chuyển động. Vì vậy, trong mỗi khoảnh khắc nó lại biến đổi và mang vẻ đẹp kì lạ riêng. Đó không
phải là tấm thảm bình thường mà là tấm thảm được dệt lên từ sự sống của biển cả. Phải thật tinh tế và yêu
biển vô cùng nhà thơ mới có sự cảm nhận đó. Từ việc cảm nhận vẻ đẹp và giàu có của biển, người dân
chào cất lên tiếng gọi tha thiết, trìu mến.
Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi
Câu thơ gợi hình ảnh liên tưởng thú vị. Thực chất công việc của người đánh cá rất vất vả, khó
nhọc. Người ngư dân phải sử dụng đến trang thiết bị hiện đại. Nhưng trong bài thơ này không phải những
ngư dân đang đánh bắt cá mà họ đang hát để gọi cá vào lưới. Tiếng hát của họ chính là động lực kì diệu
khiến cho công việc đánh bắt cá trở nên nhẹ nhàng và thi vị vô cùng.
Có thể thấy hình ảnh trong thơ Huy Cận độc đáo, sáng tạo đến bất ngờ. Cá đi trên biển là "dệt
biển". Cá vào lưới là "dệt lưới". Những tấm lưới được dệt lên bởi những chú cá là thành quả vô cùng to
lớn mà người ngư dân gặt hái được sau một đêm lao động vất vả. Vất vả là vậy nhưng họ vẫn hào hứng,
phấn khởi, vẫn lạc quan, yêu đời. Câu hát của họ vẫn vang lên ca ngợi vẻ đẹp và sự giàu có của biển khơi.
Biển khơi đã gắn liền với cuộc đời của họ. Họ đã thực sự trở thành người làm chủ để khám phá kho tài
nguyên vô tận làm giàu cho đất nước.
c. Đánh giá nâng cao: Đoạn thơ với những hình ảnh chân thưc, kết hợp với các hình ảnh khoa trương đã
giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp giàu có của biển HL, cảm nhận được vẻ đẹp của những ngư dân
trên biển. Đoạn thơ giúp ta thêm tin, thêm yêu vào con người, cuộc đời và cuộc sống hôm nay.

Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ lặng phù sa.
Trong không không khí hào hứng phân khởi, say mê người ngư dân đưa con thuyền vào cuộc
chinh phục mới. Bút pháp lãng mạn khoa trương đã biến con thuyền không phải chạy bằng động cơ máy
móc mà bằng sức mạnh của tự nhiên. Con thuyền ấy có gió làm bánh lái, trăng làm buồm. Trong phút
chốc, tầm vóc con thuyền trở lên lớn lao, kì vĩ sánh ngang cùng thiên nhiên vũ trụ. Hình ảnh con thuyền
hay chính là con người lao động với tầm vóc cũng rất lớn lao. Con thuyền ấy không phải đi trên mặt biển
mà như "lướt" giữa không gian rộng với trời xanh bát ngát. Động từ "lướt" diễn tả đoàn thuyền không chỉ
chạy nhanh mà còn rất nhẹ nhàng. Vẻ đẹp của con thuyền chính là vẻ đẹp của người lao động. Đoàn
thuyền chạy nhanh diễn tả khí thế phơi phới của những con người lần đầu tiên làm chủ cuộc đời. Họ
không chỉ có sức mạnh mà tâm hồn họ còn vô cùng vui tươi phấn khởi. Hình ảnh con thuyền mang kích
thước khổng lồ đang hòa nhập với thiên nhiên tạo nên một cảnh tượng kì vĩ. Dường như đây không phải
là đoàn thuyền trong cuộc đánh bắt cá mà đang trong cuộc du ngoại giữa chốn bồng lai tiên cảnh.
Nếu hai câu thơ trên miêu tả bằng bút pháp tả thực thì hai câu dưới miêu tả bằng bút pháp hiện
thực. Cảnh lao động trở về t/c quyết liệt của nó:
Ra đầu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Những người ngư dân với tâm hồn phơi phới đang làm chủ phương tiện của mình. Họ lái những
con thuyền ra khơi đâu còn quẩn quanh đánh bắt ven bờ. Đâu còn những ngày chỉ có những trang thiết bị
thô sơ thiếu thốn.Giờ đây họ đã có trong tay những tranh thiết bị hiện đại để đánh bắt xa bờ.Với những
phương tiện ấy,họ tự tin tìm đến những nơi xa để "dò bụng biển". Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ đã biến
lòng biển bao la trở thành "bụng biển". Nơi ấy chất chứa bao điều kì lạ, bí hiểm đòi hỏi sự khám phá của
con người. Nơi ấy cũng chứa đựng tài nguyên khoáng sản để phục vụ cho công việc làm giàu đất nước.
Bằng một động từ mạnh được sử dụng liên tiếp nhà thơ đã giúp người đọc hình dung cảnh đánh bắt cá.
Những ngư dân giờ bước vào cuộc chiến mới. Ở đó, ngư trường là chiến trường, ngư cụ là vũ khí, ngư
dân là chiến sĩ. Tất cả trong tư thế hoàn toàn chủ động để dàn đan thế trận tấn công vào cuộc chinh phục
thiên nhiên. Và kết quả cuối cùng là:
Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi
*Đánh giá nâng cao: Khổ thơ ngắn gọn nhưng đã vẽ lên bức tranh khoáng đạt, rực rỡ sắc màu của
biển Hạ Long. Hình ảnh thơ thật lãng mạn, bay bổng và con người có tâm hồn cũng thật vui vẻ, phơi

trong nước biển khiến ánh trăng tan ra nên ta có cảm giác đuôi cá quẫy trong ánh trăng. Khung cảnh trở
nên vô cùng lung linh, huyền ảo.Ánh trăng dát vàng trên mặt biển bao la. Mặt biển luôn sao động đối với
đuôi cá quẫy.Biết như vậy nhà thơ vừa miêu tả được vẻ đẹp giàu có của biển khơi, vừa diễn tả được sức
sống dồi dào, âm thầm điềm tàng trong lòng biển. Nếu như khi hoàng hôn biển rực rỡ tráng lệ thì giờ đây
biển trở nên huyền ảo lung linh. Người đọc có cảm giác buâng khuâng khi đọc tiếp những lời thơ của ông.
Câu thơ cuối tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa để diễn tả thành công nhịp sống của thiên nhiên vũ trụ.
Khi vũ trụ đi vào sự nghỉ ngơi thì những ngọn gió, những ngọn sóng trở thành nhịp thở của đêm. Giờ đây
vũ trụ đang sống với nhịp thở êm đềm. Lời thơ còn gợi sự liên tưởng thú vụ: Muôn ngàn vì sao lung linh
trên trời cao phản chiếu xuống mặt biển nhưng mặt biển không tĩnh mà luôn luôn chuyển động. Qua dòng
chảy của biển, ta thấy như sao đang lùa nước. Lời thơ còn gợi ra một cách kiểu khác. Trên dòng chảy ấy
có một thế giới sống động. Nhịp sống ở đó đang tiếp diễn, đang sinh sôi. Trong nhịp thở êm đềm của biển
đêm, con người đang hăng say làm việc. Chứng kiến cảnh lao động ấy nên trăng và sao ở trên trời cao
cách mặt biển hàng nghìn dặm cũng sà xuống giúp người dân lùa cá vào lưới. Thiên nhiên cũng như hòa
nhập cùng với nhịp điệu lao động của con người, nâng đỡ con người, giúp người lao động lùa cá vaofd
lưới.
* Đánh giá nâng cao: - Vẻ đẹp của biển đêm
- Con người lao động. Bức tranh có sự hoà nhịp kỳ diệu giữa thiên nhiên và
con người lao động.
Đề bài 5: Phân tích khổ 5 của bài thơ.
I. Mở bài
II. Thân bài
1. Khái quát: Khổ thơ là một khúc hát ca ngợi công việc lao động nhẹ nhàng, thú vị. Ca ngợi biển nhân
hậu, ân tình.
2. Phân tích
Ta hát bài ca gọi cá vào
73

Trích đoạn Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại. Khỏi quỏt: Giới thiệu hỡnh tượng người mẹ trong thơ ca Việt Nam: Trong văn học, hỡnh ảnh ngườ Giải thớch ý nghĩa của lời nhận định.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status