Tuyển tập đề ngữ văn lớp 9 có lời giải - Pdf 15

PHẦN: TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Lµng ( Kim Lân)
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. Tác giả
- Nhà văn Kim Lân có tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920. Quê Từ Sơn - Bắc Ninh.
- Nhà nghèo chỉ học hết Tiểu học rồi phải bỏ học kiếm sống. Nhờ chịu khó quan sát và suy ngẫm,
được đi nhiều nên tuy ít tuổi-> chú bé Tài đã có vốn hiểu biết khá dầy dặn về phong tục tập quán
trong c/s vùng Kinh Bắc quê hương. - > là chuẩn bị tốt để ông trở thành nhà văn sau này.
- Sở trường : viết truyện ngắn.
- Am hiểu và gắn bó với nông thôn và người nông dân.
- Đề tài : Tập trung viết về nông thôn và sinh hoạt của người nông dân. Ngòi bút của ông đặc biệt
hấp dẫn khi viết về các sinh hoạt phong phú của nông thôn với các trò chơi như : Chọi gà, đánh vật,
thả chim qua đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân.
- P/cách : Tự nhiên, tinh tế, biết gạn chắt vẻ đẹp tâm hồn và những nét mới trong tâm hồn, tinh cảm
của con người.
II. Tác phẩm
1. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm: truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.
2. Đề tài: Viết về hình tượng người nông dân trong những năm đầu của cuộc k/c chống Pháp
3. Khái quát nội dung và nghệ thuật
* Nội dung chính: Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông
dân phải dời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai
trong truyện “Làng”.
* Nghệ thuật:
- Xây dựng cốt truyện tâm lí: Xoay quanh diễn biến tâm lí nhân vật ông Hai
- Tình huống truyện đặc sắc, thắt nút, cởi nút hợp lí. Ông Hai từ phấn khởi chuyến sang hụt hẫng,
tuyệt vọng, tưởng chết đi lại sống lại.
- Xây dựng nhân vật sống động, chân thực với tính cách rõ nét
- Nghệ thuật tâm lí tinh tế (qua độc thoại, đối thoại, độc thoại nội tâm, miêu tả ngoại hình…)
- Ngôn ngữ nhân vật giản dị, tự nhiên lời nói thường ngày mang sắc thái cá thể rõ nét
- Cách trần thuật linh hoạt, chi tiết tâm lí xén chi tiết sinh hoạt làm cho truyện thêm hấp dẫn

trong để bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Đồng thời miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua
các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh,
day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế
giới tinh thần của họ.
- Ngôn ngữ truyện: Đó là ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị mà đặc sắc, gợi cảm, nhiều chỗ như lời
ăn tiếng nói hàng ngày tạo nên một không khí làng quê thân quen, gần gũi. Đặc biệt là ngôn ngữ
nhân vật sinh động giàu tính khẩu ngữ và mang đậm sắc thái cá nhân. Qua ngôn ngữ ta hiểu được
tính cách của nhân vật:
+ Ông Hai: ngôn ngữ của người nông dân chất phác, thật thà, thích nói chữ
+ Bà Hai : Nhỏ nhẹ, nhẫn nhịn, hiền lành
+ Mụ chủ nhà : Đánh đá, chua ngoa, tham lam nhưng cũng yêu làng, yêu nước, quan tâm
đến kháng chiến.
- Lời trần thuật và lời nhân vật : Có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần
thuật chủ yếu ở điểm nhìn của nhân vật ông Hai (mặc dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ 3).
- Cách trần thuật linh hoạt, chi tiết sinh hoạt hàng ngày xen lẫn các chi tiết miêu tả tâm lí làm
cho câu chuyện sinh động, chân thực và đời thường hơn.
Câu 2: Nhan đề của truyện là "Làng" sao không phải là "Làng Chợ Dầu". Từ nhan đề của
truyện, em hiểu gì về chủ đề của tác phẩm ?
Gợi ý: Nhan đề của truyện là "Làng" không phải là “Làng Chợ Dầu” vì nếu là “Làng Chợ Dầu”
thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng. Dụng ý của tác
giả muốn nói tới một vấn đề mang tính phổ biến ở khắp các làng quê, có trong mọi người nông dân.
Bởi thế "Làng" là nhan đề hợp với dụng ý của tác giả. Qua đó ta hiểu chủ đề của truyện: ca ngợi
tình yêu làng quê tha thiết của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
Như vậy, nhan đề "Làng" vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông Hai, đồng thời qua
cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng của những người dân quê đất Việt.
Câu 3: Trong "Làng", Kim Lân có kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị giặc
đốt, đốt nhẵn. Chi tiết này dường như vô lý. Ý kiến của em như thế nào? Ghi lại vắn tắt.
2
Gợi ý: Trong "Làng", chi tiết kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị đốt nhẵn. Mới
đọc chi tiết này, ta thấy dường như vô lý bởi ngôi nhà là cả một tài sản quá lớn. Hơn thế nó còn gắn

định giai đoạn tìm đường và nhận đường của nền văn hoá mới. Văn hoá kháng chiến chống Pháp
trở thành một bộ phận của kháng chiến, tích cực tham gia kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến,
cho niềm tin.
Câu 5: Phân tích đoạn:
“ - Thế nhà con ở đâu?

- Ừ, đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ? “
Qua đoạn đối thoại này, tâm trạng ông Hai có gì đặc biệt? Điều đó thể hiện nỗi niềm sâu kín
của nhân vật này như thế nào?
Gợi ý: Trong tâm trọng bị dồn nén và bế tắc, ông Hai chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào
những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ. Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm
động và sinh động nỗi lòng sâu sa, bền chặt, chân thành của ông Hai - một người nông dân - với quê
hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.
Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng
mình, ta thấy rõ ở ông Hai:
- Khổ tâm vì nhầm tưởng làng mình theo Tây, nước mắt giàn giụa trên má (Tâm trạng đau khổ).
3
- Bộc lộ tình yêu làng sâu sắc : Trong cuộc trò chuyện, ông đã hỏi con « Thế nhà con ở đâu?” . Ông
muốn đứa con nhỏ, thực chất ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu. - Ông hỏi con những câu tưởng
rất vu vơ, bởi đơn giản ông muốn được nghe, được về làng Chợ Dầu, được thấy con trẻ nhắc đến
ngôi làng mà mình yêu quý. Qua chi tiết này ta thấy mặc dù đã quyết định thù làng nhưng trong sâu
thẳm tâm hồn, ông Hai vẫn yêu làng sâu sắc và mãnh liệt. Những day dứt, trăn trở trong lòng ông
chính là sự khẳng định tình yêu làng chợ Dầu luôn hiện hữu trong ông.
- Vì lầm tưởng làng theo giặc -> cả hai bố con ông đều trả lời khe khẽ, thủ thỉ. Ông Hai xấu hổ
cho làng ông, cho người dân quê ông: " Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má »
chứng tỏ ông rất khổ tâm.
- Trong đoạn đối thoại này ta còn thấy ông Hai là người yêu nước, yêu k/c. Ông đã đặt tình yêu
yêu nước, yêu cách mạng lên trên tình yêu làng.
+ Ông đã hỏi con: Thế con ủng hộ ai?
Câu trả lời của đứa con út: "Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm" hay chính là nỗi lòng của ông.

4
- Nghe đám người nói chuyện Tây « rút ở Bắc Ninh », « khủng bố chợ Dầu », « quay phắt lại, lắp
bắp hỏi » -> Hđ « quay phắt » và nói « lắp bắp » là biểu hiện của sự xúc động, mong mỏi, khao
khát được nghe tin chiến thắng của làng.
- Nghe người đàn bà nói « cả làng chúng nó Việt gian theo Tây » -> bàng hoàng, sững sỡ « cổ ông
lão nghẹn ứ lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi, tưởng không thể thở được » -> sự thay đổi đột
ngột của trạng thái tâm lí. Tin dữ giống như sét đánh ngang tai, ông tưởng như đất dưới chân sụp
xuống khiến ông choáng váng…
- Không tin -> hỏi lại -> người đàn bà khẳng định chắc chắn « vừa ở dưới ấy lên », kể rành rọt «
Việt gian từ thằng chủ tịch… » -> ông Hai buộc phải tin,
- Đánh trống lảng « hà, nắng gớm, về nào » -> Mặc dù không ai biết ông là người làng Chợ Dâu
nhưng ông cứ ngỡ ai cũng biết, ông xấu hổ nên tìm cách thoát ra khỏi đám đông
- Trên đường về : « cúi gằm mặt mà đi » ( so sánh với lúc đi : Gặp ai cũng níu lại cười cười) - > xấu
hổ, không muốn ai nhìn thấy mình.
- Về đến nhà : nằm vật ra giường -> mệt mỏi, đau khổ, chán chường
- Nhìn con -> khóc -> đau khổ.
- Nắm tay lại, rít lên « Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt
gian bán nước để nhục nhã thế này » -> tức giận, căm thù.
- Kiểm điểm những người trong óc, suy nghĩ về việc làng theo Việt gian, không tin -> buộc phải tin
( độc thoại nội tâm).
- Chiều: không ai nói chuyện.
- Đêm : trả lời bà Hai gắt gỏng, nhát gừng -> bực dọc, khó chịu -> bất an.
- Nghe tiếng « léo xéo ở gian trên » : « chân tay nhủn ra, trống ngực đập thình thịch …-> sợ hái.
- Mấy ngày sau : không dám ra khỏi nhà, nhưng ở tronh nhà nhưng tâm trí hướng ra ngoài.
* Đề bài : Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển
biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân
Pháp.
Dựa vào đoạn trích trong Ngữ văn 9, tập một, để trình bày ý kiến của em.

Gợi ý :

ông mới có.
a. Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thống trong ông Hai.
- Ồng Hai là một người yêu làng. Gọi là yêu thôi chưa đủ mà phải nói là say đắm, yêu đến mức tôn là. Tình yêu
ấy được biểu hiện qua tính hay khoe làng của ông. Với ông Hai, cái gì ở làng ông cũng đáng tự hào. Nào là
làng ông sầm uất như tỉnh, đường làng lát toàn đá xanh, trời mưa đi bùn không dính gót, ngày mùa phơi thóc,
phơi rơm thì tốt thượng hạng, cái cổng làng to như cổng đình. Tình yêu làng đã khiến cho ông mù quáng. Ông
còn khoe cả cái sinh phần của viên tổng đốc.
=> Cách khoe làng và tự hào về làng có hơi quá nhưng vẫn là chính đáng bởi vì nó xuất phát từ tình yêu làng
mãnh liệt của ông. Chính cái “ hơi quá” ấy đã làm nên nét riêng, nét đáng yêu của nhân vật.
Qua câu chuyện ta thấy ông Hai yêu làng sâu sắc. Đó là thứ tình yêu gần như máu thịt. Cái làng có một ý
nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của ông Hai. Trong tình yêu ấy ta đã thấy tiềm ẩn
tình yêu nước, yêu k/c.
b. Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.
-Được cách mạng giải phóng, ông hiểu ra nhiều điều. Bây giờ khoe làng ông lại khoe khác. Ông khoe quê ông
được giải phóng, c/s đổi thay. Ồng khoe những ngày tập quân sự, đào giao thông hào… khoe làng ông có chòi
phát thanh, phòng thông tin cao ráo, thoáng mát rộng rãi nhất vùng…. Mỗi khi khoe làng, “ hai con mắt ông
sáng hắn lên, cái mặt biến chuyển hoạt động”. Ông khoe mà không cần biết người đối thoại có nghe hay không.
Bởi vì, câu chuyện của ông không phải với mục đích thông báo thông tin mà chỉ muốn được nói về làng đề làm
vơi đi nỗi nhớ làng.
, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải
xa làng, ông nhớ quá cái khụng khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,…
những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa?
- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bình luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ
thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu
thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.
c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin
làng theo giặc.
6
- Khi vừa ở phòng thông tin, được nghe tin quân ta thắng lớn, ông Hai vui mừng “ náo nức”, “ ruột gan ông
lão cứ múa cả lên”. Ông đã gặp một đám người dân tản cư. Trong câu chuyện của họ có nhắc đến làng Chợ

d. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng
tự hào về làng chợ Dầu.
- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không
chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.
- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về
làng kháng chiến của ông.
3. Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn
ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.
- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.
- Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.
Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh
động.
C- Kết bài:
- Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng
sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.
- Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và
tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.
Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.
7
* Đề 2: Trong truyện ngắn Làng, nhà văn Kim Lân đã thể hiện một cách sinh động và tinh tế diễn
biến tâm trạng của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.
Em hãy phân tích để làm rõ.
Gợi ý
1. Yêu cầu về nội dung :
* Đề bài yêu cầu người viết phải vận dụng kiến thức đã học về nghị luận một tác phẩm tự sự để
phân tích, làm rõ nghệ thuật thể hiện sinh động, tinh tế diễn biến tâm trạng của nhân vật. Tâm trạng
của nhân vật cần làm rõ ở đây là ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân với diễn
biến đầy phức tạp khi nghe tin làng quê mình theo giặc.
* Để làm rõ diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng Dầu theo giặc, ta phải chú ý một số
nội dung sau :

8
Việt gian bán nước để nhục nhã thế này -> Niềm tự hào về làng như sụp đổ. Trong ông, không chỉ
có sự đau đớn mà có cả sự căm thù với những kẻ làm tay sai cho giặc.
+ Giận lây và trách cứ những người trong làng phản bội, nhưng lòng yêu làng, tin những người
cùng làng khiến ông lão bán tín bán nghi.
- Đêm xuống, ông trằn trọc không ngủ được. Cuộc nói chuyện cùng bà Hai với những câu cộc lốc,
nhát gừng “ gì?, Biết rồi”đã diễn tả tâm được tâm trạng đau khổ, buồn bực, bất an của ông. Tâm
trạng bất an của ông Hai được bộc lộ rõ khi ông Hai nghe thấy “ tiếng léo xéo ở gian trên”. Cái âm
thanh ấy đã khiến ông Hai “ lặng đi, chân tay nhủn ra tưởng chừng như không cất lên được” và “
trống ngực đập thình thịch…ông lão nín thở…”
-> Tin làng theo Tây không chỉ là sự đâu đớn mà đã biến thành nỗi lo lắng, sợ hãi.
- Mấy ngày sau:
+ Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớp, hễ thấy đám đông
nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.
=> Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông
Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.
. + Ông Hai tiếp tục bị đặt vào một tình huống thử thách căng thẳng, quyết liệt. Đó là khi mụ chủ
nhà biết chuyện, có ý muốn đuổi khéo gia đình ông đi, ông đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, bế tắc
hoàn toàn. tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai đã có một cuộc xung đột nội tâm
gay gắt. Đi đâu bây giờ? Không ai muốn chứa chấp dân của cái làng Việt gian. Ông thoáng có ý
nghĩa “Hay là trở về làng”. Tuy nhiên ông đã gạt bỏ ý nghĩ ấy bởi “Làng đã theo Tây, về làng
nghĩa là rời bỏ Kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”. Mối mâu thuẫn trong
nội tâm và tình thế của nhân vật như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết. Tuy chưa biết
đi đâu nhưng ông Hai đã dứt khoát chọn lựa theo cách của ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng đã
theo Tây thì phải thù”. Nhưng dù xác định như thế, ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng
quê, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.
+ Đau khổ, ông không biết tâm sự cùng ai ngoài đứa con bé bỏng. Yêu làng Dầu, ông muốn khắc
sâu vào trái tim bé nhỏ của con tình cảm với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ, đó cũng chính là
tấm lòng thuỷ chung “trước sau như một” với cách mạng của ông. Đây là một đoạn văn diễn tả rất
cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân –

+ Thoạt đầu nghe tin làng chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà tản cư nói ra, ông lão bàng hoàng,
sững sờ, nghi ngờ, không thể tin được.
+ Khi cái tin ấy được khẳng định chắc chắn, ông lão buộc phải tin. Tâm trạng ông Hai bị ám ảnh,
day dứt với mặc cảm là kẻ phản bội.
+ Luôn sống trong tâm trạng nơm nớp, lo sợ, xấu hổ, nhục nhã nên chốn biệt ở trong nhà.
+ Tủi thân, thương con, thương dân làng chợ Dầu và thương thân mình phải mang tiếng là dân
làng Việt gian.
- Ông Hai tiếp tục bị đặt vào một tình huống thử thách căng thẳng, quyết liệt hơn khi mụ chủ nhà
báo sẽ đuổi hết người làng chợ Dầu khỏi nơi sơ tán.
+ Ông lão cảm nhận hết nỗi nhục nhã, lo sợ vì tuyệt đường sinh sống.
+ Bị đẩy vào đường cùng, tâm trạng vô cùng bế tắc. Mâu thuẫn nội tâm được đẩy đến đỉnh điểm.
+ Giận lây và trách cứ những người trong làng phản bội, nhưng lòng yêu làng, tin những người
cùng làng khiến ông lão bán tín bán nghi.
+ Định quay về làng, nhưng hiểu rõ thế là phản bội cách mạng, phản bội cụ Hồ.
+ Tâm sự với đứa con để củng cố niềm tin vào cách mạgn, kháng chiến; tự nhủ mình “Làng thì
yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.
+ Giữ được tình cảm trung thành với cách mạng, kháng chiến, cụ Hồ.
- Tâm trạng nhân vật được miêu tả cụ thể, gợi cảm qua diễn biến nội tâm, ý nghĩ hành vi, ngôn
ngữ nên rất sinh động.
- Ngôn ngữ kể, ngôn ngữ nhân vật đặc sắc, bộc lộ rõ tâm trạng và thái độ của nhân vật.
- Tình huống truyện giúp nhân vật bộc lộ tâm trạng cụ thể, đa dạng.
* Đề 3: Ông Hai ("Làng" - Kim Lân) là một hình tượng nông dân rất mới. Em hãy chứng
minh.
Gợi ý: Hs so sánh với những nhân vật nông dân đã học như Chị Dậu, lão Hạc để thấy cái mới trong
tình cảm, suy nghĩ, tính cách của nhân vật ông Hai.
- Những người nông dân trong các tác phẩm hiện thực thân phận nô lệ, nghèo khổ, bất hạnh, suốt
cuộc đời bị miếng cơm manh áo ghì sát mặt đất.
- Nhân vật ông Hai có địa vị làm chủ, có sự chuyển biến trong tình cảm, suy nghĩ, những mối quan
tâm, tham gia kháng chiến, có tình yêu làng, yêu nước
- Đánh giá về sự thành công trong việc xây dựng nhân vật của tác giả.

gàng. Nói chuyện với anh, ông hoạ sĩ đó vẽ anh. Nhưng anh đó giới thiệu với ông hoạ sĩ về ông kĩ
sư dưới vườn rau Sa Pa, anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét- những người cũng giống như anh, say
mê làm việc, cống hiến tuổi trẻ, trí tuệ, hạnh phúc cá nhân cho đất nước. Cô kĩ sư sau khi nói
chuyện với anh TN nhận thấy bàng hoàng, thấy mình từ bỏ mối tình đầu nhạt nhẽo của là đúng đắn
và yên tâm với quyết định nhận công tác miền núi. Sau 30 phút nói chuyện, đến giờ ốp, anh TN phải
chia tay mọi người trong sự bịn rịn và quyến luyến. Anh không quên tặng hai người một làn trứng,
tặng cô gái một bó hoa thật đẹp.
3.Nội dung: Truyện kể về cuộc gặp gỡ trong vòng ba mươi phút giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư và anh
thanh niên trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m.
4. Nghệ thuật:
- Xây dựng cốt truyện nhẹ nhàng, không có những chi tiết li kì, giật gân
- Tình huống nhẹ nhàng mà hợp lí.
- Tên nhân vật đều là những người vô danh -> Hình thành một thế giới những con người vô danh.
Họ không chỉ là những con người cụ thể mà đại diện cho các thế hệ, ngành nghề trên cả nước đang
ngày đêm say mê âm thầm làm việc và cống hiến mà ta bắt gặp họ ngẫu nhiên trong cuộc đời
- Tên truyện độc đáo, sáng tạo
11
- Lời văn trong sáng, nhẹ nhàng, giàu chất thơ. Những trang tả cảnh thì ngân nga, những trang tả
tình thì đằm thắm.
5. Chủ đề: Truyện giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng nhân vật chính – anh thanh niên -
với những suy nghĩ sâu sắc và lòng yêu nghề nghiệp, với cách sống đẹp, trong công việc thầm lặng
một mình giữa núi cao mà vẫn không cô độc, buồn tẻ. Truyện còn ca ngợi và thế giới những con
người như anh. Tác giả muốn nói với người đọc trong cái lặng lẽ của Sa Pa có những con người
làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Qua câu chuyện, tác giả gợi ra vấn đề về ý nghĩa và niềm
vui của lao động tự giác vì những mục đích chân chính của con người. Nếu chúng ta tìm thấy ý
nghĩa và niềm vui trong công việc của mình thì ta sẽ hoàn thành công việc trong bất cứ hoàn cảnh
nào.
B. MỘT SỐ CÂU HỎI XOAY QUANH TÁC PHẨM
Câu 1: Nêu tình huống truyện, ý nghĩa của tình huống đó.
* Tình huống: Truyện “LLSP” có tình huống truyện rất đơn giản. Đó gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa

người lao động lặng thầm. Những công việc, thành quả mà họ đạt được cũng hết sức bình dị. Họ
làm việc say mê không hề nghĩ đến nghỉ ngơi và cũng không cần ai biết đến mình. Họ là những con
người rất đỗi khiêm tốn, những anh hùng vô danh.
=>Nhan đề giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của những con người nơi Sa Pa lặng lẽ. « Lặng lẽ »
được đưa lên đầu câu để nhấn mạnh vẻ đẹp thầm lặng, bình dị của họ. Và phải chăng đó cũng là
nhịp sống bình yên, êm ả của vùng đất xa xôi và thơ mộng ấy.
Câu 5: Tác phẩm này theo lời tác giả, "là một bức chân dung". Đó là bức chân dung của ai,
hiện ra trong cái nhìn và suy nghĩ của những nhân vật nào?
- Đó là bức chân dung của người thanh niên làm công tác khí tượng, ở một mình tại trạm khí
tượng trên núi cao, giữa cái lặng lẽ của Sa Pa.
- Chân dung là chỉ diện mạo, thần sắc, hình dáng khái quát của người nào đó.
- Tác giả gọi truyện của mình "là một bức chân dung" vì:
+ Thứ nhất, Truyện đã thể một cách khái quát nhưng chân thực, sinh động diện mạo, thần sắc
của anh thanh niên. Tuy tác giả chỉ để cho nhân vật xuất hiện trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi khoảng
30 phút với ba nhân vật khác (ông hoạ sĩ, cô kỹ sư, bác lái xe) nhưng diện mạo và cuộc sống tình
cảm, suy nghĩ của anh đã được thể hiện rõ nét qua lời kể của bác lái xe, qua sự quan sát của ông hoạ
sỹ, cô kỹ sư và qua lời bộc bạch tâm sự của chính anh.
+ Thứ hai, nhân vật anh thanh niên được người hoạ sĩ già quan sát và muốn thế hiện bằng một
bức chân dung cụ thể.
C. Đề Tập làm văn
Đề bài 1: Phân tích nhân vật anh thanh niên
I – Mở bài:
- Nguyễn Thành Long là một trong những cây bút văn xuôi đáng chú ý trong những năm 60 –
70, chuyên viết truyện ngắn và kí. “Lặng lẽ Sa Pa” là một truyện ngắn có cốt truyện đơn giản, nhẹ
nhàng nhưng ẩn chứa bên trong nhiều ý vị sâu sắc.
- Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của những con người lao động
bình thường mà cao cả, những con người đầy quan tâm, đầy trách nhiệm đối với đất nước mà tiêu
biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng. Tuy anh chỉ hiện ra trong chốc lát nhưng vẫn là điểm
sáng nổi bật nhất của bức tranh về phẩm chất và tâm hồn tốt đẹp của con người mới trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đó là chàng trai có phong cách sống đẹp, suy nghĩ đẹp

Theo lời kể của anh thì “ công việc nói chung là dễ, chỉ cần chính xác”. Nhưng đó lại là công việc
dễ gây buồn chán vì sự đơn điệu và lặp đi lặp lại những con số. Từng phút, từng giờ anh làm bạn
với đủ loại máy móc “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo
trước thời tiết hàng ngày” Mỗi ngày anh phải báo “ốp” bốn lần vào đúng thời gian quy định: bốn
giờ, mười một giờ, bảy giờ tối và một giờ sáng. thật là vất vả và đơn điệu, phải lặp đi lặp lại , phục
vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Đây là lời anh tâm sự với ông hoạ sĩ già: “Gian khổ nhất là lần ghi
bão về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn
nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn báo bão vặn to đến cỡ
nào vẫn không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và im lặng ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình
ra là ào ào xô tới…” Qua lời anh nói ta có thể hình dung được bao nhiêu vất vả, khó khăn mà anh
đã chịu đựng. Để báo “ ốp” chính xác đòi hỏi anh phải có sự tỉ mỉ, kiên trì, ý thức trách nhiệm và
tinh thần tự giác cao.
=> Như vậy, cả điều kiện sống và làm việc đều là một thử thách lớn đối với tuổi trẻ vốn sung
sức và khát khao hành động.
* Thái độ làm việc:
- Mặc dù hoàn cảnh sống và công việc vô cùng khó khăn nhưng bốn năm qua anh chưa một lần
bỏ báo “ ốp” . Anh đã đề ra cho mình nhiệm vụ và đã vượt mọi khó khăn thử thách để đạt được kết
quả tốt nhất. Suốt bốn năm qua, anh chưa từng bỏ ốp một lần. Anh làm với ý thức trách nhiệm, với
sự tự giác mà không cần người kiểm tra, giám sát. Công việc của anh thật chẳng kém gì nhiệm vụ
của các anh chiến sĩ biên phòng hay chiến sĩ hải đảo đang ngày đêm bảo vệ Tổ quốc.
Điều gì đã giúp anh vượt qua được hoàn cảnh ấy ? Đó là ý chí, nghị lực, đặc biệt là những suy
nghĩ, nhận thức đúng đắn của anh về cuộc sống và công việc của mình. Chính những nhận thức
và suy nghĩ cao đẹp đó đã giúp anh vượt lên tất cả để sống một cuộc đời đầy ý nghĩa
* Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về cuộc sống và công việc
- Anh sống gắn bó với sự nghiệp của đất nước, rất có trách nhiệm với cuộc đời. Đất nước có
chiến tranh, anh xin ra trận. Không được ra trận, anh làm công tác khí tượng trên núi cao. Không ai
có thể bắt buộc anh lên cái nơi “khỉ ho cò gáy” này để làm việc và cống hiến. Trong khi bao nhiêu
người sau khi ra trường đã cố chạy chọt tìm bằng được một nơi làm việc giữa thủ đô thì anh đã
khoác ba lô vui vẻ vượt suối băng rừng để lên công tác ở nơi này. Anh tự nguyện lên đây không
phải do sự bốc đồng nhất thời mà là cả một sự nhận thức chín chắn, đúng đắn, sâu sắc nhất. Anh

Tuy sống một mình trên núi cao nhưng anh biết tổ chức …
* Luận điểm 2: Anh là người biết tổ chức c/s gọn gàng, khoa học, ngăn nắp.
Ngoài ra anh tổ chức cuộc sống của mình ở trạm khí tượng thật ngăn nắp, phong phú cả vật
chất và tinh thần, một cuộc sống chủ động, làm chủ mình và có ích cho đời.
- Anh biết sống cho sự nghiệp chung lớn lao và cũng biết sống cho riêng mình. Anh trọng cái
đẹp: anh trồng hoa, một vườn hoa đầy màu sắc. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn anh và anh hào phóng
tặng cho mọi người. Gian nhà của anh sạch sẽ, đồ đạc được sắp xếp gọn gàng. Anh chạy về trước là
để pha trà, cắt hoa tặng khách chứ không phải để thu dọn nhà cửa vì khách tới thăm bất ngờ như
họa sĩ tưởng. Anh trồng rau, nuôi gà là để tự cung cấp cho mình thức ăn. Như vậy, chính anh đã tự
làm cho c/s của mình phong phú cả vật chất và tinh thần.
- Ngoài giờ làm việc anh còn dành thời gian đọc sách. Sách đã trở thành người bạn thân thiết
của anh. Khi bác lái xe đưa gói sách cho anh, anh “mừng quýnh” như cầm được vàng. Anh nói với
cô gái: “ Cô thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là sách ấy mà. Mỗi người viết
một vẻ”. Anh tự lo liệu xoay sở đẻ thường xuyên có sách đọc. Sách không chỉ giúp anh nâng cao
hiểu biết, nâng cao kiến thức, sách còn giúp anh khuây khoả trong những phút giây rảnh rỗi. Say mê
đọc sách là một thói quen, một đức tính đáng quý ở anh. Điều đó còn cho thấy anh là chàng trai có
nhiều ước mơ, khát vọng.
* Luận điểm 3: Anh là người rất khiêm tốn:
15
- Trong cuộc sống, anh là một người rất khiêm tốn, cuộc gặp gỡ diễn ra trong vòng ba mươi phút
nhưng anh chỉ xin có năm phút để nói về mình. Năm phút đủ để anh giãi bày những suy nghĩ, quan
niệm về cuộc sống và công việc. Điều đó cho ta thấy anh là người rất khiêm tốn.
- Anh luôn đề cao người khác. Thực tâm, anh thấy công việc và sự đóng góp của mình chỉ là nhỏ
bé, chỉ có đóng góp của những người khác mới là lớn lao và anh say sưa ca ngợi họ.
- Mặc dù ông hoạ sĩ già hết sức khâm phục anh, ông muốn vẽ chân dung của anh, nhưng anh một
mực từ chối, anh không muốn vì cảm thấy mình không xứng đáng được hưởng ân huệ ấy. Anh đã
kể những người xứng đáng khác. Anh nói thành thực: “những người khác đáng kể, đáng vẽ hơn
anh. Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phăng -xi -păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia
mới một mình hơn cháu. Cháu giới thiệu với bác ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa!… Hay là bác vẽ
đồng chí nghiên cứu khoa học ở cơ quan cháu…”. Đức tính khiêm tốn ấy của anh đã làm cho ông

Trong cái “lặng lẽ”của Sa Pa trên đỉnh Yên Sơn bốn mùa mây phủ mấy ai biết được có một
chàng trai đang sống, đang âm thầm làm việc. Người cán bộ trẻ ấy được Nguyễn Thành Long xây
dựng khá sắc nét với những đặc điểm, suy nghĩ, hành động tích cực, một mẫu người của một giai
đoạn lịch sử có nhiều gian khổ hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ. Những trang viết của
Nguyễn Thành Long khiến ta thêm yêu con người và cuộc sống, thấy được trách nhiệm của mình
16
với sự nghiệp chung của đất nước. Tâm hồn và những việc làm của anh thanh niên trong truyện đã
gieo vào lòng người đọc nhiều tình cảm, thôi thúc chúng ta muốn cống hiến, muốn làm gì đó có ích
cho đất nước. Đọc truyện, hiểu thêm về những con người đó ta càng nhận thấy trách nhiệm của
mình với đ/n. Nhất là giờ đây, chủ quyền lãnh hải của chúng ta đang bị đe dọa nghiêm trọng. Mỗi
chúng ta hãy nhận thức đúng đắn, sáng suốt, có những hành động cụ thể thiết thực để góp phần bảo
vệ chủ quyền biển – đảo của quê hương.
* Đề 2: Về truyện “ Lặng lẽ Sa Pa “ có ý kiến cho rằng: “ Lặng lẽ Sa Pa có dáng dấp như
một bài thơ. Chất thơ bàng bạc trong toàn truyện”.
Em hiểu điều đó như thế nào? Hãy phân tích để làm sáng rõ.
Dàn ý chi tiết.
1.Mở bài:
2. Thân bài:
* Nêu nhận xét về ý kiến đánh giá bài thơ: Lời nhận định trên là hoàn toàn đúng về đặc điểm của
truyện “ Lặng lẽ Sa Pa”. Quả thật “ truyện có dáng dấp như một bài thơ”. Điều đó có nghĩa là
truyện rất ngắn gọn, súc tích, lời ít ý nhiều. Tác phẩm còn đậm chất trữ tình qua vẻ đẹp của nội
dung và hình thức của tác phẩm.
* Phân tích:
a. Luận điểm 1: Truyện giống như một bài thơ: LLSP là tác phẩm có dung lượng ngắn, số trang ít,
số nhân vật ít chỉ xoay quanh cuộc gặp gỡ trong vòng ba mươi phút giữa ba nhân vật thuộc hai thế
hệ.
b. Luận điểm 2: Chất thơ bàng bạc trong toàn truyện:
b1: Chất thơ toát lên từ nội dung của tác phẩm
* - Chất trữ tình toát lên từ phong cảnh thiên nhiên đẹp và đầy thơ mộng của Sa Pa được
miêu tả qua cái nhìn của người hoạ sỹ già : Hình ảnh thiên nhiên Sa Pa mang vẻ đẹp thơ mộng, độc

người đang ở Sa Pa, những người khách đến với Sa Pa)
- Chất thơ được tạo nên từ tình người đằm thắm ấm áp: Tình người được gợi qua các chi
tiết bình dị mà xúc động. Đó là hành động hạ cây chắn ô- tô để được gặp người, là món qua nhỏ
nhưng ý nghĩa mà anh thanh tặng cho mọi người. Tình người còn được bộc lộ qua những lời kể,
những suy nghĩ của anh thanh niên về công việc, về con người. Tất cả họ đã tìm thấy sự đồng điệu
trong tâm hồn, sự bừng sáng của lí tưởng, của hoài bão và khát vọng.
B2: Chất thơ toát lên từ hình thức của tác phẩm:
- Tình huống truyện đơn giản, nhẹ nhàng
- Ngôn ngữ nhẹ nhàng, trong sáng đã tạo nên giọng văn dịu ngọt như cảnh sắc và thiên nhiên Sa
Pa. Chính ngôn ngữ góp phần làm đẹp thêm chân dung của những con người đang lặng thầm cống
hiến. Những trang tả cảnh thì ngân nga, những trang tả tình thì đằm thắm.
=> Có thể nói, truyện Lặng lẽ Sa Pa có dáng dấp như một bài thơ, chất thơ bàng bạc trong toàn
truyện, từ phong cảnh đẹp hết sức thơ mộng của thiên nhiên vùng núi cao đến hình ảnh những con
người sống và làm việc trong cái lặng lẽ mà không hề cô độc bởi sự gắn bó của họ đối với đất nước,
với mọi người. Tác giả đã tạo được không khí trữ tình cho tác phẩm, nâng cao ý nghĩa và vẻ đẹp
của những sự việc, con người rất bình dị được miêu tả trong truyện, nhờ thế mà chủ đề của truyện
được rõ nét và sâu sắc hơn.
Đề 3: Nêu cảm nhận về những người khách đến trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa”.
* Ông họa sĩ :
- Dù không phải là nhân vật chính nhưng ông hoạ sĩ có vai trò rất quan trọng trong truyện: người kể
chuyện đã nhập vào cái nhìn và những ý nghĩ của ông hoạ sĩ để trần thuật, để quan sát và miêu tả từ
cảnh thiên nhiên đến nhân vật chính của truyện. Qua nhân vật này, tác giả muốn gửi gắm những suy
nghĩ về con người, về cuộc sống, về nghệ thuật.
- Ông hoạ sĩ là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm. Ông là một nghệ sỹ chân chính, một trí
thức lịch duyệt, một nhân cách đẹp có đời sống nội tâm phong phú.
- Ngay từ những lời giới thiệu của bác lái xe về anh thanh niên, ông hoạ sĩ đã xúc động mạnh khi
nhìn thấy người con trai tầm vóc bé nhỏ, nét mặt rạng rỡ từ trên sườn núi trước mặt chạy lại chỗ xe
đỗ”. Sau đó ông lại ngạc nhiên khi thấy anh thanh niên đang hái hoa, cảm động và bị cuốn hút trước
sự cởi mở chân thành của anh. Rồi ông lại cảm giác “ bối rối” khi nghe anh thanh niên kể về công
việc. Bằng sự từng trải nghề nghiệp và niềm khao khát của người nghệ sĩ sáng tạo đi tìm đối tượng

bao, cuộc sống của mình lâu nay tầm thường biết bao, thế giới của mình lâu nay nhỏ bé biết bao!
Khoảnh khắc bàng hoàng ấy chính là sự bừng dậy của những tình cảm lớn lao, cao đẹp khi người ta
bắt gặp được những ánh sáng đẹp đẽ toả ra từ cuộc sống, từ tâm hồn người khác. Chính anh thanh
niên là một tấm gương, tự soi để tự hiểu mình. Nghe anh thanh niên cô mới bàng hoàng nhận ra con
đường đi cho mình, càng vững tin vào những gì mình sẽ làm.
Cùng với sự bàng hoàng ấy là “một ấn tượng hàm ơn khó tả dạt lên trong lòng cô gái. Không
phải chỉ vì bó hoa rất to sẽ đi theo cô trong chuyến đi thứ nhất ra đời. Mà vì một bó hoa nào khác
nữa, bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên anh dành cho thêm cô”. Cuộc gặp gỡ đã
khơi lên trong tâm tư cô gái trẻ những tình cảm và suy nghĩ mới mẻ, cao đẹp về con người, về cuộc
sống. Cô khao khát đất rộng trời cao, cô có thể đi bất kỳ đâu, làm bất kỳ việc gì.
=> Làm bừng dậy những tình cảm lớn lao, cao đẹp khi phát hiện ánh sáng đẹp đẽ toả ra từ
cuộc sống và tâm hồn con người khác.
=> Cô kỹ sư đẹp như những bông hoa cô đang cầm trên tay.
* Bác lái xe:
- Tốt bụng, vui chuyện như một nhân vật dẫn chuyện nhưng làm ta khó quên. Bác rất vui tính,
cởi mở, nhiệt tình với khách.
- Yêu nghề, yêu mảnh đất Sa Pa
- Nhân vật này đã dẫn dắt truyện, kích thích sự tò mò cho ông hoạ sỹ và cô kỹ sư, sơ lược về anh
thanh niên trước khi 2 người gặp anh.
Dẫn chứng: “… Tôi sắp giới thiệu với bác một người cô độc nhất thế gian. Thế nào bác cũng
thích vẽ hắn”.
19
=> Ta thấy hình ảnh anh thanh niên rõ ràng, đẹp đẽ hơn, chủ đề truyện cũng được mở rộng hơn,
gợi nhiều ý nghĩa hơn.
* Đề 4: Phân tích hình ảnh con người trong truyện “ Lặng lẽ Sa Pa”
* Đảm bảo được các ý:
- Những người đang sống và làm việc ở Sa Pa:
+ Anh thanh niên + Anh cán bộ nghiên cứu sét
+ Ông bố + Anh bạn trên đỉnh Pan xi phăng.
+ Ông kĩ sư vườn rau

- Tác giả xây dựng được một cốt truyện chặt chẽ, có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí….
- Tình huống bất ngờ, tự nhiên, hợp lí.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lý và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật trẻ em (bé Thu).
- Chọn ngôi kể phù hợp: Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là người thân thiết gần gũi của các
nhân vật. Người kể chủ động xen vào câu chuyện để dẫn dắt người đọc. Đồng thời qua ý nghĩ, cảm
xúc của người kể chuyện, các chi tiết, sự việc và nhân vật khác bộc lộ rõ hơn ý nghĩa tư tưởng của
truyện thêm sức thuyết phục.
- Ngôn ngữ truyện mang đậm sắc thái địa phương Nam Bộ.

3. Tóm tắt: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi ông mới có dịp về
thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con ông – không nhận ra cha vì vết thẹo trên mặt làm ông không
giống với người cha trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với ba như với người xa lạ. Cho đến lúc
em nhận ra cha, tình cha con trỗi dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi.
- Ở khu căn cứ, người cha ấy đã dồn hết tình cảm yêu thương và nỗi nhớ mong con vào một việc
làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông đã hy sinh.
Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược ngà nhờ người bạn gửi về cho con gái của mình.
4. Chủ đề: Truyện ca ngợi tình cha con trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Đó là t/c thiêng liêng
muôn đời bất diệt mà không có bất kì một thế lực nào dập tắt được. Đông thời truyện còn lên án, tố
cáo chiến tranh phi nghĩa đã gây ra bao mất mát, đau thương cho biết bao gia đình VN.
B MỘT SỐ CÂU HỎI XOAY QUANH TÁC PHẨM .
Câu 1: Truyện được kể theo ngôi kể nào ? Tác dụng ?
Chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, người kể là bác Ba– người bạn thân chiến đấu của ông Sáu,
một người chứng kiến toàn bộ câu chuyện. Việc sử dụng ngôi kể này không gian truyện được mở
rộng, tính chất khách quan được nâng lên, người kể có thể kể nhiều sự việc diễn ra đồng thời. Bên
cạnh đó vì là người trực tiếp chứng kiến nên có điều kiện đi sâu miêu tả thế giới nội tâm của các
nhân vật một cách chân thực, sinh động hơn. Ngôi kể này còn tạo được giọng điệu kể chuyện thủ thỉ
tâm tình, gợi cảm giác chân thực, gần gũi với người đọc. Người kể hoàn toàn điều khiển nhịp kể.
Khi cần có thể bày tỏ trực tiếp cảm xúc, thái độ đối với sự kiện và nhân vật. Nhờ thế mà câu chuyện
trở nên đáng tin cậy.
21

và ương bướng nhưng lại có tình yêu cha sâu sắc, mãnh liệt.
2. Thân bài;
Câu truyện xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.Khi ông Sáu đi kháng chiên
chống Pháp,lúc đó bé Thu chưa đầy một tuổi.Khi ông có dịp thăm nhà thì con gái đã lên 8 tuổi.Song
bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như bức ảnh chụp
chung với má.Trong ba ngày ở nhà, ông Sáu dùng mọi cách để gần gũi nhưng con bé vẫn không
chịu gọi một tiếng “Ba”. Đến khi bé Thu nhận ra cha mình thì cũng là khi ông Sáu phải ra đi. Ông
hứa sẽ mang về tặng con một cái lược ngà.Những ngày chiến đầu trong rứng, ông cặm cụi làm chiếc
lược cho con gái.Chiếc lược làm xong chưa kịp trao cho con gái thì ông đã hi sinh.Trước khi nhắm
mắt ông chỉ kịp trao cây lược cho người bạn nhờ chuyển lại cho con mình.
a) LĐ1: Bé Thu – một bé bướng bỉnh, cứng đầu và gan lì.
Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện, được tác giả khắc họa hết sức tinh tế
và nhạy bén, là một cô bé giàu cá tính, bướng bỉnh và lì lợm đến ghê gớm
- Khi gặp ông Sáu ở bến xuồng, nghe tiếng gọi tên mình, Thu “giật mình tròn mắt nhìn”. Nó ngơ
ngác, lạ lùng, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “má, má”.
22
- 3 ngày nghỉ phép:
+ Thu xa lánh ông Sáu trong lúc ông tìm cách vỗ về, gần gũi. Thu nhất quyết không chịu gọi
tiếng ba.
+ má doạ đánh, Thu buộc phải gọi ông Sáu vô ăn cơm, nó phải nghe má nhưng chỉ nói trống.
Đến cả khi gặp phải tình huống cấp bách ( Chắt nước cho nồi cơm sôi) nó vẫn không chịu. Sợ cơm
bị nhão nó gọi ông Sáu chắt giúp nhưng vẫn lại nổi trổng.
+ Bác Ba nói mẫu nhưng Thu vẫn không gọi.
+ Bị dồn vào thế bí, nó nhăn nhó muốn khóc nhưng tự lấy rá chắt nước chứ không chịu gọi “ba”.
+ Thu đã hất tung cái trứng cá ra mâm, cơm văng tung toé – bị đòn, không khóc, chạy sang nhà
bà ngoại, cố ý khua cho dây xuồng kêu thật to.
-> Bé Thu thật là bướng bỉnh, cứng đầu và gan lì. Đến bác Ba cũng phải nghĩ “con bé đáo để
thật”, còn ông Sáu thì không nén được: “Sao mày cứng đầu quá vậy?”.
=> Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu,
nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé. Dù bị mẹ quơ đũa

- Nhưng khi ba về, cô bé lại kiên quyết không nhận ba. Tình cảm mãnh liệt trong nó ngăn
không cho nó nhận bất cứ người đàn ông nào là bố ngoại trừ người chụp chung ảnh với má.Tình
yaeeu ấy được thể hiện một cách cảm động trong thời khắc trước lúc ông Sáu lên đường.
23
* Trước lúc ông Sáu lên đường
+ Tình cha con của ông đã trở lại vào thời khắc ngắn ngủi nhất, đem lại cho người đọc nỗi xúc
động nghẹn ngào nhất.
+ Trong cái ngày trước khi ông Sáu lên đường vào chiến khu, con bé cùng ngủ với bà ngoại.
Trong đêm ấy, bà đã giảng giải cho nó nghe, phân tích cho nó hiểu. Con bé đã biết được rằng ông
Sáu chính là cha mình. Nó cũng hiểu vết sẹo ghê sợ trên mặt ông là vết thương của ông trong chiến
đấu. Sau khi hiểu được nguồn gốc lai lịch vết sẹo trên mặt cha, con bé lăn lộn suốt một đêm không
ngủ được. Có lẽ nó hối hận lắm vì đã từng đối xử không tốt với ông. Lúc này, không chỉ yêu cha, nó
còn rất thương ba nữa.
+ Người đọc đã chứng kiến một cuộc chia tay cảm động sáng hôm sau, trước khi cha nó lên
đường Thu cũng có mặt trong buổi đưa tiễn cha nhưng lại mang tâm trạng hoàn toàn khác trước:
“Nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu”. Khi đối diện với
ông Sáu, “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Người đọc cảm nhận được đằng sau đôi
mắt mênh mông, xôn xao ấy đang xáo động biết bao tình cảm.
+ Tiếng gọi ba vỡ oà từ sâu thẳm trong tâm hồn bé bỏng của nó. Sự khao khát tình cha con lâu
nay bị kìm nén bỗng bật lên. Bắt đầu là tiếng thét “Ba…a…a ba”, tiếng gọi thân thương, tiếng gọi
ông Sáu chờ đợi suốt 9 năm ròng, cuối cùng ông cũng được nghe.Tiếng kêu “Ba” từ sâu thẳm trái
tim bé Thu, tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua, tiếng gọi ba gần
gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói, tiếng gọi mà ba nó tha thiết
được nghe một lần. Bao nhiêu mơ ước, khao khát như muốn vỡ òa ra trong một tiếng gọi cha. Tiếng
gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó. Lần đầu tiên nó
cảm nhận mơ hồ về niềm sung sướng của một đứa con có cha.
+ Thế rồi “nó vừa kêu vừa chạy xô tới… dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Nó hôn khắp người
ông Sáu, hôn cả vết sẹo dài trên má ông, cái vết sẹo trước kia nó ghê sợ và cảm thấy xấu xí vô cùng.
Đến bây giờ, hiểu được vì sao cha có vết sẹo, Thu thương cha nó lắm. Hành động của em như muốn
xoa dịu nỗi đau đã gây ra cho cha. Sau khi nghe ông Sáu nói: “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét

- Ông đã không thể chờ xuồng cập bến “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra”. Rồi
“bước vội vàng với những bước dài”, “kêu to tên con, vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ
con” > Nôn nóng, sốt ruột, khao khát được gặp con, được ôm con vào lòng.
- Vét thẹo dài trên má phải anh lại đỏ ửng lên, giần giật. Giọng nói lập bập, run run: “ba đây
con, ba đây con”.
-> Tâm trạng xúc động mạnh mẽ, sau 7-8 năm xa nhà, tình cảm cha con bị nén lại trong lòng,
giờ đây trào dâng mãnh liệt.
- Ngược lại, bé Thu giật mình, ngơ ngác, hốt hoảng và vụt bỏ chạy -> điều đó hoàn toàn bất ngờ
với ông Sáu khiến “mặt ông sầm lại” và “hai tay buông xuống như bị gãy”.
-> Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí -> Thể hiện tâm trạng đau khổ tột cùng, ông sung sướng,
náo nức, nôn nóng muốn được ôm con vào lòng, nhưng đứa con lại xa lánh, hoảng sợ khiến người
cha bị hụt hẫng, ông đau đớn không hiểu nguyên nhân vì sao, ông vừa thất vọng, vừa bất lực.
c) Trong 3 ngày nghỉ phép:
- Ông chẳng đi đâu xa, chỉ tìm cách gần gũi để được nghe một tiếng gọi “ba” của con bé.
- Mọi cố gắng của ông từ việc “giả vờ không nghe” đến việc “dồn nó vào thế bí” (chắt nước
cơm) nhưng không có kết quả.
- Tình yêu thương con của ông Sáu đã không được bé Thu đón nhận, đáp lại, nó kiên quyết
không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong mỏi - điều đó làm ông Sáu thực sự đau lòng, ông chỉ
biết lắc đầu cam chịu, bởi tình cảm không dễ gì gượng ép. Cho nên đã có lúc ông phải cười. Cái
cười thể hiện sự khổ tâm đến cùng cực bởi ông yêu con mà không được con chấp nhận t/y ấy.
- Trong bữa ăn, do nôn nóng, bực tức, không kịp suy nghĩ, ông đã đánh con bé -> con bé bỏ
sang nhà ngoại. Và ông Sáu ngữ mình sẽ không thể được nghe tiếng gọi “ ba” thiêng liêng từ đứa
con gái mà ông vô cùng yêu quý.
- Nhưng hạnh phúc đã đến với ông. Trước khi chia tay ông đã được nghe con mình goi “ ba”.
Đó là tiếng gọi mà ông đã chờ đợi suốt tám năm qua. Ai có thể ngờ được một người lính dạn dày
nơi chiến trường, quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng yếu mềm trước con gái mình. Những
giọt nước mắt hiếm hoi của một cuộc đời từng trải nhiều gian khổ vất vả lại rơi khi lần đầu tiên ông
cảm nhận được sự ấm áp của cha con thực sự! (“Không ghìm được xúc động và không muôn cho
con thấy mình khóc, anh Sáu một tày ôm con,một tay rút khăn lau nước mắt”). Đó không còn là giọt
nước mắt khổ tâm nữa mà là giọt nước mắt hạnh phúc dâng trào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status