Phân tích Truyện trung đại - Pdf 15

TruyÒn k× m¹n lôc
I. Khái quát về truyền kì
1. Khái niệm thể loại :
Truyện truyền kì là loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc, thịnh hành ở đời
nhà Đường ( VI - IX ). Truyện truyền kì thường được mô phỏng cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã
được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân ( có khi là cốt truyện của Trung Quốc).
- Ở Việt Nam, nổi tiếng có Thánh Tông di cảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả ( Đoàn Thị
Điểm )
2. Đặc điểm : Là tác phẩm văn xuôi tự sự viết bằng chữ Hán, cốt truyện có thể dựa vào truyện dân gian
nhưng tác giả đã gia công sáng tác khá nhiều về tư tưởng, cốt truyện, nhân vật, tình tiết, lời văn biến
ngẫu… đặc biệt là sự kết hợp giữa yếu tố hoang đường kì ảo từng lưu truyền trong dân gian (truyền
kì) với những chuyện thực trong xã hội với những cuộc đời, số phận của con người Việt Nam thời
trung đại.
3. Tính chất : Nửa văn học dân gian (có yếu tố hoang đường kì ảo) và nửa văn học viết ( lưu truyền
bằng văn bản)
II. Nhà văn Nguyễn Dữ
* Thời đại: Ông sống ở thế kỉ XVI, lúc triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn Lê - Trịnh
- Mạc tranh giành quyền bính gây ra cuộc nội chiến kéo dài khiến nhân dân lầm than.
* Gia đình: Sinh trưởng trong gia đình có dòng dõi nho gia. Cha là tiến sĩ Nguyễn Tướng Phiên.
* Bản thân: - Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh
Miện ( Hải Dương)
- Là học trò xuất sắc của nhà triết học, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông học rộng, tài cao, nhưng chỉ
làm quan một năm rồi xin nghỉ, về quê ẩn dật, sống gần gũi với người dân quê.
* Sự nghiệp văn chương: Ông để lại sự nghiệp văn học khiêm tốn, nhưng có giá trị to lớn trong nền
văn học nước nhà, nổi bật nhất là Truyền kì mạn lục. Ông được xem là một trong những người có
công khai phá nền văn xuôi văn học dân tộc.
- Với Truyền kì mạn lục, ông xứng đáng được đánh giá là Cây bút kì tài của nền văn xuôi trung đại
Việt Nam.
III. Truyền kì mạn lục
1.Nhan đề : Tên tác phẩm có nghĩa là "Ghi chép tản mạn những điều kì lạ được lưu truyền"
2. Đặc điểm : Là văn xuôi tự sự viết bằng chữ Hán, cốt truyện có thể dựa vào truyện dân gian nhưng

vẫn khắc hoạ đậm nét và chân thật nội tâm nhân vật.
- Sáng tạo các chi tiết kì ảo hoang đường -> Làm cho tác phẩm không phải chỉ là bản kể của
văn học dân gian mà là một sáng tạo của Nguyễn Dữ.
- Lời văn biền ngẫu, ngôn ngữ ước lệ.
Câu hỏi 1: Phân tích giá trị nghệ thuật của những cho tiết hoang đường kì ảo?
* Những chi tiết hoang đường kì ảo?
- Phan Lang nằm mộng thả rùa xanh ( Linh Phi). Phan Lang đắm thuyền được LP cứu.
- Vũ Nương tự tử, không chết, được các cung nữ đưa về thuỷ cung
- Phan Lang gặp VN.
- Phan Lang trở về dương gian, VN gừi hoa vàng làm tin.
- Vũ Nương trở về trong rực rỡ cờ hoa, thoáng ẩn, thoáng hiện cảm tạ chồng rồi biến mất.
* Cách thức đưa ra các yếu tố kì ảo vào câu chuyện
- Trong truyện, các yếu tố kì ảo được đưa vào xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh ( bến đò
Hoàng Giang, ải Chi Lăng); sự kiện lịch sử (quân Minh xâm lược nước ta, nhiều người chạy trốn ra bể,
rồi bị đắm thuyền); những chi tiết về trang phục của mĩ nữ (quần áo thướt tha, mái tóc búi xễ, VN mặt
chỉ hơi điểm qua một chút son phấn); về tình cảnh nhà VN khi nàng mất (cây cối thành rừng, cỏ gai rợp
mắt)…
- Cách thức này đã làm cho thế giới kì ảo lung linh, mơ hồ nên gần với cuộc đời, làm tăng thêm tính
xác thực, khiến người đọc tin vào câu chuyện được kể.
* Ý nghĩa
- Trước hết, kết thúc này làm chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật VN, một con người đã ở
thế giới bên kia vẫn nặng tình với cuộc đời, quan tâm đến chồng con, vẫn lo lắng cho phần mộ tổ tiên,
vẫn khao khát được phục hồi danh dự.
- Đặc biệt, nó tạo nên một kết thúc có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân về sự
công bằng trong cuộc đời, người tốt dù trải qua bao oan khuất, cuối cùng cũng được đền đáp xứng
2
đáng. VN xinh đẹp đức hạnh không được sống hạnh phúc ở chốn trần gian thì nàng sẽ được sống sung
sướng ở một thế giới khác.
- Tăng tính bi kịch và giá trị tố cáo xã hội cho tác phẩm: Ở cuối truyện, VN đã trở lại dương thế trong
một không gian rực rỡ, uy nghi, nhưng bóng nàng chỉ thấp thoáng ở giữa dòng sông, lúc ẩn, lúc hiện,

+ Với Vũ Nương: Đó là h/ả người chồng
+ Với Bé Đản: Đó là người cha bí ẩn.
+ Với TS: Đó là kẻ thứ ba, là người đã chen vào hạnh phúc gia đình chàng.
- Nguyễn Dữ lấy cái bóng để dẫn dắt câu chuyện một cách nghệ thuật, đồng thời thể hiện bi kịch của
con người. Trong xã hội ấy số phận con người rất mong manh, có thể mất tất cả cuộc sống vì một cái
bóng mơ hồ của chính mình.
=> Có thể nói chi tiết "cái bóng" đã thể hiện cô đọng cảm hứng vừa hiện thực vừa nhân đạo của
Nguyễn Dữ.
3
Câu hỏi 3: Nguyên nhân nào dẫn đến cái chết của VN?
- Nguyên nhân trực tiếp: Do lời nói ngây thơ của bé Đản. Đêm đêm, ngồi buồn dưới ngọn đèn
khuya, Vũ Nương thường “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Vậy nên Đản mới ngộ nhận đó là cha
mình, khi người cha thật trở về thì không chịu nhận và còn vô tình đưa ra những thông tin khiến mẹ bị
oan.
+ Do người chồng đa nghi, hay ghen. Ngay từ đầu, Trương Sinh đã được giới thiệu là người “đa
nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”, lại thêm “không có học”. Đó chính là mầm mống của bi kịch sau
này khi có biến cố xảy ra. Biến cố đó là việc Trương Sinh phải đi lính xa nhà, khi về mẹ đã mất. Mang
tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con lên ba đi thăm mộ mẹ, đứa trẻ lại quấy khóc không chịu nhận
cha. Lời nói ngây thơ của đứa trẻ làm đau lòng chàng: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại
biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” Trương Sinh gạn hỏi đứa bé lại đưa thêm
những thông tin gay cấn, đáng nghi: “Có một người đàn ông đêm nào cũng đến” (hành động lén lút che
mắt thiên hạ), “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đảng ngồi cũng ngồi” (hai người sâu đậm, rất quấn quýt nhau),
“chẳng bao giờ bế Đản cả” (người này không muốn sự có mặt của đứa bé). Những lời nói thật thà của
con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh.
+ Do cách cư xử hồ đồ, thái độ phũ phàng, thô bạo của Trương Sinh. Là kẻ không có học, lại bị
ghen tuông làm cho mờ mắt, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều phi lý
trong lời nói con trẻ. Con người độc đoán ấy đã vội vàng kết luận, “đinh ninh là vợ hư”. Chàng bỏ
ngoài tai tất cả những lời biện bạch, thanh minh, thậm chí là van xin của vợ. Khi Vũ Nương hỏi ai nói
thì lại giấu không kể lời con. Ngay cả những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm cũng không thể cởi
bỏ oan khuất cho Vũ Nương. Trương Sinh đã bỏ qua tất cả những cơ hội để cứu vãn tấn thảm kịch, chỉ

hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được
đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là
đủ rồi”
- Cảm thông sâu sắc với nzi gian lao, nguy hiểm của chồng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn
lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều con gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có mà mùa dưa chín quá
kì, khiến cho tiện thiếp băng khoăn, mẹ hiền lo lắng.”
- Thể hiện nzi nhớ nhung khắc khoải của nguời vợ yêu chồng: “Nhìn trăng soi thành cũ lại sửa soạn
áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình thương người đất thú! Dù có thư
tín nghìn hàng cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”
=> Đó là lời nói của người vợ thùy mị, dịu dàng và rất mực yêu chồng, đằm thắm, thiết tha. Lời dặn ấy
xuất phát từ trái tim giàu tình yêu thương, biết chấp nhận những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng
người đi xa. Đồng thời còn giúp ta cảm nhận được khát vọng của người phụ nữ bình dị.
* Lần 2: “ Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa
thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn mọt tiết. Tô son điểm
phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời
chàng nói Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”
-> Nàng phân trần để chồng hiểu rõ lòng mình. Nàng đã nói đến thân phận, tình nghĩa vợ chồng,
khẳng định tấm lòng thuỷ chung trong trắng, xin chồng đừng nghi oan, có nghĩa là nàng hết lòng
hàn gắn hạnh phúc gia đình.
* Lần 3: “ Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm
gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân
cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa, đầu còn có thể lại lên núi .Vọng Phu kia nữa”
-> Nàng đã nói lên nzi đau đớn thất vọng khi không hiểu sao mình bị nghi oan, bị đối xử bất công.
Đồng thời đó còn là sự tuyệt vọng đến cùng cực khi khao khát của cả đời nàng vun đắp đã tan vỡ.
Tình yêu không còn. Cả nzi đau khỏ chờ chồng đến hoá đá như trước đây cũng không còn có thể làm
được nữa.
* Lần 4: “ Kể bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu
nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng,
vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa
chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi

- Qua lời dặn đó nàng còn bày tỏ sự nhớ nhung của người vợ phải xa chồng " Nhìn trăng soi thành cũ
… … … cánh hồng bay bổng".
=> Chỉ một lời dặn cũng đủ để khẳng định vẻ đẹp của Vũ Nương. Đó là lời nói của người vợ thùy mị,
dịu dàng và rất mực yêu chồng. Lời dặn ấy xuất phát từ trái tim giàu tình yêu thương, biết chấp nhận
những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa. Lời dặn của VN xuất phát từ t/c chân thành
khiến ai cũng nghẹn ngào rơi lệ.
* Đảm đang tháo vát, biết vun vén gia đình : Chồng đi lính, một mình nàng sinh con, nuôi con, chăm
sóc mẹ già. Không những thế nàng còn phải quán xuyến gia đình nhà cửa, chăm sóc phần mộ tổ tiên.
Tất cả nàng đều vẹn tròn, chu đáo.
* Hiếu thảo:
+ Trong xã hội phong kiến xưa, mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu luôn bất hòa, mâu thuẫn. Nhưng với
VN, điều đó không xảy ra. Đối với mẹ chồng, nàng đã trọn đạo làm con, thực sự là người con dâu hiếu
thảo
- Khi mẹ còn sống nàng yêu thương, đối xử ân cần; khi bà ốm nàng chăm sóc, thuốc thang, lễ bái thần
phật và dùng mọi lời khôn khéo khuyên lơn mong bà chóng khỏi bệnh. Khi mẹ chồng mất, nàng ‘ hết
lời thương xót” và lo ma chay tế lễ chu đáo như cha mẹ đẻ của mình. Cái tình đó đã cảm thấu cả đất
trời nên trước lúc chết bà mẹ chồng đã trăng trối những lời yêu thương, động viên, trân trọng con dâu "
Sau này trời xét lòng lành, ban cho phúc đúc … …. … đã chẳng phụ mẹ". Lời trăng trối ấy cũng chính
6
là lời đánh giá công bằng, khách quan sự đóng góp của VN với gia đình chồng, đồng thời cũng là chính
là lời tri ân với cô con dâu hiếu thảo.
* Thương con: Với con thơ nàng hết sức yêu thương, chăm chút. Một mình gánh vác cả giang sơn nhà
chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việc con cái. Nàng thương con thiếu vắng tình cha nên đã
trỏ cái bóng trên tường và bảo đó là cha Đản. Hành động đó xuất phát từ tấm lòng của người mẹ: để
con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha.
* Thủy chung, tiết hạnh
+ Suốt ba năm chồng đi lính nàng đã sống trong sự nhớ thương và khắc khoải đợi chờ " Mỗi khi thấy
bướm … … … ngăn được". Ngôn ngữ ước lệ đã góp phần diễn tả được nzi nhớ thương của VN. Một
nzi nhớ kéo dài theo thời gian, theo năm tháng. Tâm trạng nhớ thương ấy cũng là tâm trạng chung của
những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:

b. Số phận bi thảm, oan nghiệt.
* Vũ Nương bị cướp đi quyền yêu, quyền hạnh phúc: Nzi bất hạnh đến với VN ngay từ khi nằng
7
nàng chấp nhận cuộc hôn nhân với Trương Sinh. Từ đầu, ta đã nhận ra đây là một cuộc hôn nhân
không bình đẳng. Vũ Nương vốn “ con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”, còn Trương Sinh muốn lấy
được Vũ Nương chỉ cần “ nói với mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ”. Nàng lấy chồng là do
sự sắp đặt. Và nàng đã mất đi quyền được yêu, được lựa chọn hạnh phúc, được định đoạt cho số phận
của mình, Tuy xinh đẹp nết na nhưng phải lấy một người chồng vừa cả ghen, vô học lại đa nghi. Trong
c/s vợ chồng nàng cùng chưa từng được hưởng hạnh phúc thực sự bởi sự “ phòng ngừa quá sức của
chồng”.
* Phải xa chồng, chấp nhận cuộc sống của người chinh phụ: Tuy chỉ có khát vọng giản dị là thú vui
nghi gia, nghi thất nhưng " xum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh”. Người
phụ nữ tuổi xuân còn phơi phới đã phải gánh chịu nzi buồn “chiếc bóng năm canh” của đời người
chinh phụ. Suốt ba năm ấy, nàng sống trong tâm trạng “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy trời, mây che kín
núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”
* Phải sống vất vả:: Chồng đi lính, nàng phải một mình sinh con, nuôi con, chăm sóc mẹ già, quán
xuyến nhà cửa ruộng vườn. Tất cả mọi gánh nặng gia đình đều dồn lên đôi vai mảnh mai yếu ớt của
nàng. Gánh nặng gia đình chồng cộng thêm nzi cô đơn vì phòng không gối chiếc đã bào mòn tuổi xuân
của Vũ Nương.
* Bị nghi oan, bị bức tử: Nzi đau khổ lớn nhất của nàng là bị nghi oan. Nàng bị TS kết tội là thất tiết –
điều mà nàng hết sức giữ gìn và coi trọng hơn cả mạng sống của mình. Đó là nzi tủi nhục lớn nhất của
người phụ nữ. Nàng bị chồng mắng nhiếc, đánh đập và cuối cùng bị đuổi ra khỏi ngôi nhà mà nàng đã
dày công vun đắp. Vũ Nương vô cùng đau đớn vì bị chồng chà đạp lên cả thể xác và tinh thần. Không
những thế nàng còn không biết được lí do, không được thanh minh. Cuối cùng vì quá đau đớn, tuyệt
vọng nàng đã phải gieo mình xuống sông tự tử để, lấy cái chết để minh oan cho tấm lòng trinh bạch của
mình.
c. Đánh giá nâng cao:
- Trong khi xã hội rẻ rúng người phụ nữ thì bằng ngòi bút nhân đạo và trái tim giàu tình yêu thương,
Nguyễn Dữ đã khẳng định, trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp của họ, đồng thời bày tỏ sự cảm thông với
những người phụ nữ bất hạnh.

nó là lời tố cáo đanh thép, mạnh mẽ xã hội ấy.
*LĐ1: Tố cáo chiến tranh phong kiến là nguyên nhân gây ra bao nỗi thống khổ cho người dân vô
tội.
- Trương Sinh bị bắt đi lính, chàng phải rời xa mái ấm gia đình, phải đối diện với gian lao,. nguy hiểm
và chết chóc. Do đi lính nên đã không làm tròn bổn phận của người con, người chồng, người cha. Cũng
vì xa nhà nên mới dẫn đến chuyện hiểu lầm nên đã đẩy người vợ trẻ đến cái chết oan nghiệt.
- Bé Đản: Gặp nhiều bất hạnh, khi vừa sinh ra đã không biết mặt cha, không có được niềm vui bình dị
như bao đứa trẻ khác. Bé chưa từng được cha ôm ấp, vz về. không được hưởng sự chăm sóc từ tình phụ
tử nên nhầm tưởng "cái bóng" là cha của mình, gây ra cái chết oan nghiệt cho người mẹ đức hạnh để
nó mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ.
- Bà mẹ: Con trai đi lính, bà mẹ vì quá lo lắng cho con nên sinh bệnh, ốm và mất. Đến khi từ giã cuộc
đời bà cũng không được gặp đứa con trai yêu quý duy nhất của mình. Có lẽ người mẹ già ấy dù đã sang
thế giới bên kia vẫn không yên lòng, không thể nhăm mắt vì lo lắng cho đứa con của mình.
- Vũ Nương: Nàng là nạn nhân đau khổ nhất, bất hạnh nhất của chiến tranh. Tuy “xum họp gia đình
chưa thoả tình chăn gối” đã phải "chia phôi vì động cảnh lửa binh” Chiến tranh đã khiến người phụ
nữ phơi phới tuổi xuân ấy phải chịu cảnh “ chiếc bóng năm canh”. nàng còn phải sống trong nzi cô
đơn vò võ, trong sự khắc khoải đợi chờ, trong niềm hi vọng mong manh. Không những thế, nàng còn
sống vô cùng vất vả. Một mình nàng phải nuôi mẹ già và trông con nhỏ, quán xuyến công việc gia
đình. Sự vất vả cùng nzi mỏi mòn trong chờ đợi đã bào mòn tuổi thanh xuân của VN.
- Hậu quả của chiến tranh còn là hạnh phúc gia đình tan vỡ, còn cướp đi cả mạng sống của con người.
Do TS phải xa nhà nên mới dẫn đến sự hiểu lầm. Kết cục, một Vũ Nương đức hạnh thủy chung lại bị
nghi ngờ là thất tiết, bị mắng nhiếc đánh đập rồi đuổi ra khỏi nhà. Cuối cùng nàng phải chọn cái chết để
minh oan.
-> Có thể nói chiến tranh đã kéo tất cả mọi người vào cuộc. Và tất cả họ đều chịu một kết cục bi thảm.
Chiến tranh đã khiến gia đình li tán, mẹ xa con, vợ lìa chồng, hạnh phúc tan vỡ, người dân mất đi cả sự
quý giá nhất: cuộc sống. Như vậy, viết về những đau khổ mà chiến tranh gây ra, Nguyễn Dữ đã lên án
chiến tranh và bày tỏ khát vọng chính đáng của người dân: được sống trong yên bình, không có loạn
binh đao.
9
*LĐ2: Tố cáo xã hội phong kiến với chế độ nam quyền và luật lệ ngặt nghèo hà khắc.

và được đề cao nhân phẩm trong xã hộ, xã hội của thời đại mới.
………………………………………………………
Đề 3: Giá trị nhân đạo của "Chuyện người con gái Nam Xương"
- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận con người
trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày
càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì,
“chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân
văn của Nguyễn Dữ.
1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình
dân. ( Phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương)
10
- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc biệt của tư
tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với chồng
rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ dưỡng;
đói với con rất mực yêu thương.
- Là người phụ nữ thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp
- Khéo cư xử, đằm thằm thiết tha với chồng.
- Đảm đang tháo vát, biết vun vén cho gia đình.
- Là người con dâu hiếu thảo
- Là người mẹ hiền thương con
- Là người vợ thủy chung, tiết hạnh
- Trọng tình nghĩa, nhân hậu, vị tha
Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân văn đã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn
Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người
2. Đồng cảm với khát vọng chính đáng của con người.
- Khát vọng một cuộc sống gia đình bình dị, không có chiến tranh ( qua lời dặn dò của người mẹ và
người vợ khi tiễn con, tiễn chồng ra trận).
3. Đồng cảm với đau khổ của con người. Lên án cái ác, cái xấu chà đạp lên c/s của con người.

thiên bạch nhật, với vẻ đẹp còn lộng lẫy hơn xưa.
- Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực: nàng vẫn khát vọng hạnh phúc
trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian
được nữa”.
- Kết thúc có hậu đã an ủi được người đọc nhưng chúng ta vẫn đau xót khi nhận ra rằng: hạnh
phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn, gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn được.
C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu
biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ
phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nzi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.
…………………………………………………
* Đề 4: Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý
kiến cho rằng: “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng
trong cuộc đời”, song ý kiến khác lại khẳng định : “Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay
trong cái kết lung linh kì ảo”.
Hãy trình bày suy nghĩ của em về hai ý kiến trên.
GỢI Ý
1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Kết thúc truyện đã thỏa mãn được trí tò mò của người đọc. Có thể thấy đây là một kết thúc “dồn nén
tư tưởng và cảm xúc”. Nhận xét về cách kết thúc của tác phẩm, có ý kiến đã cho rằng: ( Viết lại ý
kiến)
2. Thân bài:
a. Tóm lược về kết thúc tác phẩm: Sau khi nhảy xuông sông tự tử, nàng đã được các nàng tiên cứu
sống đưa xuống thủy cung. Ở đó nàng được sống sung sướng. Nàng đã gặp Phan Lang. Khi PL trở về
dương thế, nàng đã gửi hoa vàng làm tin và dặn TS, nếu còn chút tình xưa nghĩa cũ, hãy lập đàn giải
oan cho nàng ở bến Hoàng Giang. Nàng đã trở về trong rực rỡ cờ tán, vòng lọng, thoáng ẩn, thoáng
hiện cảm tạ chồng rối biến mất.
b. Trình bày suy nghĩ của người viết về hai ý kiến nhận xét trên:
- Như vậy, cùng một kết thúc nhưng có nhiều ý kiến khác nhau. Mzi ý kiến trên là một góc nhìn về

nhiệm, vai trò cho độc giả trong quá trình tiếp cận, giải mã văn bản văn học.
3. Kết bài: Kđ giá trị tác phẩm và cách kết thúc độc đáo.
……………………………………………
* Đề 5: Phân tích số phận của người phu nữ trong “ Chuyện người con gái Nam Xương”
( Tham khảo, mở rộng phần số phận của Vũ Nương)
13
Hoµng Lª NhÊt thèng chÝ
-Ng« gia v¨n Ph¸i-
1. Tác giả:
- Ngô gia văn Phái là một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Oai,
tỉnh Hà Tây. Trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du làm quan thời Lê Chiêu Thống
- Ngô Thì Chí ( 1753 – 1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung
thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn dẹp
loạn. Sau đó Lê Chiêu Thống cử ông đi Lạng Sơn chiêu tập kẻ lưu vong chống lại TS, nhưng trên đường đi bị mất
ở Gia Định – Bác Ninh. Nhiều người nói ông viết 7 hồi đầu của tác phẩm
- Ngô Thì Du ( 1772 – 1840), là anh em, chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng không đz đạt gì. Dưới triều
Tây Sơn ông vẫn ở vùng Kinh Bảng. Thời Nguyễn ra làm quan. Ông là người viết 7 hồi tiếp theo.
2.Tác phẩm :
a. Thể loại: Là tiểu thuyết lịch sử nhưng viết theo lối chương hồi ( Thể loại tự sự của văn học TQ)
b. Nội dung: Tác phẩm đã tái hiện một cách chân thực một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội pk VN
khoảng 30 năm cuối thế kì XVIII và mấy năm đầu thế kỉ XĨ. Đó là giai đoạn mà các tập đoàn pk rơi vào sự thối
nát cực độ, sự tranh giành quyền lực của các phe phái diễn ra quyết liệt, dữ dội dẫn đến cuộc khởi nghĩa như bão
táp của PT Tây Sơn.
C. Nghệ thuật:
- Lối văn trần thuật kết hợp miêu tả chân thực, sinh động. Thể loại tiểu thuyết viết theo lối chương hồi. Tất cả
các sự kiện lich sử trên đều được miêu tả một cách cụ thể, sinh động.
- Là tiẻu thuyết lịch sử nhưng hình thức kết cấu, nghệ thuật khắc hoạ nhân vật, nghệ thuật miêu tả, tự sự thì
mang đậm tính chất của tiểu thuyết.
=> Được coi là tác phẩm viết bằng văn xuôi chữ Hán, có quy mô lớn nhất và đạt được những thành công xuất sắc
về mặt nghệ thuật, đặc biệt trong những lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử.

phương Bắc. Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng
dạ ắt khác”.
+ Nêu bật dã tâm của giặc. Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà hán đến nay,
chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng
muốn đuổi chúng đi”.
+ Nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta từ xưa. Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới
quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn
xưa như: Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…
+ Kêu gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực”, và ra kỉ luật nghiêm.
- Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng
đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những người có
lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như
việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.
* Sáng suốt trong việc xét đoán dùng người.
- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút
quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì “quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ, sức mình ít không
địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực
lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.
- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ “đa mưu túc trí” việc Sở và Lân
rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ
quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
=> Quang Trung đã phân tích thấu tình đạt lí những cái tội và không tội, những cái mất và cái được, nêu rõ việc
của từng người. Điều này chứng tỏ ông rất hiểu sở trường, sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đều đúng người,
đúng việc, khiến tất cả quân tướng nể phục.
*LĐ3:* Tầm nhìn xa trông rộng:
- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng
cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
- Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà
bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó.
Nếu “chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì

- Thái độ của tác giả: Tôn trọng l/s. Khâm phục QT.
-> Vượt qua định kiến để miêu tả vua QT đẹp như vốn có.
Bài tham khảo
Hoàng



nhất

thống

chí

-

Ngô

gia

văn

phái
Đề
bài

: Hình tượng người anh hùng dân tộc Quang Trung hiện lên thật cao đệp trong hồi thứ mười
bốn của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Đó là một con người có khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt

Quang

Trung



hình

ảnh

vị

hoàng

đế



trí

tuệ

sáng

suốt,



hành


Xuân.

Nhận

được

tin

cấp

báo

Nguyễn

Huệ

đã

định

“thân
chinh

cầm

quân

đi

ngay”

một ngày Nguyễn Huệ đã làm xong 2 việc lớn: lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và cũng ngày
25 tháng Chạp, Mậu Thân, đã kịp thời hạ lệnh xuất quân. Việc lên ngôi trong tình thế cấp bách ấy đủ để
thấy sự sáng suốt trong trái tim của con người luôn biết vì đất nước.
+ Quang Trung còn là người mưu

lược sáng suốt

khi nhận định tình hình của

giặc,

của

ta. Ta hãy
nghe Quang Trung dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ra Bắc: “trong khoảng vũ trụ đất nào sao ấy đều đã
phân biệt rõ ràng …”. Và để khích lệ lòng yêu nước của tướng sĩ, để nêu bật chính nghĩa của ta và sự phi
17
Hoàng



nhất

thống

chí

-

Ngô

quân thật rõ ràng, lập luật thật chặt chẽ khiến ta nhớ tới “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn
và nhớ tới
“Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt. Có thể nói Quang Trung thật sáng suốt khi nhậns thấy
rõ bản chất
của kẻ thù và cũng rất sáng suốt khi khơi gợi lòng yêu nước cho nên quân lính nhất nhất “xi
n vâng lệnh
không dám hai lòng”.
- Ở Quang Trung còn là sự quyết đoán mưu lược trước mọi biến cố, quyết đoán trong việc
nhìn nhận
bề tôi, ở cương vị hoàng đế việc nhìn nhận bề tôi là một điều quan trọng. Qua lời lẽ phân tích
của ông đối
với

Ngô

Văn

Sở,

Phan

Văn

Lân,

những

người




giặc



đánh,

đến

việc

tuỳ



ứng

biến



không



tài”.



thế

g voi trước
trận đánh, Quang Trung đã chuẩn bị kế hoạch cho mười năm sau, quả là một nhà chính trị vă
n hoá, một
đấng minh quân, một người anh hùng tài trí có tầm nhìn chiến lược sâu sắc biết bao.
* Qua việc phân tích tình hình ta, địch, qua việc chuẩn bị kế hoạch 10 năm xây dựng Đại Việt
ta có
18
thể khẳng định Quang Trung là con người có tài trí sáng suốt. Đó là điều cần thiết ở một đấng
minh quân
mà không phải ai cũng có được.
2.

Dưới

ngòi

bút

của

tác

giả

Ngô

gia

văn




tài

thao

lược

hơn

người.
Hoàng



nhất

thống

chí

-

Ngô

gia

văn

phái

thao lược của Quang Trung còn

thể hiện rõ khi

chọn cách đánh bất

ngờ, biết

giặ
c kiêu căng
khinh suất là tổ chức đánh ngay, biết chọn tướng chỉ huy, hoạch định hướng tiến công, phối h
ợp giữa các
cánh quân. Kết quả tài thao lược được thể hiện rõ ở đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi khiến quân Thanh kh
ông kịp trở
tay. Cách đánh bất

ngờ

thần tốc táo bạo đến mức khi

quân Tây Sơn kéo

vào thành Thăng Lo
ng,

Tôn Sĩ
Nghị

không hề được tin cấp báo . Vì vậy quân tướng nhà Thanh nhìn thấy quân Tây Sơn nh
ư nhìn


liệt.
Quang Trung cưỡi voi chỉ huy chiến dịch thần tốc nhưng phong thái ung dung tỉnh táo kh
ác thường.
Quang Trung đã tự tin khẳng định 10 ngày đánh

đuổi quân Thanh thể hiện trí tuệm sáng suốt, b
iết làm chủ
19
trong mọi tình thế. Chính phong thái ung dung tự tin của con người có tài thao lược đã tô đậm
vẻ đẹp khí
phách

hào hùng.
Dưới những trang

văn hào hùng mang tính sử thi của đoạn trích, ta như nhìn thấy hình
ảnh Quang
Trung khoác áo bào đỏ cưỡi trên lưng voi chỉ huy 1 đội quân dàn trận chữ “Nhất” tiến vào Thăng
Long.
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến
- Trong lịch sử phong kiến Việt Nam đã có nhiều ông vua từng thân chinh cầm quân đánh
giặc nhưng
vừa nắm quyền chỉ huy, vừa quyết đoán phương lược, vừa đốc xuất chiến dịch và đi với một m
ũi tiến công
xông pha nơi hòn tên mũi đạn thì chỉ có một Quang Trung. Trong ánh sáng lờ mờ của buổi ban
mai, trong
khói toả mù trời của súng đạn, Quang Trung với khí phách lẫm liệt, hào hùng đã khắc tạo một
hình tượng
đẹp trong chiến trận. Hình ảnh

hùng

trong

lịch

sử

dân

tộc

qua

việc

khắc

hoạ

vẻ

đẹp

của

hình

tượng


không đề phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm.
+ Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư ra sao. Dù
được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết “chỉ chăm
chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất chắc”, cho quân lính mặc sắc vui chơi.
- Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không
kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ ai nấy đều rụng rời, sợ hãi , xin
ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết ”, “quân sĩ các doanh nghe thấy đều
hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất
nhiều”, “đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa”. Cả đội binh hùng,
tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, “đêm
ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.
* Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với
nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng
vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước thắng lợi
của Sơn Tây.
2. Số phận thảm hại của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân
- Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem
vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nzi sỉ nhục của
kẻ đi cầu cạnh, van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phải chịu chung số
phận bi thảm của kẻ vọng quốc.
- Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín “đưa thái
hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, “luôn mấy ngày không
ăn”. May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn
Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung
Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất
khách quê người.
Nghệ thuật: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh. Ngòi bút đậm chút xót
thương của tác giả bề tôi trung thành của nhà Lê.
• So sánh ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà
Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống) có gì khác biệt? Giải thích vì sao có sự khác biệt đó?

- Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820.
- Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
- Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi và mồ côi mẹ năm 12 tuổi.
- Trưởng thành:
+ Khi thành Thăng Long bị đốt, tư dinh của Nguyễn Khản cháy, Nguyễn Du đã phải lưu lạc ra đất
Bắc (quê vợ ở Thái Bình) nhờ anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn 10 năm (1786-1796)
+ Từ một cậu ấm cao sang, thế gia vọng tộc, từ một viên quan nhỏ đầy lòng hăng hái phải rơi vào
tình cảnh sống nhờ, 10 ấy tâm trạng Nguyễn Du vừa ngơ ngác vừa buồn chán, hoang mang, bi phẫn.
+ Khi Tây Sơn tấn công ra Bắc (1786), ông phò Lê chống lại Tây Sơn nhưng không thành.
+ Năm 1796, định vào Nam theo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn nhưng bị bắt giam 3 tháng rồi thả.
+ Từ năm 1796 đến năm 1802, ông ở ẩn tại quê nhà.
+ Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, trọng Nguyễn Du có tài, Nguyễn Ánh mời ông ra làm quan. Từ
chối không được, bất đắc dĩ ông ra làm quan cho triều Nguyễn.
+ 1802: Làm quan tri huyện Bắc Hà.
+ 1805-1808: làm quan ở Kinh Đô Huế.
+ 1809: Làm cai bạ tỉnh Quảng Bình.
+ 1813: Thăng chức Hữu tham tri bộ Lễ, đứng đầu một phái đoàn đi sứ sang Trung Quốc lần
thứ nhất (1813 - 1814).
+ 1820, chuẩn bị đi sứ sang Trung Quốc lần 2 thì ông nhiễm dịch bệnh ốm rồi mất tại Huế
(16-9-1802). An táng tại cánh đồng Bàu Đá (Thừa Thiên - Huế).
+ 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ xin nhà vua mang thi hài của ông về an táng tại quê nhà.
- Cuộc đời ông chìm nổi, gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người. Cuộc đời từng trải,
vốn sống phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một trong 5 người giỏi nhất nước Nam.
- Là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, với
những đau khổ của nhân dân. Tác giả Mộng Liên Đường trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời
văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải
thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến dứt ruột. Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh
cũng hệt, đàm tình đã thiết. Nếu không phải con mắt trong thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả
nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”.
22

truyện: Kim Trọng, Thuý Vân, Thuý Kiều.
Đoạn trường tân thanh: tiếng kêu mới về nzi đau thương đứt ruột: bộc lộ chủ đề tác phẩm
(tiếng kêu cứu cho số phận người phụ nữ).
- Tên chữ nôm: Truyện Kiều: Tên nhân vật chính - Thuý Kiều (do nhân dân đặt).
6. Tóm tắt Truyện Kiều.
a. Phần thứ nhất : Gặp gỡ và đính ước.
Vương Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đình trung lưu
lương thiện, sống trong cảnh "êm đềm trướng rủ màn che" bên cạnh cha mẹ và hai em là Thuý Vân,
Vương Quan. Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Kiều gặp chàng Kim Trọng "phong tư tài
mạo tót vời". Giữa hai người chớm nở một mối tình đẹp. Kim Trọng dọn đến ở trọ cạnh nhà Thuý
Kiều. Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng gặp Kiều bày tỏ tâm tình. Hai người chủ động, tự do đính
ước với nhau.
b. Phần thứ hai : Gia biến và lưu lực
Trong khi Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan. Kiều nhờ Vân trả
nghĩa cho Kim Trọng còn nàng thì bán mình chuộc cha. Nàng bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh,
Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó, nàng được Thúc Sinh – một khách làng chơi
hào phóng – cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ. Nhưng rồi nàng lại bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư
23
ghen tuông, đầy đoạ. Kiều phải trốn đến nương nhờ nơi cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng
cho Bạc Bà - một kẻ buôn người như Tú Bà, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Tại đây, nàng
gặp Từ Hải, một anh hùng đội trời đạp đất. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán. Do mắc lừa
quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến. Từ Hải bị giết. Kiều phải hầu đàn hầu rượu Hồ Tôn Hiến
rồi ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, nàng trẫm mình ở sông Tiền Đường và được sư
Giác Duyên cứu, lần thứ hai Kiều nương nhờ cửa Phật.
c. Phần thứ ba: Đoàn tụ:
Sau nửa năm về chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều. Hay tin gia đình Kiều gặp tai biến và
nàng phải bán mình chuộc cha, chàng vô cùng đau đớn. Tuy kết duyên với Thuý Vân nhưng chàng
vẫn không thể quên mối tình đầu say đắm. Chàng quyết cất công lặn lội đi tìm Kiều. Nhờ gặp được
sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ. Chiều theo ý mọi người, Thuý Kiều
nối lại duyên cũ với Kim Trong nhưng cả hai cùng nguyện ước “Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn

tắc thánh hiền về sự cách biệt nam nữ.
+ Là giấc mơ tự do và công lý. Qua hình tượng Từ Hải Nguyễn gửi gắm ước mơ anh hùng "đội trời
đạp đất" làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán, thực hiện công lí ở đời.
=> Phải là người giàu lòng yêu thương, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con người Nguyễn
Du mới sáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị nhân đạo lớn lao như thế.
24

7.2. Giá trị nghệ thuật : TK là kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên tất cả phương
diện:
- Thể loại: Thể thơ lục bát đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong TK có sự kết hợp của ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học để
trở thành ngôn ngữ văn chương vô cùng tinh trong sáng và mĩ lệ, đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ
thuật vừa có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (bộc lộ cảm xúc) và thẩm mĩ (vẻ đẹp của
ngôn từ).
- Nghệ thuật kể chuyện: Có bước phát triển vượt bậc.
+ Ngôn ngữ kể chuyện có 3 hình thức: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trực
tiếp (lời tác giả mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật). Nhân vật trong truyện xuất hiện với cả con
người hành động và con người cảm nghĩ, có biểu hiện bên ngoài và thế giới bên trong sâu thẳm.
+ Thành công ở thể loại tự sự, có nhiều cách tân sáng tạo, phát triển vượt bậc trong ngôn ngữ
thơ và thể thơ truyền thống.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc hoạ nhân vật qua phương thức tự sự, miêu tả chỉ bằng vài
nét chấm phá mzi nhân vật trong Truyện Kiều hiện lên như một chân dung sống động. Cách xây
dựng nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lý tưởng hoá, được miêu tả bằng những
biện pháp ước lệ, nhưng rất sinh động. Nhân vật phản diện của Nguyễn Du chủ yếu được khắc hoạ
theo lối hiện thực hoá, bằng bút pháp tả thực, cụ thể và rất hiện thực (miêu tả qua ngoại hình, ngôn
ngữ, hành động… của nhân vật).
- Nghệ thuật miêu tả tài tình, bên cạnh bức tranh thiên nhiên chân thực sinh động (Cảnh ngày
xuân), có những bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc (Kiều ở lầu Ngưng Bích).

Chị em Thúy Kiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status