Giải pháp giải quyết việc làm tại chỗ trên địa bàn huyện phú lương tỉnh thái nguyên - Pdf 15

i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CN : Công nghiệp
CNH : Công nghiệp hóa
DS : Dân số
HĐH : Hiện đại hóa
LLLĐ : Lực lượng lao động
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Đóng góp của luận văn 3
5. Bố cục luận văn 3
1.1. Việc làm và chính sách việc làm 4
1.1.2. Chính sách việc làm 15
1.2. Giải quyết việc làm 17
1.2.1. Giải quyết việc làm và vai trò của giải quyết việc làm 17
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm tại chỗ 20
1.3. Kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới và của các địa phương khác về
giải quyết việc làm và bài học cho Phú Lương 28
1.3.1. Kinh nghiệm thực tế của các nước trên thế giới 28
1.3.2. Kinh nghiệm thực tế của các tỉnh trong nước 33
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 35
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu 37

4.4.2. Về phía các doanh nghiệp 90
4.4.3. Về phía người lao động 90
iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Đóng góp của luận văn 3
5. Bố cục luận văn 3
1.1. Việc làm và chính sách việc làm 4
1.1.2. Chính sách việc làm 15
1.2. Giải quyết việc làm 17
1.2.1. Giải quyết việc làm và vai trò của giải quyết việc làm 17
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm tại chỗ 20
1.3. Kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới và của các địa phương khác về
giải quyết việc làm và bài học cho Phú Lương 28
1.3.1. Kinh nghiệm thực tế của các nước trên thế giới 28
1.3.2. Kinh nghiệm thực tế của các tỉnh trong nước 33
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 35
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu 37
2.2.2. Thu thập dữ liệu 38
2.2.3. Phương pháp xử lý dữ liệu 39
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
3.1. Tổng quan về huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên 42
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 42
3.1.2. Điều kiện kinh tế 44
3.1.3. Điều kiện văn hóa 51
3.2. Thực trạng lao động, việc làm và giải quyết việc làm tại chỗ trên địa bàn của

bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Giải quyết việc làm là vấn đề mang tính
toàn cầu, là một thách thức còn khá lâu dài với toàn thể nhân loại nhằm đảm bảo xã
hội công bằng, văn minh, duy trì và bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc.
Đối với nước ta giải quyết việc làm còn là giải quyết một vấn đề cấp thiết
trong xã hội đồng thời là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao
động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH,
HĐH và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người. Sau
hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã
từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế
hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt
được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc
làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát
triển của nền kinh tế, đặc biệt là từ sau khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại
quốc tế (WTO). Những tồn tại chủ yếu đó thể hiện trên nhiều mặt. Cung- cầu lao
động, việc làm mất cân đối lớn (cung lớn hơn cầu); tỉ lệ thất nghiệp giảm chậm; số
doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao
động còn hạn chế. Tình trạng thiếu việc làm còn cao, chính sách tiền lương, thu
nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc. Do vậy,
giải quyết việc làm cho người lao động là đòi hỏi cấp bách.
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có mật độ dân
số cao, điều kiện tự nhiên phức tạp, trình độ dân trí thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu, thu
nhập thấp, đời sống khó khăn. Để thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX và Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI về phát triển kinh tế xã
hội tỉnh năm 2015, phấn đấu đưa Thái Nguyên thoát khỏi tình trạng kém phát triển,
nâng cao một bước rõ rệt về đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề cơ
2
bản cho Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 thì vấn đề hết sức
quan trọng là tạo việc làm cho người lao động nhằm nâng cao mức sống của người
dân, phát triển kinh tế xã hội.
Huyện Phú Lương là huyện có 85% dân số với công việc chính là sản xuất

là tài liệu giúp huyện Phú Lương xây dựng kế hoạch phát triển nguồn lao động, đảm
bảo việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người dân, phát triển kinh
tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo huyện Phú Lương.
Luận văn nghiên cứu và phản ánh khá toàn diện về việc làm, lao động và tình
hình phát triển kinh tế xã hội để tạo việc làm ở huyện Phú Lương. Các giải pháp đưa ra
có ý nghĩa thiết thực đối với tạo việc làm cho người lao động cũng như đóng góp cho sự
phát triển kinh tế – xã hội chung của huyện Phú Lương và các địa phương có điều kiện
tương tự.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm.
Chương 2: Câu hỏi, phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trang việc làm và giải quyết việc làm
tại chỗ trên địa bàn huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp giải quyết việc làm tại chỗ trên địa bàn huyện Phú
Lương – tỉnh Thái Nguyên
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. Việc làm và chính sách việc làm
1.1.1. Việc làm và thị trường việc làm
1.1.1.1. Việc làm và nguồn lao động
Việc làm đối với mỗi người lao động, được làm việc gắn với mỗi công việc
cụ thể, không chỉ để tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân. Đối với xã hội, việc
làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là
công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình
người lao động phụ thuộc rất lớn vào công việc của họ. Sự tồn tại và phát triển của
mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm.

khái niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào các
doanh nghiệp, cơ quan nhà nước. Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật Lao
động nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm.
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy việc làm phụ thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác
nhau. Mặt khác, việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng
lực tạo việc làm phụ thuộc nhiều vào yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, địa
phương, doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong quan điểm đó còn có một số hạn chế sau khi áp dụng vào thực
tế như sau: Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt
động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề
nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau
vì quan niệm việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào pháp luật,
phong tục tập quán… có những nghề ở nước này cho phép và được coi là việc làm,
nhưng ở quốc gia khác lại cấm và không được coi là việc làm.
“Người có việc làm” là những người làm việc và được trả tiền công, lợi
nhuận hoặc thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động
mang tính chất tự tạo ra việc làm vì lợi ích và thu nhập của gia đình nhưng không
6
nhận được tiền công hoặc hiện vật cho những công việc đó. Như vậy, người có việc
làm khi làm những công việc mà pháp luật không cấm và được trả công, hoặc thu
được lợi nhuận hoặc có ích cho gia đình…
Trong nền kinh tế thị trường, việc làm được giải quyết thông qua quan hệ
cung, cầu lao động và cạnh tranh trên thị trường lao động. Cơ chế thị trường có khả
năng điều tiết việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực lao động của xã hội. Cơ chế
này có mặt tích cực là đảm bảo quyền tự do lựa chọn của người lao động và người
sử dụng lao động, kích thích tính tích cực, năng động của họ, điều chỉnh nhu cầu lao
động xã hội hết sức linh hoạt. Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm đầy đủ, việc làm
hợp lý, việc là tự do.
“Việc làm đầy đủ” là thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả

chất lượng.
Số lượng lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công
việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình
trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định)
Chất lượng lao động: Cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí
lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.
Một nền kinh tế muốn tăng trưởng và phát triển bền vững cần chú trọng đến
chất lượng lao động hơn là số lượng lao động, vì năng suất lao động, trình độ công
nghệ, nền kinh tế tri thức… đều do chất xám, trình độ, kiến thức và sức khỏe của
người lao động đem lại.
Lực lượng lao động (LLLĐ): Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo thực tế đang có việc làm và
những người thất nghiệp.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam và Bộ Lao động, thương binh và Xã hội
Việt Nam cho rằng: LLLĐ (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) gồm toàn bộ
những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc những người thất nghiệp
trong thời gian quan sát.
LLLĐ trong độ tuổi lao động (tương đương với khái niệm dân số hoạt động
kinh tế trong độ tuổi lao động) gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động
8
(nam từ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ từ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc
không có việc làm (thất nghiệp) những có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
1.1.1.2. Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển
kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước
trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ mỗi giai đoạn của một quốc gia.
Có rất nhiều quan điểm định nghĩa về tăng trưởng kinh tế song có thể định
nghĩa một cách khái quát như sau:

vững
Trong nền kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp có mối liên quan vì
hai khái niệm này gắn bó với nhau. Mức độ thất nghiệp trong nền kinh tế có thể ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế bởi tỷ lệ thất nghiệp chỉ là một chỉ số về tình
trạng tăng trưởng của nền kinh tế. Nếu tăng trưởng kinh tế được duy trì, mức độ chung
của việc làm không giảm xuống dưới một mức độ nhất định. Tại thời điểm mà việc làm
giảm xuống quá mức xác định này nó sẽ gây phương hại đến tăng trưởng kinh tế.
Trong “kinh tế học” cho rằng: Thất nghiệp làm những người không có việc
làm nhưng đang chờ để trở lại làm việc hoặc đang tích cực đi xin việc.[10,tr235]
Những người có việc làm hoặc không có việc làm đều nằm trong LLLĐ.
Những người đang đi học, trông coi nhà cửa, về hưu, ốm đau không đi làm được
hoặc thôi không đi làm việc nữa, đó là những người nằm ngoài LLLĐ.
Quan niệm của A. Sammuelson cho rằng “Người có việc làm là người đi
làm, người không có việc làm là người thất nghiệp. Những người không có việc
làm, nhưng không tìm được việc làm là những người ngoài lực lượng lao
động”[10,tr235]. Quan niệm này khá chung chung không cụ thể và có vấn đề không
phù hợp với thực tế hiện nay, như những người làm nội trợ, tàn tật, nghỉ hưu…
không thể coi họ là những người thất nghiệp do vậy quan niệm của Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội về người thất nghiệp có phần hợp lý hơn: “Những người
thuộc lực lượng lao động có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc
làm, có nhu cầu về việc làm nhưng không tìm được việc làm” [13,tr23].
Như vậy, người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc LLLĐ hay dân số hoạt
động kinh tế. Một người thất nghiệp thường có 3 đặc trưng:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
10
+ Hiện chưa có việc làm
Với cách hiểu như trên, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa
có việc làm đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu chí quan trọng để xem xét
một người được coi là thất nghiệp thì cần phải biết được người đó có muốn đi làm

của từng nước, từng địa phương. Còn ở mức tiền công W2 thì dư thừa nhu cầu việc làm
và thiếu cung việc làm, xuất hiện tình trạng thất nghiệp và lượng thất nghiệp là (Ld - Lc).
Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp có thể được giải
thích dưới dạng sản lượng hàng hóa cần thiết sản xuất ra của việc làm cung cấp bởi
những người lao động cần có để duy trì nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Khi tỷ lệ thất nghiệp cao, mức sản lượng sẽ giảm do việc giảm số lượng đóng góp
cho sản lượng hàng hóa sản xuất ra. Mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ
lệ thất nghiệp này có thể được rút ra từ thực tế là tỷ lệ thất nghiệp tăng cao nhất
trong giai đoạn khủng hoảng của nền kinh tế. Ngược lại, giảm tối đa trong trường
hợp có sự phát triển nhanh chóng, hoặc trong giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ lệ thất nghiệp được các nhà kinh tế sử dụng làm một trong những nhân tố
kinh tế vĩ mô đo lường tốc độ tăng trưởng và sức khỏe hiện tại của nền kinh tế. Khi
tỷ lệ thất nghiệp bắt đầu giảm, nó thường kết nối với các nhân tố vĩ mô khác như sự
gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, được coi là chất xúc tác cho sự gia
tăng việc làm. Ví dụ, khi khách hàng bắt đầu đặt những đơn hàng cho các sản phẩm,
doanh nghiệp sẽ thuê thêm lao động để kịp theo tiến độ của nhu cầu. Khi nhu cầu
giảm, người lao động sẽ bị sa thải do các doanh nghiệp phải giảm gánh nặng không
cần thiết để bảo tồn nguồn lực. Do vậy khi nền kinh tế tăng trưởng kéo theo việc
làm gia tăng và do đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
Thất nghiệp được phân thành các loại sau:
Thất nghiệp tự nhiên: là loại thất nghiệp được dùng để chỉ mức thất nghiệp
mà bình thường nền kinh tế trải qua. Nó đơn giản là loại thất nghiệp không tự biến
mất ngay cả trong dài hạn.
Thất nghiệp tạm thời: là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không
ngừng của lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác
nhau của cuộc sống (sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm việc làm, phụ nữ sau sinh con có
thể quay lại LLLĐ…)
Thất nghiệp cơ cấu: là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa
cung – cầu lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó do biến đổi cơ cấu kinh
12

động, với giả thiết là các yếu tố khác không thay đổi.
13
Trong nền kinh tế, cung việc làm được tạo ra nhiều hay ít phụ thuộc vào các
đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước, tư nhân và của các hộ gia đình (chính
những người lao động). Khi việc làm tăng lên là các doanh nghiệp thuê mướn lao
động nhiều hơn, việc thuê mướn nhiều hay ít phụ thuộc vào việc người tiêu dùng
mua hàng hóa và dịch vụ của họ sản xuất ra nhiều hay ít. Nhu cầu thuê mướn lao
động cũng như về các đầu vào khác của quá trình sản xuất (đất đai, nhà xưởng, máy
móc, vốn, công nghệ,…) là cầu phát sinh, xuất phát từ mong muốn của khách hàng.
Vì thế, người sử dụng lao động thuê nhiều hay ít phụ thuộc vào cầu sản phẩm, điều
kiện hoàn cảnh của từng tổ chức, từng doanh nghiệp và của nền kinh tế dẫn đến
cung việc làm nhiều hay ít biến động theo. Ngoài ra, khi quyết định tạo ra thêm một
hay nhiều việc làm, cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động cần chú
trọng đến số lượng lao động, chất lượng lao động để xác định giá cả sức lao động và
các quyết định về quan hệ lao động như điều kiện làm việc, các chế độ khuyến
khích, chính sách tiền lương, bảo hiểm… Số lượng việc làm trong nền kinh tế có
tăng lên hay không là phụ thuộc vào quyết định thuê lao động của các đơn vị sản
xuất kinh doanh. Giả sử trong một doanh nghiệp mục đích cuối cùng là tối đa hóa
lợi nhuận và là một đối tác không làm thay đổi đến các giá cả thị trường thì doanh
nghiệp đó tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thuê “đủ và đúng” số lượng vốn và lao
động cần thiết. Và mức độ thuê này khác nhau trong dài hạn và trong ngắn hạn.
Ngắn hạn là một khoảng thời gian mà doanh nghiệp không thể thay đổi quy mô nhà
xưởng hoặc thay đổi thiết bị máy móc nên số lượng vốn của đơn vị là cố định ở một
mức K nào đó. Cung việc làm ngắn hạn cho biết những thay đổi về số việc làm (hay
số lao động cần thuê) của đơn vị sản xuất khi tiền công thay đổi và số vốn được giữ
nguyên. Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thay đổi
cả số lượng lao động thuê và số lượng vốn đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị. Vì ngoài
việc thay đổi số lượng lao động, lượng vốn của doanh nghiệp còn thay đổi dẫn đến
kết quả sản xuất khác nhau và từ đó cung việc làm cũng khác nhau.
- Cầu việc làm

yếu tố do người lao động và những người mong muốn có việc làm quyết định, trái
lại với cung việc làm là yếu tố do các đơn vị sản xuất kinh doanh tạo GDP cho nền
kinh tế quyết định. Sự vận động giữa hai yếu tố này như thế nào và đem lại kết quả
gì, có như mong muốn của các nhà lãnh đạo, của người lao động không?
15
1.1.2. Chính sách việc làm
Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc
gia nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Hội nghị thượng
đỉnh Copenhagen tháng 3 năm 1995 đã coi mở rộng việc làm là một trong những nội
dung cơ bản nhất của chiến lược phát triển xã hội của các nước trên thế giới.
Đối với nước ta, tạo thêm việc làm cho người lao động, kiềm chế thất nghiệp
ở tỷ lệ thấp là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Nhà nước thường xuyên
quan tâm thực hiện.
Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các
giải pháp và công cụ nhằm sử dụng LLLĐ và tạo việc làm cho LLLĐ đó.
Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước
trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng, mục
tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nhằm góp phần ổn
đinh, an toàn và phát triển xã hội.
Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan
hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho LLLĐ của toàn xã hội,
như các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực, những ngành nghề có khả
năng thu hút nhiều lao động; chính sách tạo việc làm cho những đối tượng đặc biệt
(người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi hương,…); chính sách hợp tác và
xuất khẩu lao động đi nước ngoài…
Chính sách việc làm tác động đến một vấn đề nhạy cảm, vừa có ý nghĩa về
mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Việc hoạch định và thực hiện
không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp
cả về kinh tế (không sử dụng hết tiềm năng lao động để phát triển kinh tế) và cả về
chính trị, xã hội cho đất nước (Ví dụ: Thất nghiệp thì tệ nạn xã hội cũng tăng; thất

Việc làm có vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân, để giải quyết
việc làm cho người lao động Nhà nước phải đề ra các chính sách khuyến khích
doanh nghiệp phát triển để tạo việc làm cho người lao động, chính sách hỗ trợ cho
người lao động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn…
17
Các chính sách việc làm của Nhà nước đã tạo môi trường và điều kiện thuận
lợi cho các tất cả các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản
xuất kinh doanh, tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế.
Chính sách việc làm là cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà
nước về phát triển nguồn nhân lực đất nước phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của
đất nước trong từng thời kỳ nhất định.
Sự đổi mới của chính sách việc làm có tác động lớn đến việc thay đổi cơ cấu
nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
đặc biệt trong thực hiện CNH, HĐH đất nước.
Nói một cách tổng quát, có thể nói, chính sách việc làm có vai trò, ý nghĩa quan
trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng.
1.2. Giải quyết việc làm
1.2.1. Giải quyết việc làm và vai trò của giải quyết việc làm
1.2.1.1. Giải quyết việc làm
Sự vận động giữa cung việc làm và cầu việc làm phù hợp với nhau thì người
dân có việc làm và trở thành LLLĐ, nếu sự vận động đó khác đi và lệch với nhau là
hiện tượng thất nghiệp xảy ra. Với tất cả các hoạt động và các chính sách liên quan
đến dân số, đến nguồn lao động mà Nhà nước và người dân cố gắng thực hiện tốt
đều có mục tiêu là giải quyết việc làm cho dân số. Điều đó có nghĩa là hướng tới có
việc làm đầy đủ cho người lao động, đảm bảo thu nhập ổn định, tiến đến nâng cao
mức sống của người lao động và dần dần nâng cao chất lượng việc làm để sử dụng
một cách hiệu quả nhất nguồn lực của đất nước.
Căn cứ vào khái niệm và phân loại việc làm ở trên, theo đó có 3 nhóm người
khi giải quyết việc làm là: nhóm người đủ việc làm, nhóm người thiếu việc làm và

việc làm, nâng cao sự phù hợp của cầu việc làm và các yếu tố thị trường, từ đó Nhà
nước giúp đỡ rồi tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cho người lao động tự tạo việc
làm cho mình và cho những người khác.
1.2.1.2. Vai trò giải quyết việc làm
- Giải quyết việc làm cho LLLĐ là tác động đến phát triển kinh tế:
19
Như đã tìm hiểu ở trên việc làm tác động đến phát triển kinh tế một cách trực
tiếp và gián tiếp đối với một quốc gia, một tỉnh, một vùng. Ngược lại, phát triển
kinh tế cũng tác động lại vấn đề giải quyết việc làm, người có việc làm và người
không có việc làm. Khi tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thì việc làm của người lao
động được ổn định và ngày càng nâng cao hơn về chất lượng công việc, việc làm
mới được tạo ra nhiều hơn, những người không có việc làm sẽ giảm. Khi việc làm
được giải quyết tốt với những người thất nghiệp thì tốc độ tăng trưởng cao, xu
hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế phù hợp với điều kiện đất nước. Do đó, để có
tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thì việc giải quyết việc làm cho những
người không có việc làm, giúp người có việc làm không ổn định giờ ổn định mang lại
thu nhập ổn định là rất cần thiết cho sự tồn tại và sự phát triển của chính quốc gia đó.
- Giải quyết việc làm cho LLLĐ làm giảm bớt các tệ nạn xã hội:
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì đời sống xã hội của con người ngày
càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp hơn. Và đáng lo ngại nhất là các tệ nạn xã hội
cũng xuất hiện nhiều hơn, dưới nhiều hình thức hơn. Nếu như người dân không có
việc làm thì thời gian rảnh rỗi cả họ tăng lên rất nhiều. Những mặt tiêu cực thường
đi kèm như suy nghĩ làm liều, hoàn cảnh bắt buộc, xô đẩy những con người này vào
con đường cờ bạc, nghiện hút, mại dâm,… và là đối tượng dễ dàng tham gia gây ra
các tệ nạn xã hội, gây ra những bất ổn cho cuộc sống, cho người dân sống cùng
những con người này. Nếu số những người dân có thời gian rảnh rỗi này giảm đi
một cách đáng kể nhờ có việc làm phù hợp với sức lao động của họ thì LLLĐ tăng
lên, lao động có mục tiêu để phấn đấu vươn tới, không có những suy nghĩ và hành
động tiêu cực làm giảm một cách đang kể các tệ nạn xã hội.
- Giải quyết việc làm cho LLLĐ góp phần xóa đói giảm nghèo:

nguyên, đất đai chật hẹp thường xảy ra các sự cố bất lợi cho sản xuất, cho cuộc
sống con người như động đất, núi lửa, bão lụt… như đất nước Nhật Bản, Việt Nam
cũng là nước có rất nhiều ưu thế về tài nguyên thiên nhiên, rừng vàng biển bạc, cây
cối xanh tươi, hoa quả bốn mùa, các loại cây con, thủy hải sản đa dạng phong phú,
đất đai màu mỡ, tuy nhiên cũng thường xuyên phải chịu cảnh bão lũ, nước lớn ở các
vùng miền Trung gây khó khăn cho người dân sinh sống ở khu vực đó. Các điều
kiện tự nhiên chỉ là điều kiện thuận lợi để tạo việc làm khi quốc gia đó biết cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status