luận văn “hội nhập kinh tế, cơ hội và thách thức của kinh tế việt nam sau khi gia nhập wto” - Pdf 15

Luận văn
Hội nhập kinh tế, cơ hội và thách
thức của kinh tế Việt Nam sau
khi gia nhập WTO
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
MỤC MỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Giới thiệu đề tài: 5
3. Đối tượng nghiên cứu: 6
4. Phương pháp nghiên cứu: 6
5. Phạm vi nghiên cứu: 7
6. Kết quả nghiên cứu: 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GỚI (WTO) & HỘI NHẬP
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM 8
1.1. Tổ chức thương mại thế gới (WTO) 8
1.1.1 Sự ra đời của tổ chức thương mại thế gới (WTO) 8
1.1.1.1 Hiệp định GATT tiền thân của WTO 8
1.1.1.2. Sự ra đời của WTO 8
1.1.2. Mục tiêu, chức năng của WTO 9
1.1.2.1. Mục tiêu 9
1.1.2.2. Chức năng 9
1.1.3. Các nguyên tắc của WTO. 10
1.1.3.1. Thương mại không có sự phân biệt đối xử 10
1.1.3.1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc ( Most-favoured-nation – (MFN)): 10
1.1.3.1.2. Đối xử quốc gia (National treatment - NT): 10
1.1.3.2. Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán: 10
1.1.3.3. Có thể dự đoán: thông qua ràng buộc và minh bạch hoá: 11
1.1.3.4. Thúc đẩy cạnh tranh công bằng: 11
1.1.3.5. Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế: 11

2.1.3.1 Tổng sản phẩm trong nước 24
2.1.3.2.Đầu tư phát triển 24
2.1.3.3. Thu, chi ngân sách Nhà nước 25
2.1.3.4. 25
a) Nông nghiệp 25
b) Lâm nghiệp 26
c) Thuỷ sản 26
2.1.3.5. Sản xuất công nghiệp. 26
a) Xuất, Nhập khẩu hàng hoá 27
b) Vận tải: 27
c) Bưu chính, viễn thông 28
2.1.4.1. Tổng sản phẩm trong nước 29
2.1.4.2. Đầu tư phát triển 29
2.1.4.3. Thu, chi ngân sách Nhà nước 30
2.1.4.4. Sản xuất nông, lâm nghiệp 31
a) Nông nghiệp 31
b) Lâm nghiệp 31
3
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
c) Thuỷ sản 31
2.1.4.5. Sản xuất công nghiệp 32
2.1.4.6. Thương mại, vận tải và du lịch 32
a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa 32
b) Vận tải. 32
c) Bưu chính, viễn thông 33
2.2.1. Cơ hội: 35
PHẦN KẾT LUẬN 38
4
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
PHẦ

Trang bị cho sinh viên nắm vững những kiến thức về hội nhập kinh tế. Tìm
hiểu về những thuận lợi, thách thức sau khi gia nhập WTO.
. Giúp cho sinh viên làm quen việc học tập, nghiên cứu làm việc theo nhóm,
và tập cho chúng tôi có sự tư duy logic để tìm ra giải pháp khi đứng trước một vấn
đề cần giải quyết.
Giúp sinh viên biết cách phân tích, nhận xét, đánh giá trước những tình
huống. Giúp nâng cao khả năng đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm để làm
việc đạt hiệu quả cao.
Yêu cầu:
Nắm vững kiến thức: định nghĩa, khái niệm, vai trò, nguyên tắc về hội nhập
kinh tế. Tập hợp khả năng của các thành viên trong nhóm, phân công giao việc để
cùng giải quyết vấn đề.
Tìm kiếm thông tin một cách khoa học chính xác trên sách, báo, internet,
thực tế…Khả năng liên kết, trình bày khoa học, có hệ thống, logic…
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nội dung của bài tiểu luận: “Hội nhập kinh tế, cơ hội và thách thức của kinh
tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO” và tìm hiểu về cách thức hội nhập kinh tế của
Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình làm đề tài tiểu luận “Hội nhập kinh tế, cơ hội và thách thức
của kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO” chúng tôi đã dùng các phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp trừu tượng khoa học: gạt bỏ những hiện tượng bên ngoài,
những cái ngẫu nhiên, thoáng qua, không ổn định để đi vào cái chung, cái tất yếu,
ổn định, bản chất, tạo nên hệ thống có tính khái quát.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân chia cái toàn thể, phức tạp thành
những yếu tố cấu thành đơn giản hơn, nhận thức được một cách sâu sắc từng góc
6
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
cạnh của nguồn nhân lực. Tổng hợp nhằm thống nhất lại các bộ phận, các yếu tố

Đến cuối những năm 80, đầu 90, trước những biến chuyển của khoa học-kỹ
thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theo kịp tình hình.
Thứ nhất, trong việc giảm và ràng buộc thuế quan ở mức thấp cộng với một
loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70 và 80 đã thúc đẩy các nước tạo
ra các loại hình bảo hộ phi quan thuế khác nhau để đối phó với hàng nhập khẩu
hoặc ký kết các thoả thuận song phương dàn xếp thị trường, đồng thời làm nảy sinh
nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp mới. Những biến đổi này có nguy cơ làm giảm và
mất đi những giá trị mà việc giảm thuế quan mang lại cho thương mại quốc tế.
Trong khi đó, phạm vi của GATT không cho phép đề cập một cách cụ thể và sâu
rộng đến các vấn đề này.
Thứ hai, đến những năm 80, GATT đã không còn thích ứng với thực tiễn
thương mại thế giới. Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu
điều tiết thương mại hàng hoá hữu hình. Từ đó tới nay, thương mại quốc tế đã phát
triển nhanh chóng, mở rộng sang cả các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân
hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn Các
loại hình thương mại dịch vụ này, cùng với các vấn đề trong đầu tư và bảo hộ
8
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở
thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế.
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá, GATT còn có
những lỗ hổng cần phải được cải thiện. Ví dụ, trong nông nghiệp và hàng dệt may,
các cố gắng tự do hoá thương mại đã không đạt được thành công lớn. Kết quả là
còn rất nhiều ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này.
Thứ tư, về mặt cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng
tỏ ra không thích ứng với tình hình thế giới. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham
gia mang tính chất tuỳ ý. Thương mại quốc tế ở những năm 80 và 90 đòi hỏi phải
có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc để đảm bảo thực thi các
hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống giải quyết tranh
chấp, GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra

1.1.3.1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc ( Most-favoured-nation – (MFN)):
Theo nguyên tắc MFN, các thành viên WTO không được phép phân biệt
đối xử giữa các nước đối tác thương mại khác nhau. Ví dụ, trong thương mại hàng
hoá, nếu một thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ thành viên nào mức thuế
quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi
đó cho sản phẩm tương tự của tất cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay
lập tức và vô điều kiện. WTO cũng cho phép các thành viên được duy trì một số
ngoại lệ của nguyên tắc này
1.1.3.1.2. Đối xử quốc gia (National treatment - NT):
Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một thành viên không được phép áp
dụng đối xử phân biệt giữa các thành viên thì nguyên tắc NT yêu cầu một nước
phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự
sản xuất trong nước. Cụ thể, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua
biên giới (đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được
hưởng sự đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước.
NT cũng được mở rộng áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ.
1.1.3.2. Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán:
WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông
qua quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy buôn bán.
10
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại đa phương để các
nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hoá thương mại.
1.1.3.3. Có thể dự đoán: thông qua ràng buộc và minh bạch hoá:
Các thành viên WTO có nghĩa vụ phải minh bạch hoá các quy định thương
mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng và ràng buộc chúng (tức
là cam kết sẽ không thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi
phải được thông báo, tham vấn và bù trừ hợp lý).
Ngoài ra, WTO cũng tăng cường tính ổn định và dễ dự báo trong thương
mại quốc tế thông qua việc yêu cầu các nước hạn chế sử dụng hạn ngạch và các

thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Khái niệm này được Béla Balassa đề xuất
từ thập niên 1960 và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính
sách. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai
việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và
thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế
quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực
và toàn cầu, góp phần khai thác các nguồn lực bên trong một cách có hiệu quả.
1.2.2. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam.
Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là một
trong những vấn đề thời sự đối với hầu hết các nước. Mở cửa hội nhập kinh tế quốc
tế tuy phải trả giá nhất định, song đó là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của
mỗi nước. Bởi với những tiến bộ trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là
công nghệ truyền thông và tin học, thì giữa các quốc gia ngày càng có mối liên kết
chặt chẽ, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Xu hướng toàn cầu hóa được thể hiện rõ ở sự
phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới. Về thương mại, trao đổi buôn bán trên
thị trường thế giới ngày càng gia tăng.
Về tài chính, số lượng vốn trên thị trường chứng khoán thế giới đã tăng gấp
3 lần trong 10 năm qua. Sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của các tổ chức kinh tế
quốc tế là một phần của quốc tế hóa. Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế của các
nước phát triển mạnh hơn nữa.
12
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hóa các nước giàu luôn có những lợi thế về
lực lượng vật chất và kinh nghiệm quản lý. Còn các nước nghèo có nền kinh tế yếu
kém dễ bị thua thiệt, thường phải trả giá đắt trong quá trình hội nhập.
Là một nước nghèo trên thế giới, sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá,
Việt Nam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ
chế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền
kinh tế thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khó khăn. Nhưng không vì thế
mà chúng ta bỏ cuộc. Trái lại, đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhận thức được

trong khi nền kinh tế còn nhiều mặt yếu kém, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản
xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp thì giá của nhiều loại vật tư nguyên liệu đầu
vào quan trọng phải nhập khẩu tăng cao.
2.1.1.1. Tổng sản phẩm trong nước.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 theo giá
so sánh 1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-
8,5%), gồm có khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41% (kế hoạch 3,5-
3,8%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% đạt kế hoạch đề ra (10,5-
10,7%); khu vực dịch vụ tăng 8,68% vượt kế hoạch đề ra (8,0-8,5%). Tăng trưởng
kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao trong khu vực
2.1.1.2. Đầu tư phát triển.
Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ước
tính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% tổng sản phẩm trong nước (đạt kế hoạch
đề ra 40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006, trong đó vốn khu vực Nhà nước
200 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% tổng vốn và tăng 8,1%; vốn khu vực ngoài Nhà
nước 187,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,7% và tăng 24,8%; vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17,1%.
Trong vốn nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sánh nhà nước (gồm vốn dự án và
chương trình mục tiêu) ước tính thực hiện 97 nghìn tỷ đồng, bằng 101,6% kế hoạch
năm, trong đó vốn do địa phương quản lý 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 107,2%, vốn
trung ương quản lý đạt thấp hơn so với dự toán, chỉ bằng 92,2%; vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước ước tính 40,3 nghìn tỷ đồng, đạt kế hoạch năm và vốn
14
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
của các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức nhà nước khác khoảng 62,7 nghìn
tỷ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3 tỷ
USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốn
cấp phép mới là 17,86 tỷ USD.
2.1.1.3. Thu, chi ngân sách Nhà nước.

rừng nên diện tích rừng của cả nước năm 2007 ước tính đạt gần 12,85 triệu ha, tăng
311 nghìn ha so với năm 2006, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 37,9% năm 2006 lên
38,8% năm 2007 (kế hoạch 39%).
c. Thủy sản.
Giá trị sản xuất thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt
46,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2006, trong đó nuôi trồng tăng 16,5%;
khai thác tăng 2,1%. Sản lượng thủy sản cả năm ước tính đạt 4,15 triệu tấn, tăng
11,5% so với năm 2006, trong đó nuôi trồng 2,09 triệu tấn, tăng 23,1%, do tăng cả
diện tích và năng suất (nhất là các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long);
sản lượng khai thác 2,06 triệu tấn, tăng 1,8%. Trong tổng số, sản lượng cá chiếm tỷ
trọng 74%, tương đương với 3,1 triệu tấn và tăng tới 13,5%, sản lượng tôm đạt
khoảng 500 ngàn tấn và chỉ tăng ở mức 7,6%.
2.1.1.5. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng
17,1% so với năm 2006, bao gồm khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,3%, khu
vực ngoài Nhà nước, tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2007 tăng cao so với năm 2006 là:
Máy công cụ tăng 69,8%; ô tô tăng 52,8%; điều hòa nhiệt độ tăng 51,9%; động cơ
điện tăng 24,3%; xe máy các loại tăng 23,9%; máy giặt tăng 21,3%; bia tăng 19,2%;
quạt điện tăng 18,6%. Bên cạnh đó, có một số sản phẩm tăng không cao, thậm chí còn
bị giảm như: Thủy sản chế biến tăng 12,6%; xi măng tăng 11,8%; than sạch tăng
11,5%; thép cán tăng 10,8%; dầu thô giảm 7,8%; khí hoá lỏng giảm 10,2%.
2.1.1.6. Thương mại, vận tải và du lịch.
a) Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước tính đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng
21,5% so với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng (kể cả xuất
khẩu dầu thô tăng 2,6%, do giá tăng).
16
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
Giá trị hàng hóa nhập khẩu năm 2007 ước tính đạt 60,8 tỷ USD, tăng 35,5%

lượt người, chiếm 15,9% và tăng 17%; thăm thân nhân 601 nghìn lượt người, chiếm
14,2% và tăng 7,1%; riêng khách đến với mục đích khác giảm 7,7%.
Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu về lượng khách đến Việt Nam, ước tính đạt
574,6 nghìn lượt người, chiếm 13,6% trong tổng số khách đến và tăng 11,3% so với
năm trước.
2.1.2.Tình hình kinh tế năm 2008:
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và
trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Giá dầu thô và giá nhiều loại
nguyên liệu, hàng hoá khác tăng mạnh kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết
các mặt hàng trong nước; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh
tế lớn suy thoái.
2.1.2.1. Tổng sản phẩm trong nước.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính
tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng
3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%.
Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994.
Tốc độ tăng so với
năm trước (%)
Đóng góp của mỗi
khu vực vào tăng

trưởng 2008
2006
2007 2008
Tổng số 8,23
8,48 6,23 6,23
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 3,69

Khu vực Nhà nước 184,4 28,9 88,6
Khu vực ngoài Nhà nước 263,0 41,3 142,7
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 189,9 29,8 146,9

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt
100,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 102,8% kế hoạch
năm.
2.1.2.3. Thu, chi ngân sách Nhà nước :
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2008 ước
tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8% dự toán năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm
2007 và bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 118,3%
(riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 114,7%); chi sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc
phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 113,3%; chi trả nợ và viện
trợ bằng 100%. Các khoản chi thường xuyên đều đạt hoặc vượt dự toán năm, trong
đó chi sự nghiệp kinh tế bằng 145,3% dự toán năm; chi thể dục thể thao bằng
123%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 120,7%; chi giáo dục, đào tạo, dạy
nghề bằng 104,6%; chi y tế bằng 104,1%
19
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi và
bằng 97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong
đó 77,3% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 22,7% được bù đắp từ nguồn
vay nước ngoài.
2.1.2.4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 theo giá so sánh
1994 ước tính đạt 212,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2007, bao gồm giá trị
sản xuất nông nghiệp đạt 155,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4%; giá trị sản xuất lâm
nghiệp đạt 6,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2% ; giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 50,1 nghìn tỷ
đồng, tăng 6,7%. Tình hình sản xuất cụ thể từng ngành như sau:

ra tình trạng tồn đọng số lượng lớn cá tra đến kỳ thu hoạch trong các hộ. Chính phủ
đã chỉ đạo ngân hàng cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản vay vốn với lãi suất
thấp để thu mua cá tra nguyên liệu nên đã góp phần tích cực giải quyết khó khăn
cho các hộ nuôi. Sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2008 ước tính đạt 2134 nghìn
tấn, tăng 2,9% so với năm 2007, trong đó khai thác biển đạt 1938 nghìn tấn, tăng
3,3%.
2.1.2.5. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng
14,6% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 4%; khu vực kinh
tế ngoài Nhà nước tăng 18,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%, trong
đó dầu khí giảm 4,3%. Trong các ngành công nghiệp, giá trị sản xuất ngành công
nghiệp chế biến năm 2008 ước tính đạt 580,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với năm
2007, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành với 88,9%;
ngành công nghiệp điện, ga và nước đạt 37 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4%, chiếm 5,7%;
giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp khai thác đạt 35,6 nghìn tỷ đồng, giảm
3,5% do lượng dầu thô khai thác giảm, chiếm tỷ trọng 5,4%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2008 phục vụ tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu vẫn duy trì được tốc độ tăng cao so với năm 2007 là: Xe tải
tăng 40,6%; xe chở khách tăng 38,3%; thủy hải sản chế biến tăng 29,1%; máy
giặt tăng 28%; quần áo người lớn tăng 27,7%; biến thế điện tăng 22,6%; tủ lạnh,
tủ đá tăng 22,2%; sữa bột tăng 18,6%; nước máy thương phẩm tăng 15,2%; ti vi
tăng 15%; giày thể thao tăng 14,6%; điện sản xuất tăng 12,3%; xi măng tăng
9,6%.
2.1.2.6. Thương mại, vận tải và du lịch.
21
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
Hoạt động thương mại và dịch vụ năm 2008 kém sôi động so với năm 2007
do giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng cao, dẫn đến sức mua trong dân giảm đáng kể,
sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chậm.
a) Xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.

27,6 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại của cả nước tính đến hết tháng
12 năm 2008 lên 79,4 triệu thuê bao (điện thoại cố định 13,1 triệu thuê bao), tăng
53,1% so với số thuê bao có đến cuối năm 2007.
Thị trường Internet vẫn tiếp tục phát triển, số thuê bao Internet mới trong
năm 2008 ước tính đạt 1,5 triệu thuê bao, tăng 27,8% so với năm 2007, nâng tổng
số thuê bao Internet có đến cuối tháng 12 năm 2008 lên 6,7 triệu thuê bao, tăng
28,4% so với tổng số thuê bao có tại thời điểm cuối năm trước. Số người sử dụng
Internet tính đến cuối năm 2008 ước tính 20,8 triệu người, tăng 12% so với thời
điểm cuối năm 2007.
d) Du lịch.
Số khách quốc tế đến nước ta năm 2008 ước tính đạt 4,3 triệu lượt người,
tăng 0,6% so với năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng
đạt 2,6 triệu lượt người, tăng 1%; đến vì công việc 844,8 nghìn lượt người, tăng
25,4%; thăm thân nhân đạt 509,6 nghìn lượt người, giảm 15,2%; khách đến với
mục đích khác đạt 267,4 nghìn lượt người, giảm 23,3%. Số khách quốc tế đến nước
ta bằng đường hàng không đạt 3,3 triệu lượt người, giảm 0,5% so với năm 2007;
đường bộ 813,3 nghìn lượt người, tăng 15,6%; đường biển 157,2 nghìn lượt người
giảm 30,1%.
2.1.3.Tình hình kinh tế năm 2009.
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách
thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy
kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu,
thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-
xã hội khác của nước ta.
23
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
2.1.3.1 Tổng sản phẩm trong nước.
Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm:
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%.

năm 2009 ước tính đạt 10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008.
24
GVHD: Ts. Hoàng Trọng Sao Lớp HP 231001301
2.1.3.3. Thu, chi ngân sách Nhà nước.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt xấp
xỉ dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng
86,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6%. Trong
thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 88,8%; thu thuế công,
thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng
87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí bằng 90,8%.
Tổng chi ngân sách ước tính đạt 96,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư
phát triển đạt 95,2% chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 99,6%; chi trả nợ và viện trợ đạt 102,7%.
Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2009 ước tính bằng 7% GDP, thực hiện được
mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% mức bội chi được bù đắp bằng nguồn
vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.
2.1.3.4.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2009 theo giá
so sánh 1994 đạt 97,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước; đến 6
tháng cuối năm đã đạt 122,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,16% so với 6 tháng cuối năm
2008.
a) Nông nghiệp.
Năm 2008 được mùa lớn với sản lượng lúa đạt 38,7 triệu tấn, tăng 2,8 triệu
tấn so với năm 2007 và là năm sản lượng lúa đạt mức cao nhất trong 12 năm trước
đó. Diện tích và sản lượng các loại cây hàng năm khác đạt thấp, thậm chí một số
loại cây trồng còn giảm sút so với năm 2008 do vụ đông bị bão, lũ Diện tích chè
năm 2009 đạt 128,1 nghìn ha, tăng 2,6 nghìn ha so với năm trước; cà phê 537 nghìn
ha, tăng 6,1 nghìn ha; cao su 674,2 nghìn ha, tăng 42,8 nghìn ha; hồ tiêu 50,5 nghìn ha,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status