ĐỀ TÀI
Đồ án xây dựng nội quy
phòng cháy và chữa cháy
Giáo viên thực hiện :
Sinh viên thực hiện :
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn bản là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Trong hoạt
động quản lý nó vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của quá trình quản lý được
dùng để ghi chép và truyền đạt các thông tin, các quyết định quản lý từ hệ thống
quản lý đến hệ thống bị quản lý và ngược lại.
Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đế
n nay, qua các thời kỳ khác nhau,
Nhà nước ta đã có nhiều văn bản nói về vấn đề soạn thảo, xử lý và sử dụng văn bản
trong hoạt động của các cơ quan của bộ máy quản lý. Đã có một số tài liệu hướng
dẫn được ban hành nhằm đưa công tác này vào nền nếp. Tuy vậy, cho đến nay đây
vẫn còn là một lĩnh vực cần phải tiếp tục nghiên cứu.
Đặ
c biệt trong tình hình hiện nay khi chúng ta đang chuyển sang cơ chế mới
trong quản lý, khi nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa đang trở nên cấp thiết thì việc nghiên cứu vấn đề soạn thảo xử lý văn bản
trong hoạt động quản lý ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Hiện nay, nền kinh tế tiếp tục được củng cố và phát triển theo hướng công
trong các cơ sở trên 4 nộ
i dung là nội dung, hình thức, thẩm quyền và thủ tục ban
hành nội quy PCCC. Trong mỗi phần đề tài đã phân tích, làm rõ từng mặt ưu,
nhược điểm của các nội quy PCCC hiện nay.
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN NỘI QUY PCCC TRONG CÁC CƠ SỞ
Từ lý luận chung của chương 1, kết quả nghiên cứu của chương 2, chương 3
của đề tài đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện nội quy PCCC. Đây là những giải
pháp hết s
ức thiết thực và chắc chắn khi được áp dụng sẽ giúp các cơ sở soạn thảo
nội quy PCCC đảm bảo tính hợp lý và hợp pháp. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG PCCC
1.1. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG XÃ HỘI.
Với bản chất, những đặc điểm đặc thù của mình, pháp luật có nhiều vai trò
trong đời sống Nhà nước, đời sống xã hội, trong đó có những vai trò cơ bản là:
1.1.1. Pháp luật là cơ
sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực
Nhà nước.
Một trong những nguyên lý đã được khẳng định là Nhà nước không thể tồn
tại thiếu pháp luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có
sức mạnh của bộ máy Nhà nước. Bộ máy Nhà nước là một thiết chế phức tạp bao
gồm nhiều bộ phận (Nhiều loại cơ
quan Nhà nước). Để bộ máy đó hoạt động có
hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng - thẩm quyền trách nhiệm của mỗi
loại cơ quan: Mỗi cơ quan phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng, phải có
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
ồm nhiều vấn đề nhiều mối quan hệ mà Nhà nước cần xác lập. Điều hành và
kiểm soát như hoạch định chính sách kinh tế, xác định chỉ tiêu kế hoạch Toàn bộ
quá trình tổ chức và quản lý đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của Nhà nước nhằm
tạo ra một cơ chế đồng bộ, thúc đẩy quá trình phát triển đúng hướng của nền kinh
tế và mang lạ
i hiệu quả thiết thực.
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
Do tính phức tạp và phạm vi rộng của chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước
không thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà chỉ thực hiện việc
quản lý ở tầm vĩ mô và mang tính chất hành chính - kinh tế. Quá trình quản lý kinh
tế không thể thực hiện nếu không dựa vào pháp luật. Chỉ trên cơ sở một hệ thống
văn b
ản pháp luật kinh tế đầy đủ, đồng thời, phù hợp với thực tiễn (điều kiện và
trình độ phát triển của kinh tế xã hội) và kịp thời trong mỗi thời kỳ cụ thể, Nhà
nước mới có thể phát huy được hiệu lực của mình trong lĩnh vực tổ chức và quản
lý kinh tế, xã hội.
1.1.3. Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới.
Bên cạ
nh chức năng phản ánh, pháp luật còn có tính tiên phong định hướng
cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Có thể nói, pháp luật có vai trò quan
trọng trong việc tạo dựng (lập) ra những quan hệ mới. Trên cơ sở xác định thực
trạng xã hội với những tình huống (sự kiện) cụ thể điển hình, tồn tại và tái diễn
thường xuyên ở những thời điểm cụ thể trong xã hội, Nhà n
ước đề ra pháp luật để
điều chỉnh kịp thời và phù hợp. Nhưng cuộc sống vốn sống động và thực tiễn
thường diễn ra với những thay đổi thường xuyên. Tuy nhiên về căn bản những thay
đổi đó vẫn diễn ra theo những quy luật nhất định mà con người có thể nhận thức
được.
bóng”. Nhưng đó là nói ở góc độ chung. Khi tiệm cận ở góc độ cụ thể, pháp luật có
những nét riêng căn bản. Đó là, khi pháp luật phản ánh đúng những lợi ích của dân
tộc, của nhân dân thì dù chế độ Nhà nước nào cũng phải tôn trọng. Nếu đi ngược
lại đ
iều đó là ngược lại với lợi ích của dân tộc. Của nhân dân và bị nhân dân phản
đối. Không tôn trọng, không chấp hành. Xét ở góc độ này, pháp luật luôn có vai trò
giữ gìn sự ổn định và trật tự xã hội. Sự ổn định của mỗi quốc gia là điều kiện quan
trọng để tạo ra niềm tin, là cơ sở để mở rộng các mối quan hệ bang giao giữa các
nước ngày càng lớn và nộ
i dung tính chất của các quan hệ đó ngày càng đa diện
(nhiều mặt). Cơ sở cho việc thiết lập và củng cố các mối quan hệ bang giao đó là
pháp luật (Pháp luật quốc tế và pháp luật nội quốc). Xuất phát từ nhu cầu đó, hệ
thống pháp luật của mỗi nước cũng có bước phát triển mới. Bên cạnh những văn
bản pháp luật quy định và điều chỉnh các quan h
ệ xã hội có liên quan đến các chủ
thể pháp luật trong nước còn cần có đầy đủ các văn bản pháp luật quy định và điều
chỉnh các quan hệ có liên quan đến các chủ thể là người (tổ chức) nước ngoài có
quan hệ với các chủ thể trong nước.
Như vậy muốn thực hiện tốt sự quản lý Nhà nước, đẩy nhanh sự phát triển
của xã hội, mở rộng quan hệ và hợp tác v
ới các nước xây dựng một hệ thống pháp
luật toàn diện, đầy đủ và đồng bộ, phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh trong
nước, đồng thời phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh trong nước, đồng thời
phù hợp với xu hướng phát triển chung với tình hình Quốc tế và khu vực.
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG HOẠT ĐỘNG PCCC.
1.2.1. Khái niệm pháp luật.
B. Cơ cấu của quy phạm pháp luật.
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
Một quy phạm pháp luật đầy đủ gồm 3 phần là phần giả định, phần quy định
và phần chế tài.
1. Giả định:
Là một bộ phận quy phạm pháp luật nêu lên phạm vi tác động của quy phạm
pháp luật, nghĩa là nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra. Trong cuộc
sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào những hoàn cảnh sự kiệ
n đó phải chịu sự
tác động của quy phạm pháp luật đó. Nội dung bộ phận giả định của quy phạm
pháp luật thường nói tới chủ thể (tổ chức hay cá nhân). Phạm vi thời gian, không
gian (địa điểm), những hoàn cảnh, tình huống, điều kiện nhất định của đời sống xã
hội
Ví dụ: “Mọi tổ chức và cá nhân sử dụng đất nông nghiệ
p và các loại đất
khác vào sản xuất nông nghiệp thì phải nộp thuế nông nghiệp”. Trong quy phạm
này bộ phận giả định là “mọi tổ chức và cá nhân sử dụng đất nông nghiệp và các
loại đất khác vào sản xuất nông nghiệp”. Phần này nêu lên chủ thể là “Mọi tổ chức,
cá nhân” trong hoàn cảnh, điều kiện “sử dụng đất nông nghiệp và các loại đất khác
vào sản xuất nông nghiệp”.
B
ộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ chức, cá
nhân nào khi nào? (trong những hoàn cảnh, điều kiện nào?).
Thông qua bộ phận giả định của quy phạm pháp luật chúng ta biết được tổ
chức, cá nhân nào khi ở vào những hoàn cảnh, điều kiện nào thì phải thực hiện quy
phạm pháp luật đó. Việc xác định tổ chức, cá nhân và những hoàn cảnh, điề
u kiện
nào để để tác động là phụ thuộc ý chí của Nhà nước. Những chủ thể hoàn cảnh,
điều kiện nêu trong giả định, phải rõ ràng, chính xác, sát với tình hình thực tế,
Thông qua b
ộ phận quy định của quy phạm pháp luật các chủ thể pháp luật mới
biết được là nếu như họ ở vào hoàn cảnh điều kiện đã nêu trong phần giả định của
quy phạm pháp luật thì họ phải làm gì? Như vậy, bộ phận quy định của quy phạm
pháp luật đã thiết lập cho các chủ thể tham gia quan hệ xã hội mà quy phạm pháp
luật điều chỉ
nh có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
Chế tài:
Là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
mà Nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Các
biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật sẽ được áp dụng
đối với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh
l
ệnh của nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.
Ví dụ: Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm
nhục người lệ thuộc mình, làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy
năm (khoản 1 Điều 100 Bộ luật hình sự 1999). Bộ phận chế tài của quy phạm là:
“thì bị phạt từ
hai năm đến bảy năm”.
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
Bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Hậu quả sẽ như
thế nào nếu vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng những mệnh lệnh của nhà
nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật?
Chế tài pháp luật là điều kiện đảm bảo cần thiết cho những quy đị
nh của
Nhà nước được thực hiện chính xác, triệt để. Do vậy các biện pháp nêu trong chế
tài là những biện pháp cưỡng chế gây hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm luật,
không làm đúng những mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của
b- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các văn bản quy phạm pháp
luật chia làm hai loại là văn bản luật và văn bản dưới luật.
* Văn bản luật.
Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan cao Nhất
của quyền lực nhà nước ban hành. Trình tự, thủ tụ
c và hình thức của văn bản luật
được quy định: Điều 84, 88, 147 Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà xã hội Việt Nam.
Các vấn đề cụ thể về tổ chức soạn thảo, kiểm định, xem xét, lấy ý kiến các cơ
quan, tổ chức và nhân dân. Thông qua và công bố văn bản theo hiến pháp được
quy định đầy đủ trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
*Văn bản luật có hình thứ
c là hiến pháp và luật (hoặc bộ luật):
Hiến pháp (bao gồm hiến pháp và các đạo luật về bổ sung hay sửa đổi Hiến
pháp) quy định và các đạo luật về bổ sung hay Nhà nước như: Hình thức và bản
chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội.
Luật (Bộ luật), nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng quy phạm pháp. Luật
là nhữ
ng văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất ban hành để cụ thể hoá hiến pháp nhằm điều chỉnh các loại Quan hệ xã
hội trong các lĩnh vực hoạt động cửa Nhà nước.
.
* Văn bản dưới luật (văn bản quy phạm pháp luật dưới luật):
Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ
quan Nhà
Nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định. Những
văn bản dưới luật có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật. Vì vậy, khi ban hành
phải chú ý sao cho những quy định của chúng phải phù hợp với những quy định
đối với các cấp d
ưới. Đó là hình thức để cụ thể hoá pháp luật; là phương tiện để
điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước. Văn bản
quản lý Nhà nước do cơ quan Nhà nước ban hành và sửa đổi theo Luật định.
Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của Nhà nước các cơ quan Nhà Nước,
ban hành và sử dụng các loại văn bản dưới đây.
- Vă
n bản quy phạm pháp luật (văn bản pháp quy) Văn bản quy phạm pháp
luật phụ ( văn bản pháp quy phụ).
- Các loại văn bản hành chính thông thường.
- Văn bản chuyên môn, kỹ thuật.
Quản lý Nhà nước bao gồm nhiều nội dung trong đó có nội dung quản lý
Nhà nước về phòng cháy và chữa cháy. Qua nghiên cứu các quan điểm của Đảng,
Nhà nước ta về công tác quản lý, quản lý nhà nước đối với các hoạt động phòng
cháy và chữ
a cháy là: Quản lý Nhà nước về phòng cháy và chữa cháy là hoạt động
của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong việc thực hiện
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
các quy định của Nhà nước về các hoạt động phòng cháy và chữa cháy nhằm đảm
bảo công tác phòng cháy và chữa cháy theo đúng quỹ đạo của pháp luật. Bảo đảm
an ninh trật tự an toàn xã hội.
Để quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy, các cơ quan Nhà nước sử
dụng hệ thống các văn bản quản lý trong công tác phòng cháy và chữa cháy. Trong
đó sử dụng chủ yếu hai loại là văn bản pháp quy và văn bả
n pháp quy phụ.
A. Văn bản quy phạm pháp luật (pháp quy) trong quản lý Nhà nước về
Phòng cháy chữa cháy.
“Văn bản pháp quy” và vì hiệu lực pháp lý của chúng phụ thuộc vào văn bản pháp
quy chính nên mới có từ “ph
ối ghép sau tập hợp từ”, văn bản pháp quy thành “ văn
bản pháp quy phụ”. Hiệu lực của văn bản pháp quy phụ lệ thuộc vào văn bản
chính. Cho nên muốn biết văn bản pháp quy phụ có hiệu lực cao hay thấp phải căn
cứ vào hiệu lực của văn bản chính đã ban hành ra nó đã xác định. Văn bản pháp
quy phụ rất đa dạng về hình thức, hiện nay được sử
dụng với nhiều tên gọi khác
nhau như:
- Nội quy PCCC (nghiên cứu ở phần sau).
- Quy chế PCCC.
- Quy định PCCC. c. Nội quy phòng cháy chữa cháy:
*Nhận thức chung về nội quy phòng cháy chữa cháy.
+ Khái niệm.
Nội quy là loại văn bản do thủ trưởng các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp
ban hành để điều chỉnh các hoạt động nội bộ bằng cách cụ thể hoá Pháp luật hiện
hành trong lao động, trong qu
ản lý hành chính, bảo đảm an toàn kỹ thuật trong vận
hành máy móc, vệ sinh công cộng, trong đón tiếp khách
Đời sống cộng đồng xã hội đòi hỏi phải đặt ra rất nhiều những quy tắc xử sự
khác nhau để điều chỉnh hành vi của con người. Những quy tắc xử sự ấy được sử
dụng nhiều lần trong đời sống xã hội chúng được gọi là quy phạm.
Trong những quy phạ
m mà con người đặt ra được chia thành 2 loại:
- Quy phạm kỹ thuật.
- Quy phạm xã hội.
Quy phạm kỹ thuật là các tiêu chuẩn quy định về quy trình khởi động, vận
động đến tất cả mọi người trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Ví dụ: Tất cả mọi người ra vào nhà máy thuốc lá Thăng long đều phải tuân
theo nội quy ra vào cổng của Công ty này.
- Nội quy không mang tính quyền lực Nhà nước do các tổ chức chính trị xã
hội, tôn giáo lập ra.
Ví dụ: Nội quy sinh hoạt đoàn, nội quy sinh hoạt hội cựu Chiến Binh, nội
quy sinh hoạt hội sinh vật cảnh
Khác v
ới nội quy mang tính quyền lực nhà nước, nội quy loại này có các
quy tắc xử sự chỉ có thể tác dụng trong một phạm vi hẹp, dưới những phương thức
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
“nhẹ nhàng” hơn và được bảo đảm bằng dư luận xã hội, chứ không phải bằng
quyền lực Nhà nước.
Sự khác nhau giữa hai loại nội quy này là một loại có mang tính quyền lực
Nhà nước, một loại không có tính quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, hai loại nội quy
này không nhất thiết phải do 2 loại chủ thể ban hành mà một chủ thể có thể ban
hành cả hai loạ
i nội quy trên.
Ví dụ: Trung ương Đoàn là một tổ chức chính trị, có thể ban hành các nội
quy không mang tính quyền lực Nhà nước như nội quy sinh hoạt đoàn cho đoàn
viên nhưng cũng ban hành nội quy mang tính quyền lực nhà nước như nội quy ra
vào cơ quan đặt tại trụ sở của trung ương Đoàn.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ xét đến nội quy mang tính quyền
lực nhà nước. Khái niệm nội quy này như sau: N
ội quy là hình thức văn bản được
dùng để thủ trưởng cơ quan, đơn vị của Nhà nước cụ thể hoá pháp luật về kỷ luật
lao động, bảo hộ lao động, kỷ luật an toàn vệ sinh công nghiệp cần phải thực hiện
trong cơ quan, đơn vị. Nội quy chỉ có hiệu lực trong phạm vi cơ quan mà người
ban hành quản lý.
Những nội quy mà trong đó không ghi rõ thời điểm phát sinh hiệu lực thì
thời điểm phát sinh hiệu lự
c của nội quy là ngày ký ban hành. Thời điểm chấm dứt
hiệu lực của nội quy cũng được xác lập theo hai cách. Nếu trong nội quy ghi rõ
thời hạn hiệu lực, thì đến thời điểm xác định đó nội quy sẽ chấm dứt hiệu lực của
mình. Đối với các nội quy không có điều khoản xác định rõ điều đó thì nó chỉ
chấm dứt hiệu lực toàn b
ộ hay một phần khi có một văn hóa mới thay thế nó, hoặc
có một số quy phạm mới được ban hành thay thế nó.
Trong nội quy PCCC thường có điều cuối cùng xác định thời điểm phát sinh
hiệu lực kể từ ngày ký. Hoặc nếu không có điều này thì thời điểm phát sinh hiệu
lực là lúc toàn thể cán bộ, công nhân viên trong cơ sở nhận được bản nội quy
PCCC hay được phổ biền về b
ản nội quy PCCC này.
Nội quy PCCC chỉ hết hiệu lực khi có quyết định huỷ bỏ hoặc có quyết định
ban hành nội quy PCCC mà thay nội quy PCCC cũ cho phù hợp với sự thay đổi
đặc điểm nguy hiểm cháy nổ của cơ sở.
Phạm vi điều chỉnh của nội quy về không gian là khoảng không gian mà nội
quy được đem ra để áp dụng. Nói cách khác, đó chính là khoảng không gian mà
nội quy có khả năng tác động t
ới những đối tượng có liên quan. Khoảng không
gian mà nội quy được đem ra để áp dụng chính là phạm vi địa giới hành chính của
cơ quan, đơn vị, tổ chức, khu dân cư
Như vậy, phạm vi điều chỉnh theo không gian của nội quy chỉ có trong phạm
vi lãnh thổ, trong địa giới hành chính của cơ quan mà người ban hành nội quy quản
lý.
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
Ví dụ, phạm vi điều chỉnh về không gian của nội quy của bến xe là địa giới
hành chính của toàn bến xe. Nội quy của nhà máy có phạm vi điều chỉnh là địa giới
trong toàn cơ sở. Các đối tượng nằm trong phạm vi điều chỉnh của nội quy nói
chung và nội quy PCCC nói riêng bị rằng buộc về mặt pháp lý với nội quy. Khi đối
tượng trong điều chỉnh của nội quy vi phạm nội quy thì bị xử lý theo quy định của
pháp luật.
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
Ví dụ, hành khách mang chất nổ lên tầu, vi phạm nội quy có quy định “cấm
hành khách mang chất cháy, nổ lên tầu” thì hành khách bị xử lý theo quy định của
pháp luật.
+ Nội dung nội quy PCCC.
Hiện nay nội quy được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi, nhiều ngành trong các
cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị trường học trong đời sống xã hội như nội quy ra
vào cơ quan, nội quy bế
n xe, nội quy sinh hoạt trong cơ quan, nội quy phòng học
Bởi vậy, nội quy có nội dung rất đa dạng và phóng phú. Nội dung nội quy là các
quy phạm pháp luật quy định về kỷ luật lao động, bảo hộ lao động, kỷ luật an toàn
và vệ sinh công nghiệp. Tuy đa dạng phong phú về nội dung, nhưng nội dung của
mỗi nội quy phải phù hợp với đối tượng và phạm vi điều chỉnh củ
a nội quy. Nói
cách khác đối tượng và phạm vi điều chỉnh của nội quy quy định nội dung nội quy.
Chẳng hạn, cùng có đối tượng là hành khách đi tàu nhưng phạm vi điều chỉnh của
nội quy Ga tàu và phạm vi điều chỉnh của toa tàu là khác nhau, do đó nội dung nội
quy ga tàu và nội dung nội quy toa tàu là hoàn toàn khác nhau.
Nội dung nội quy là phần chủ yếu. Tuỳ theo từng vấn đề, mục đích hình thức
nội dung mà l
ựa chọn các kết cấu nội dung, hình thức văn phong nhằm đảm bảo
cho nội quy có hiệu lực và hiệu quả.
Mỗi nội quy có nội dung riêng nhưng về nguyên tắc cấu trúc nội dung nội
quy bao gồm hai nội dung chính:
- Cấm các hành vi xâm hại đến quyền lợi, lợi ích, mối quan hệ hợp pháp của
trong các nội quy PCCC hoặc gắn vào các quy định khác như quy định an toàn,
quy đị
nh thường trực bảo vệ cơ quan
Cấu trúc nội dung nội quy cũng gồm hai nội dung chính như sau:
- Cấm hành vi gây nguy hiểm cháy nổ cho cơ sở bao gồm cấm sử dụng
nguồn nhiệt trong môi trường nguy hiểm cháy nổ, cấm sử dụng chất cháy trong
môi trường của cơ sở có sẵn nguồn nhiệt. Việc cấm sử dụng chất cháy, nguồn nhiệt
được quy định trong tất c
ả các khâu từ sản xuất, vận chuyển, bảo quản và sử dụng.
Ví dụ: Trong nội quy PCCC cửa hàng xăng dầu có quy phạm quy định “Cấm
hút thuốc lá, bật diêm lửa khi vào mua xăng dầu”.
- Hướng dẫn mọi người phòng ngừa không để cháy nổ xảy ra, hoặc khi có
cháy, nổ xẩy ra thì dập tắt kịp thời.
Ví dụ, khi hệ thống điện có sự cố chạm chập mất
điện, không được tự ý sửa
chữa, phải cắt điện và báo cho người có trách nhiệm đến sửa chữa.
Nội dung hướng dẫn mọi người phòng ngừa không để cháy nổ xảy ra bao
gồm có hướng dẫn sử dụng nguồn nhiệt, sử dụng chất cháy hoặc hướng dẫn mọi
người thực hiện theo đúng các quy trình an toàn như quy trình vận hành lò hơi, quy
trình vận hành máy phát đi
ện trong nhà máy nhiệt điện Trong các quy định này
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
có hướng dẫn cụ thể cách khởi động, vận hành và dừng thiết bị đảm bảo an toàn
PCCC.
Để đảm bảo nâng cao tính thường trực sẵn sàng chữa cháy nội dung nội quy
còn quy định về việc bảo quản, bảo dưỡng và sử dụng phương tiện chữa cháy tại
chỗ của cơ sở như bình chữa cháy, thiết bị báo cháy, chữa cháy tự
động
Khi có cháy xảy ra cần phải dập tắt kịp thời, do đó nội dung nội quy PCCC
Các bảng nội quy PCCC tương tự như các bảng nội quy khác. Tuy nhiên
bảng nội quy PCCC có điểm riêng là màu nền của bảng thường là màu đỏ, chữ
màu vàng.
+ Quy trình, thẩm quyền ban hành nội quy PCCC.
Là hình thức văn bản pháp quy phụ, quy trình ban hành nội quy trải qua các
bước sau:
1. Khảo sát, soạn thảo nội quy.
2. Lãnh đạo duyệt nội dung.
3. Quyết định ban hành nội quy.
4. Phổ biến, t
ổ chức thực hiện nội quy.
Thẩm quyền ban hành nội quy là do thủ trưởng, người đứng đầu các cơ quan
đoàn thể, doanh nghiệp chịu trách nhiệm ban hành. Thủ trưởng, người đứng đầu cơ
quan, đoàn thể, doanh nghiệp có thể uỷ quyền cho cấp dưới thay mình ban hành
nội quy.
Là một dạng của nội quy, khi ban hành nội quy PCCC cũng cần phải tuân
theo quy trình trên. Trong đó, nội dung cơ bản của mỗi
bước như sau: khảo sát,
soạn thảo nội quy PCCC.
Trong giai đoạn này người soạn thảo có trách nhiệm khảo sát toàn bộ đặc
điểm nguy hiểm cháy nổ của toàn cơ sở, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định phù
hợp để đảm bảo an toàn PCCC, những quyết định đó được soạn thảo thành các
điều mục trong nội quy PCCC.
Lãnh đạo duyệt nộ
i dung nội quy PCCC.
Trong giai đoạn này người soạn thảo trình dự thảo lên lãnh đạo (người chịu
trách nhiệm) trong cơ sở để duyệt nội dung.
Ký ban hành nội quy PCCC.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 35/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của luật phòng cháy và chữa cháy quy định : “Người đứng đầu cơ
các cơ quan quản lý và cá nhân có quan hệ theo phạm vi hoạt động của mình. Để
xác định rõ hơn vai trò của nội quy PCCC trong quản lý công tác PCCC, xét cụ thể
vai trò của nội quy PCCC trong các hoạt động sau:
+ Nội quy PCCC là cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện các ho
ạt động PCCC
trong đơn vị.
- Khoản 3 Điều 5 luật phòng cháy và chữa cháy ban hành ngày 20 tháng 6
năm 2001 quy định: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình là người
chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động phòng cháy và chữa cháy trong phạm vi
trách nhiệm của mình”.
- Cụ thể hơn trong khoản 2 Điều 3 Nghị định số 35 của Chính phủ ban hành
ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành m
ột số điều của luật phòng cháy và chữa
cháy quy định: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, trong phạm vi quản lý và nhiệm
Đồ án xây dựng nội quy phòng cháy và chữa cháy
vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm: Tổ chức thực hiện các quy định, nội quy,
điều kiện an toàn theo quy định của pháp luật ”.
Trong khoản 2 Điều 4 của Nghị định này quy định: “Chủ hộ gia đình có
trách nhiệm: Đôn đốc nhắc nhở các thành viên trong gia đình thực hiện quy định,
nội quy về đảm bảo an toàn phòng cháy và chữa cháy”.
Như v
ậy trách nhiệm tổ chức thực hiện nội quy PCCC trước hết thuộc về
người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình. Trên cơ sở chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và đặc điểm của cơ sở mình quản lý để có những quyết định
tổ chức thực hiện phù hợp.
Thực hi
ện công tác PCCC, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định
thành lập đội PCCC cơ sở, trong quyết định này quy định rõ chức năng, nhiệm vụ
đội PCCC cơ sở.
ng kiến thức cho quần
chúng về công tác phòng cháy và chữa cháy, giáo dục ý thức trách nhiệm trong
việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ con người, bảo vệ kinh tế, tài sản không bị cháy,
nổ thiêu huỷ.
Tuyên truyền, vận động quần chúng PCCC là loại công tác giải quyết tư
tưởng, nâng cao nhận thức và kiến thức PCCC, do đó cần có cơ sở pháp lý để
tuyên truyền.
Cơ sở pháp lý để tuyên truyền về công tác PCCC bao gồ
m nhiều loại khác
nhau từ Luật phòng cháy và chữa cháy, các Nghị định về công tác PCCC, các tiêu
chuẩn đảm bảo an toàn PCCC và đặc biệt là nội quy an toàn PCCC tại các cơ sở.
Nội quy an toàn PCCC tại các cơ sở là các văn bản đã được nghiên cứu và xây
dựng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm nguy hiểm cháy nổ của cơ sở. Do đó, nội
quy an toàn PCCC vừa có vai trò là cơ sở pháp lý để quản lý và cũng là cơ sở khoa
h
ọc để tuyên truyền vận động trong công tác phòng cháy và chữa cháy. Nội dung
của nội quy PCCC có chứa đựng các quy phạm pháp luật, các quy phạm pháp luật
được đưa ra sau khi đã nghiên cứu kỹ đặc điểm nguy hiểm cháy nổ của cơ sở (từ
chất cháy, nguồn nhiệt, điều kiện tiếp xúc) nghiên cứu kỹ đặc điểm làm việc của
mọi người trong cơ sở. Đây là những quy ph
ạm cần tuyên truyền, hướng dẫn để
quần chúng nắm rõ hơn, kỹ hơn, từ đó vận dụng sáng tạo các quy phạm pháp luật
này vào thực tế sinh động hơn.
Đối tượng tuyên truyền về công tác PCCC trong các cơ sở chủ yếu là các
cán bộ, công nhân viên trong cơ quan, nội dung tuyên truyền là các đặc điểm cháy
nổ của cơ sở, do đó cần đưa ra những phương pháp, biện pháp để thự
c hiện công
tác PCCC, trong đó, nội quy PCCC là những điều cần phải làm để thực hiện công
tác này. Trong khi tuyên truyền, phân tích kỹ các quy phạm pháp luật trong nội
quy PCCC giúp cho đối tượng được tuyên truyền hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề,