Tiểu luận môn kinh tế vi mô
Đề tài
"Lạm phát"
1
MỤC LỤC
Tiểu luận môn kinh tế vi mô 1
Đề tài 1
"Lạm phát" 1
MỤC LỤC 2
2. Đo lường 3
Lạm phát thấp Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3.0 đến 7.0
phần trăm một năm 6
Lạm phát cao (Lạm phát phi mã) Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá
hai chữ số một năm, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát 6
Siêu lạm phát 6
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh
chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát
được chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạm phát hàng tháng
từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi). Theo Tiêu chuẩn
Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1) người
dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trong nước
không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3) các khoản tín
dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất,
tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba
năm lên tới 100 phần trăm 6
3. Tác động của lạm phát trong kinh tế 6
4.1. Lạm phát do cầu kéo 8
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng
lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS.
Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá
và sản lượng cùng tăng 8
tăng kích thước của nó.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của
chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số,
cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép
đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
• Chỉ số giá sinh hoạt (CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt
của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả
định một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc
3
một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem như
là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI. CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá
sức mua" để phản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa
khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung).
• Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi
"người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công
nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số
lạm phát thông thường hay được nhắc tới. Các phép đo này thường được sử dụng
trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả
(danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI. Đôi khi, các hợp
đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả
danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ
chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra).
• Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được
không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự
trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các
nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng
có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào
bởi nó trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần
đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày
"hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự
hoàn toàn trung bình, chứ chưa phải thấp đến mức được coi là thiểu phát. Ở Việt
Nam thời kỳ 2002-2003, tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4 phần trăm một năm, nhưng nhiều
nhà kinh tế học Việt Nam cho rằng đây là thiểu phát.
Có những đặc trưng không phải con số tỷ lệ giúp xác định thiểu phát, đó là:
• (1) Ngân hàng thương mại gặp khó khăn khi cho vay, đồng thời họ lại đặt
ra lãi suất huy động tiết kiệm thấp- một tình trạng được coi là thị trường tiền tệ trì
trệ. Tỷ lệ lạm phát thấp khiến cho lãi suất thực tế trở nên cao, khiến các nhà đầu tư
5
dè dặt đi vay ngân hàng. Ngân hàng ứ đọng tiền, nên giảm huy động tiết kiệm bằng
cách hạ lãi suất huy động tiết kiệm.
• (2) Sản xuất trở nên thiếu sôi động. Lạm phát thấp khiến cho tiền công
thực tế cao hơn. Người lao động vì thế có thể giảm cung lao động và tăng thơi gian
nghỉ ngơi (xem thêm lý luận về đường cung lao động uốn ngược). Mặt khác, giá cả
sản phẩm thấp làm giảm động lực sản xuất.
Thiểu phát đôi khi được coi là tình trạng trước giảm phát (một tình trạng trái
ngược với lạm phát nhưng vẫn nguy hiểm đối với nền kinh tế).
Lạm phát thấp
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3.0 đến 7.0 phần trăm một
năm.
Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá hai chữ số một năm, nhưng vẫn
thấp hơn siêu lạm phát.
Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh
chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được
chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạm phát hàng tháng từ 50%
trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi). Theo Tiêu chuẩn Kế toán
Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1) người dân không
muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trong nước không còn
tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3) các khoản tín dụng sẽ tính
giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình.
3.2. Lạm phát không dự kiến:
7
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa
các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập
trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi
còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ
được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại. Lạm phát không dự kiến thường ở mức
cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu
cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là
không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức
vừa phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc
phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do
vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.
4. Nguyên nhân:
4.1. Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn
dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-
AS. Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức
giá và sản lượng cùng tăng.
Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng
cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để
đáp ứng. Do đó có lạm phát.
4.2. Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt
hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có
tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà
lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì
lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát.
tổng cung, gây ra lạm phát.
5. Kiềm chế lạm phát
Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát. Có một loạt các phương thức để
kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trung ương như Cục dự trữ liên bang Mỹ có thể
tác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãi suất và
thông qua các hoạt động khác (ví dụ: sử dụng các chính sách tiền tệ). Các lãi suất
cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để các ngân
hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng thất nghiệp và suy giảm sản xuất để
hạn chế tăng giá.
Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soát
lạm phát rất khác nhau. Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một
cách cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức
cao.
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằng cách
giảm cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Những người
theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung, thông thường là thông
qua các chính sách tài chính để giảm nhu cầu. Họ cũng lưu ý đến vai trò của chính
sách tiền tệ, cụ thể là đối với lạm phát của các hàng hóa cơ bản từ các công trình
nghiên cứu của Robert Solow. Các nhà kinh tế học trọng cung chủ trương kiềm chế
lạm phát bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ và một số đơn vị tiền tệ tham
chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảm thuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá
thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn. Tất cả các chính sách này đã được thực hiện
trong thực tế thông qua các tiến trình nghiệp vụ thị trường mở.
Một phương pháp khác đã thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát
giá cả (xem thêm "Các chính sách thu nhập"). Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ trong
những năm đầu thập niên 1970 (dưới thời tổng thống Nixon). Một trong những vấn
10
đề chính với việc kiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các biện pháp
kích "cầu" được áp dụng, vì thế các giới hạn phía cung (sự kiểm soát, sản xuất tiềm
năng) đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của "cầu". Nói chung, phần lớn các nhà kinh
quyền giữa chỉ số giá tiêu dùng của các vùng kinh tế với quyền số tương ứng của
từng vùng so với cả nước. Chỉ số giá tiêu dùng của từng vùng được tổng hợp từ chỉ
số giá của các tỉnh với quyền số tương ứng vủa từng tỉnh, thành phố trong vùng.
Trong đó, chỉ số giá tiêu dùng của cấp tỉnh, thành phố đã và đang được tính theo
phương pháp bình quân gia quyền giữa biến động giá của các nhóm mặt hàng với
quyền số tương ứng, theo kỳ gốc cố định (thường là 5 năm).
Công thức tổng quát:
I
t 0
→
=
∑
∑
=
=
n
i
ii
n
i
i
t
i
qp
qp
1
00
1
0
=
→
: chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc 0;
p
t
i
: giá mặt hàng i kỳ báo cáo t;
p
i
0
: giá mặt hàng i kỳ gốc;
W
i
0
: quyền số cố định năm 2005.
Công thức (1) tính chỉ số giá dài hạn (kỳ báo cáo so với kỳ gốc). Công thức
này đã được áp dụng nhiều năm và có nhiều ưu điểm như cách tính dễ hiểu, ngắn
gọn; nhưng cũng có một số nhược điểm khi giải quyết vấn đề chọn mặt àhng mới
thay thế mặt hàng cũ không còn bán trên thị trường, hàng thời vụ hoặc hàng thay
đổi chất lượng.
Tuy nhiên, khi tính chỉ số theo phương pháp này, mọi so sánh phải thông qua
một kỳ gốc đã chọn (ví dụ kỳ gốc năm 2000). Do đó, có một số hạn chế khi phải xử
lý những thay đổi về mặt hàng, về điều chỉnh chất lượng mặt hàng… qua các kỳ
điều tra. Để khắc phục nhược điểm trên, chỉ số giá tiêu dùng sẽ được tính theo công
thức Laspeyres chuyển đổi – hay phương pháp so sánh với kỳ gốc ngắn hạn. Công
12
thức này hoàn toàn tương thích với công thức Laspeyres gốc và có dạng tổng quát
như sau:
I
t 0
→
i
1
(2)
Trong đó:
W
t
i
1−
=
W
i
0
×
−
p
p
i
t
…
×
p
p
t
i
t
i
2
1
−
−
×
p
p
t
i
t
i
1−
Đẳng thức trên có thể viết như sau:
i
t
pi
0→
=
I
t 0
→
=
∑
=
n
i
i
W
1
0
×
i
t
pi
01→−
×
i
tt
pi
1−→
(4)
13
Trong đó:
I
- Tính chỉ số giá chung cả nước.
Công thức tổng quát như sau:
I
t
V
0→
=
∑
∑
=
=
→
×
m
k
k
m
k
k
t
k
W
W
I
1
0
1
0
0
(5)
k
0→
: chỉ số kỳ báo cáo của tỉnh k so với kỳ gốc;
- Cấp tỉnh, thành phố tính chỉ số giá tiêu dùng từ giá bình quân hàng
tháng
- Cấp vùng và trung ương tính chỉ số giá tiêu dùng từ chỉ số giá của các
địa phương, không tính trực tiếp từ giá bình quân vùng hoặc trung ương.
15
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1995 - 2008
1. Tình hình biến động giá cả giai đoạn 1995 – 2005
Số liệu của Tổng cục Thống kê về chỉ số giá tiêu dùng các năm từ 1996
đến năm 2005, nhìn trên đồ thị giống như như đường cong có đáy là năm
2000 và 2 đỉnh lần lượt là 1996 và 2005.
16
Hình 1: Lạm phát giai đoạn 1995-2007, tính theo
chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 mỗi năm so với tháng 12
năm trước. (Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Hình 2: Biểu đồ so sánh lạm phát 1995-2005
Trong giai đọan 1996 đến 2005, giá tiêu dùng chung đã tăng 51%. Như
vậy, sau 10 năm giá tiêu dùng tăng 51% thấp hơn tốc độ tăng của thu nhập bình
quân đầu người của hộ gia đình; theo số liệu Tổng cục Thống kê thu nhập bình
quân đầu người năm 2004 (484,4 nghìn đồng) tăng 64,2% so với năm 1999
(295,0 nghìn đồng). Điều đó chứng tỏ đời sống của người dân được cải thiện.
Bảng 1: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 1995 đến 2005
( nguồn: Tổng cục Thống kê)
17
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
96-
05
Về mối quan hệ giữa ngọai thương và lạm phát: qua kinh nghiệm các
nước và khu vực lãnh thổ NIC (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông,
Singapore) cho thấy rằng các nước xây dựng chiến lược tăng trưởng kinh tế
18
dựa vào xuất khẩu thường trải qua các giai đọan lạm phát theo chu kỳ với các
giai đọan sau:
- Giai đọan 1 xuất khẩu dựa chủ yếu vào tài nguyên khóang sản, khi tích
lũy một lượng lớn ngọai tệ (đất nước bớt đi một lượng hàng hóa, thêm một
lượng tiền) thì chuyển qua lạm phát cùng với nhập siêu (bớt đi một lương
tiền, thêm lượng hàng hóa chủ yếu là máy móc, nguyên liệu để chuyển sang
giai đọan 2 xuất khẩu dựa vào thâm dụng lao động.
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa 1995-2005
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
% tăng
BQ 1 năm
(96-05)
Kim ngạch xuất khẩu
HH (tỷ USD) 5,45 7,25 9,19 9,36 11,54 14,48 15,03 16,71 20,15 26,49 32,45 20,1
% tăng so với năm trước 133,0 126,8 101,8 123,3 125,5 103,8 111,2 120,6 131,5 122,5
Kim ngạch nhập khẩu
HH(tỷ USD) 8,16 11,14 11,60 11,52 11,62 15,64 16,22 19,75 25,26 31,97 36,76 19,9
Qua biểu số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu, người viết cho rằng nhập
siêu giai đọan 1995 đến 1998 kèm với nó là chỉ số giá tiêu dùng hơi cao, chủ
yếu là nhập tư liệu sản xuất, giúp cho những năm sau tăng nhanh kim ngạch
xuất khẩu: 1999 (23%), 2000 (25,4%); cùng với đó là tỷ lệ nhập siêu rất thấp;
đây chính lúc kết thúc giai đọan xuất khẩu dựa chủ yếu vào tài nguyên và
khóang sản. Và bắt đầu từ năm 2001, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu dựa vào
các ngành thâm dụng lao động đó là công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
với kim ngạch xuất khẩu tăng với tỷ lệ cao, cùng với nó là chỉ số gía tiêu
dùng cũng có tăng cao.
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 96-05
Chỉ số chung 1,073 1,048 1,035 0,98 0,901 1,034 0,983 0,999 1,034 1,096 1,078
1,188
Hàng tiêu dùng
nhập khẩu
1,065 1,025 1,031 0,973 0,953 0,965 0,976 0,978 1,011 1,008 1,022 0,94
Tư liệu sản xuất
nhập khẩu
1,075 1,054 1,036 0,982 0,901 1,049 0,984 1,002 1,038 1,126 1,095 1,279
2. Tình hình biến động giá cả giai đoạn 2006 đến nay
2.1. Thực trạng:
Trong giai đọan 2006 đến tháng 3/2008 (27 tháng), chỉ số giá tiêu dùng đã
tăng 31,1%; trong đó:
- Lương thực tăng 55,3%,
20
- Thực phẩm tăng 44,5%,
- Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 49,5%,
- Phương tiện đi lại tăng 27,6%,…
Chỉ số giá đã tăng với 2 con số từ giữa năm 2007 đến nay.
Bảng 6: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 2005 đến 2008
( nguồn: Tổng cục Thống kê)
2005 2006 2007
3/2008
So
12/2007
Chỉ số
giá quý I
năm 2008
so với
và gián tiếp. Gián tiếp là thông qua chi phí sản xuất và trực tiếp là góp mặt vào rổ
hàng hóa khi tính CPI. Hiện trong rổ hàng hóa, xăng dầu chiếm 2,58%. Ngày 25/2
vừa qua, giá xăng A92 trong nước tăng lên mức 14.500 đồng mỗi lít. Trong 5 năm
qua, giá mặt hàng chiến lược này được điều chỉnh 19 lần, trong đó 5 lần giảm giá.
Riêng từ đầu năm 2008 đến nay, giá xăng thế giới đã tăng 28% nhưng giá trong
nước mới tăng bằng 81% mức tăng giá của thế giới. Giá thị trường thế giới liên tục
tăng cao trong suốt thời gian từ đầu năm 2007 đến nay và vẫn trong xu thế tăng đã
kéo giá trong nước tăng theo: đây là yếu tố khó tránh khỏi trong điều kiện nền kinh
tế nước ta đã hội nhập với kinh tế thế giới. Trong điều kiện quy mô của nền kinh tế
nhỏ, độ mở của nền kinh tế ở đầu vào đặc biệt lớn khi ta so tổng kim ngạch nhập
khẩu với GDP năm 2006 bằng 74,13%, năm 2007 bằng 82,85%; mặt khác trong rổ
hàng hóa nhập khẩu đó, tỷ trọng nhập khẩu nguyên liệu quá lớn như: xăng dầu
100%, phôi thép 65%-70%, nguyên liệu sản xuất thuốc 60% mà đây lại là những
mặt hàng thường bị “sốt” giá, nên mỗi khi những mặt hàng này “sốt” giá thì biến
động giá ấy cũng kéo theo vào thị trường trong nước làm biến động giá trong nước.
Giá cả thế giới tăng cao, làm tăng chi phí đầu vào, tất yếu dẫn đến giá cả đầu ra
tăng cao.
- Giá cả đầu vào còn tăng "kép", tức là không chỉ do bản thân giá cả tính
bằng ngoại tệ tăng, mà còn do tỷ giá VND/ngoại tệ - nhất là nhập khẩu và thanh
22
toán bằng các đồng euro, bảng Anh, yên Nhật, các đồng nội tệ của các nước trong
khu vực
- Bên cạnh đó, các yếu tố bất khả kháng như thiên tai diễn biến phức
tạp, dịch bệnh ở gia súc, gia cầm tuy được khống chế trong một số tháng qua,
nhưng đã xuất hiện trở lại ở một số tỉnh và đang tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch trở
lại; giá thức ăn chăn nuôi, giống vật nuôi tăng cao cũng đã ảnh hưởng tới việc khôi
phục và phát triển đàn gia súc, gia cầm; thời tiết không thuận lợi nên lượng đánh
bắt hải sản giảm dẫn đến nguồn cung thực phẩm thiếu hụt khiến giá một số thực
phẩm vẫn ở mức cao. Quan hệ cung cầu về hàng hóa, dịch vụ ở trong nước có diễn
biến khác với các năm trước. Sản lượng lương thực bị giảm do thời tiết, sâu bệnh,
điểm), đã vượt qua đỉnh sang dốc bên kia, hiện nay chỉ còn 940 điểm và đang có dự
đoán sẽ còn giảm xuống nữa! Một phần tiền sẽ được quay về sau chỉ thị 03, một
phần được đưa ra tham gia khi các đại gia IPO, một phần đưa ra mua vàng, mua bất
động sản và đưa vào lưu thông hàng hóa, dịch vụ thông thường, tạo sức ép tăng
giá tiêu dùng. Thứ hai, nguồn vốn từ nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh. Tăng
trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi lượng tiền đưa vào lưu thông cũng phải
tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng cung tiền và tăng tổng
sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm phát sẽ nảy sinh.
Về nguyên tắc, giá trị tính theo tiền của một mặt hàng luôn bằng lượng nhân
với giá. Nếu giá trị tính theo tiền tăng lên, nhưng lượng hàng không tăng hay tăng
chậm hơn, thì giá buộc phải tăng. Ta có thể hình dung GDP (sau khi loại bỏ yếu tố
trượt giá) là tổng sản lượng sản xuất ra trong năm để phục vụ tiêu dùng cuối cùng,
đầu tư hay ngoại thương. Còn mức cung tiền là tổng giá trị tính theo tiền. Mức cung
tiền vượt GDP nhiều lần thì lạm phát tăng cao là điều không thể tránh khỏi. Như đã
được đề cập, cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là do vốn nước
ngoài chảy vào đột biến, từ đó buộc Ngân hàng phải đóng vai trò người mua ngoại
tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông. Nhưng lạm phát bùng lên trong
năm này có thể còn bắt nguồn từ mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng
cung tiền cảu Việt Nam đã ngày một giãn rộng trong 3 năm qua.
24
Trong khỏang hai năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 đến tháng 6 năm 2007,
GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi
ngân hàng đã tăng lên đến 110%. Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc
tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%. Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng
cung tiền của Thái Lan hầu như không đáng kể.
Hình 3: So sánh tốc độ tăng trưởng cung tiền và tăng
trưởng GDP của ba nước, lấy mốc năm 2004 bằng 100%.
Cung tiền đo bằng M2 (gồm tổng tiền mặt và tiền gửi ngân
hàng)
(Nguồn: Số liệu Thống kê tài chính quốc tế của Tổ