Toàn cầu hóa : Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen pot - Pdf 15

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 1 Biên dịch: Hải Đăng

9-706-007
NGÀY 26 THÁNG BẢY NĂM 2005
LAURA ALFARO, STEPHEN McINTYRE VÀ VINATI DEV
1

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
VÀ NỀN KINH TẾ HÙNG MẠNH CỦA AILEN
“The World’s Best Country (Các quốc gia tốt nhất trên thế giới)”
1

The Economist Intelligent Unit, 2005

Vào năm 1987, Ailen là thành viên nghèo nhất của Liên minh châu Âu (EU) và
đứng bên bờ vực vỡ nợ. Việc trả lãi nợ vay và nợ gốc chiếm đến 1/3 nguồn thu chính phủ
và sự can thiệp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dường như chẳng mấy chốc sẽ xảy ra. Tỷ
lệ thất nghiệp lên đến 17% và Tổng Sản phấm Quốc nội (GDP) bình quân đầu người chỉ
bằng 69% so với mức trung bình của EU.
2
Sự di dân xảy ra trên khắp đất nước và vì các
sinh viên đại học tốt nghiệp đổ xô chạy ra khỏi đất nước nhằm tìm kiếm việc làm lên đến
con số hàng ngàn, những triển vọng của Ailen cũng dường như biến mất đi cùng với họ.
Trong hơn một thập niên kế tiếp, Ailen đã trải qua một sự chuyển dịch kinh tế
đáng chú ý. Từ năm 1990 đến 2000, tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,3% mà trong đó
tốc độ tăng trưởng cao nhất - gần 10% - trong giai đoạn từ 1995 đến 2000.


1
Laura Alfaro, Trợ lý Nghiên cứu Vinati Dev và Stephen McIntyre (Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, 2005) đã
chuẩn bị nghiên cứu điển hình này. Các nghiên cứu điển hình HBS chỉ được phát triển thành cơ sở cho thảo
luận trên lớp học. không có ý định dùng những trường hợp này như là sự xác nhận, nguồn dữ liệu sơ cấp, hay
các minh họa cho việc quản lý hiệu quả hay không hiệu quá.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 2 Biên dịch: Hải Đăng Thành quả kinh tế của Ailen chủ yếu được tạo ra bởi một số tương đối
nhỏ các doanh nghiệp thuộc sở hữu nước ngoài, những người mà chọn Ailen làm
căn cứ để phục vụ cho thị trường châu Âu. Tác động của các công ty này đối với
nền kinh tế là rằng nó che dấu hiệu quả kinh tế nói chung là nghèo nàn của khu
vực kinh tế bản xứ, với ngoại lệ là một số nhỏ các công ty có hiệu quả cao.
8

Nhưng lúc đó, chi phí gia tăng, nạn thiếu hụt lao động, giá nhà tăng chóng mặt
9

đồng euro tăng giá đã xói mòn năng lực cạnh tranh của Ailen và đe dọa sự thành công
được thúc đẩy bởi xuất khẩu của nước này. Có những quan ngại rằng khi các áp lực về thị
trường lao động gia tăng, mức lương thực tế sẽ tăng nhanh hơn năng suất, qua đó làm
giảm lợi nhuận và sự khuyến khích đối với FDI. Điều dường như cũng có thể xảy ra là
rằng các ưu đãi về trợ cấp, mà một số người luận cứ rằng có vai trò cốt yếu trong việc thu
hút FDI, sẽ có thể bị cắt giảm đi hay bãi bỏ. Bởi vì nhiều vùng tại Ailen sẽ không còn

thiếu. Tỷ lệ thất nghiệp và di cư là rất cao. Hơn nữa, đất nước này có một khu vực công
nghiệp chế tạo hầu như không hiện hữu. Mặc dù không phát triển, nhưng nền kinh tế
Ailen chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp và phụ thuộc rất lớn vào thương mại với Vương
quốc Anh. Ban đầu, Ailen theo đuổi một chính sách thương mại tự do, nhưng điều này đã
thay đổi khi nhà lãnh đạo của đảng chính trị Fianna Fáil, Eamon de Valera trở thành thủ
tướng vào năm 1932.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 3 Biên dịch: Hải Đăng Sau khi chiến thắng với một cương lĩnh dân túy mà nhấn mạnh đến sự tự cung tự
cấp của quốc gia, chính phủ de Valera đã ban hành hai đạo luật mà đã trở thành biểu
tượng của chủ nghĩa dân tộc về kinh tế và ở một mức độ nào đó là về chính trị. Theo Đạo
luật Tài chính của năm 1932, mức thuế quan của Ailen đã cao gấp hai lần so với thuế
quan của Hoa Kỳ và cao hơn 50% so với mức thuế quan của Vương quốc Anh. Đạo luật
Kiểm soát hàng Chế tạo của năm 1932 đòi hỏi quyền sở hữu đa số của Ailen trong các
liên doanh sản xuất mới. Thị trường Wall Street sụp đổ và cuộc Đại Khủng hoảng đã gây
ra một sự hồi sinh trên toàn thế giới về chủ nghĩa bảo hộ vào thời điểm này và các chính
sách của de Valera đã nhận được sự ủng hộ rộng khắp. Trong một bài thuyết trình tại
Trường Cao đẳng Đại học Dublin, John Maynard Keynes đã nói, “Nếu tôi là một người
Ailen thì tôi sẽ tìm thấy rất nhiều điều hấp dẫn tôi trong quan điểm kinh tế hướng về sự tự
cung tự cấp của chính phủ hiện tại của đất nước các bạn.”
12

Thương mại và FDI
Chính phủ của de Valera đã hướng Ailen vào một đường lối chủ nghĩa dân tộc về

14

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 4 Biên dịch: Hải Đăng Cơ quan Phát triển Công nghiệp
Cơ quan Phát triển Công nghiệp (IDA) được thành lập vào năm 1949 như là một
tổ chức của chính phủ nhằm xúc tiến đầu tư lớn hơn trên toàn Ailen.
15
Sau đó, trong thập
niên 1950 và 1960, khi việc chính phủ ủng hộ một chính sách công nghiệp với xuất khẩu
là trọng tâm ngày càng trở nên rõ ràng hơn thì IDA tự thấy mình ở trung tâm của môi
trường chính sách mới này. Với pháp chế thân thiện kinh doanh là nền tảng, IDA bắt đầu
thu hút đầu tư mới từ khắp nơi trên thế giới. Ray Mac Sharry, Bộ trưởng Bộ Tài chính
(1982, 1987-88) và Padriac White, Giám đốc Điều hành của IDA (1981-1990) thừa nhận
rằng, “EPTR đã trở thành khuyến khích đầu tư đặc biệt nhất của IDA, và theo thời gian
trở thành vũ khí hùng mạnh nhất của cơ quan này trong cuộc chiến về xúc tiến công
nghiệp quốc tế.”
16

IDA lẽ ra đã có “nhiều chiến thắng” trong thập niên 1960. Khi nhà sản xuất dược
phẩm khổng lồ Pfizer vào năm 1969 quyết định thành lập một nhà máy tại Cork, sự kiện
này được xem như một thành công lớn của IDA. Tuy nhiên, điều không rõ ràng là liệu
chính tự thân những nổ lực xúc tiến của IDA hay các mối liên hệ Ailen-Mỹ đã hấp dẫn
Pfizer đầu tư vào Ailen. Bản thân các quan chức của IDA thừa nhận rằng quyết định của

Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 5 Biên dịch: Hải Đăng (3) Chọn những công ty có sự phụ thuộc lớn về nguồn nhân lực khan hiếm, ví dụ
như những người có kỹ năng, bởi vì điều này hàm ý một sự cam kết và ràng buộc lớn
hơn.
(4) Chọn những công ty mà có thể tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và vì
vậy cho phép chúng ta bảo vệ các nguồn tài nguyên khác.
18

Vào năm 1971, IDA thiết lập các nhóm đặc nhiệm và gởi những chuyên viên đến
các nước như Hoa Kỳ, Hà Lan và Thụy Điển để trình bày các kế hoạch đầu tư chi tiết cho
các công ty. IDA cũng dự báo lợi nhuận để chứng tỏ cho các công ty thấy rằng có thể ăn
nên làm ra từ việc đầu tư sản xuất ở Ailen. Trong năm đầu tư, các chuyên viên của IDA
đã trình bày cho 105 công ty. Cho đến năm 1973, các nhóm đặc nhiệm này đã thực hiện
2.600 lần giới thiệu đến các công ty trên toàn thế giới. Đến giữa thập niên 1970, những nổ
lực của IDA và các hứa hẹn của thị trường chung đã mang các công ty như Gillette-
Braun, Digital, Cross Pens, Baxter Travenol, Syntex, Merck Sharpe và Warner Lambert
đến đầu tư tại Ailen.
Thập niên 1970 đầy biến động
Với việc gia nhập vào EU sắp đến như là nền tảng, Ailen đã đón chào thập niên
1970 với tinh thần lạc quan khi nước này lường trước việc tiếp cận được thị trường lớn
hơn nhiều của EU. Thật vậy, với một nước cờ về pháp luật, Ailen đã có thể hứa hẹn các
nhà đầu tư ngoại quốc về một thị trường hơn 200 triệu người là EU chứ không chỉ là thị
trường nhỏ bé 3,6 triệu người của Ailen.
Tuy nhiên, năm mà Ailen chính thức được công nhận tư cách thành viên của EU
cũng là năm xảy ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào tháng Mười năm 1973. Ailen, nước


trầm trọng thì cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong thập niên 1970 đã ảnh hưởng mạnh đến
Ailen, kéo đất nước này chìm sâu vào một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc.
Câu hỏi về Chính sách Công nghiệp – Liệu FDI có tác dụng không?
Mặc dù có sự hỗn loạn kinh tế vào giữa và cuối thập niên 1970, FDI vẫn tiếp tục
tăng trưởng. Tuy nhiên, IDA đã phải chịu đựng những lời chỉ trích liên tục rằng chiến
lược đầu tư nước ngoài mà tổ chức này chỉ đạo đã không đủ mạnh để có thể vực dậy nền
kinh tế Ailen. Những nhà phê bình tự hỏi rằng liệu các nhà đầu tư nước ngoài có biện hộ
được cho sự đối xử đặc biệt mà họ nhận được không, khi lưu ý rằng mặc dù có sự tăng
trưởng mạnh trong các ngành sản xuất dược phẩm và hàng điện tử thì sự thành công của
khu vực nước ngoài không lan tỏa xuống phần còn lại của nền kinh tế. Họ cũng buộc tội
rằng những mối liên kết với các chi nhánh nước ngoài và ngành công nghiệp địa phương
là hết sức hạn chế. (Xem Bảng 6 về các mối liên kết của các công ty nước ngoài trong
ngành công nghiệp chế tạo). Như nhà lịch sử J.J. Lee đã từng viết, “nền công nghiệp bản
địa khước từ sự tăng trưởng”
20
Thật vậy, khi Ailen gia nhập Công đồng Kinh tế châu Âu
vào năm 1973 (sau này đổi tên thành Liên minh châu Âu vào năm 1993), những sự cắt
giảm thuế quan đã đặt nền công nghiệp Ailen vào một sự cạnh tranh chưa từng có tiền lệ,
mà đã gây ra một sự thất bại rộng khắp của các doanh nghiệp bản địa.
Làn sóng chỉ trích rốt cuộc khiến cho Hội đồng Kinh tế Xã hội Quốc gia phải ủy
thác ủy ban điều tra Telesis để xem xét lại chính sách công nghiệp của Ailen. Báo cáo
năm 1982 là không lạc quan:
Các hoạt động công nghiệp do nước ngoài sở hữu tại Ailen với một số ít
ngoại lệ không biểu hiện những lĩnh vực hoạt động then chốt có khả năng cạnh
tranh mà các công ty này tham gia vào; không sử dụng nhiều lao động có tay
nghề; và không hội nhập một cách đáng kể với các ngành công nghiệp cung ứng
phụ có kỹ năng và có thể trao đổi thương mại tại Ailen.
21


Laura Alfaro và cộng sự 7 Biên dịch: Hải Đăng Bản báo cáo kiến nghị rằng chính phủ Ailen nên chọn từ 50 đến 75 “người chiến
thắng” – các công ty Ailen mà có sự quản lý được cho là đã đạt chất lượng hàng đầu – và
hỗ trợ cho các công ty này trở nên có thể cạnh tranh được trên trường quốc tế.
25
Bản báo
cáo đề xuất rằng các công ty yếu hơn nên sử dụng các kỹ năng của họ hướng đến hoạt
động định hướng xuất khẩu với sự hỗ trợ tiền của từ IDA.
26
Cuối cùng, trong điều mà có
vẻ như là đòn tấn công trực tiếp vào IDA, Báo cáo Telesis khẳng định rằng nổ lực phát
triển để tạo ra ngành công nghiệp địa phương “phải đuợc tái tổ chức để nhấn mạnh đến
việc xây dựng các doanh nghiệp Ailen vững mạnh về mặt cơ cấu hơn là các tổ chức mạnh
để hỗ trợ cho các công ty yếu ớt.”
27

IDA tranh luận về sự buộc tội của IDA rằng những khuyến khích và hỗ trợ cho
công ty nước ngoài của Ailen là quá nhiều. IDA chỉ ra việc đến Ailen đầu tư của các công
ty lớn hàng đầu như Apple, Bausch & Lomb và Fujitsu vào năm 1980
28
như là bằng
chứng cho thấy rằng chiến lược của mình là có tác dụng và đổ lỗi sự quản lý kinh tế tồi
của chính phủ, đặc biệt là tốc độ lạm phát cao, là nguyên nhân gây ra sự suy yếu các thị
trường.
Bất kể đâu nguyên nhân là gi đi nữa thì một nhà lịch sử lưu ý rằng các nổ lực
nhằm xây dựng nên công nghiệp của Ailen đã thất bại thảm hại:
Sáu mươi năm sau độc lập, năm mươi năm sau sự bảo hộ hoàn toàn…,
mưởi lăm năm sau Hiệp định Thương mại Tự do Anh-Ailen, tám năm sau khi gia

32

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 8 Biên dịch: Hải Đăng Các chủ doanh nghiệp, nông dân và các nghiệp đoàn tất cả đã chấp nhận kịch bản
kinh tế ảm đạm và nhận thức được nhu cầu về các biện pháp khắc khổ trong ngắn hạn.
Chính phủ tận dụng toàn bộ cơ hội của môi trường mới này và thúc đẩy các mối cộng tác
xã hội
2
giữa khu vực kinh tế và chính trị. Quan ngại rằng những biện pháp này sẽ gây ra
sự tổn thuơng đáng kể cho các nghiệp đoàn và thành viên của mình, chính phủ đã thực thi
cải cách thuế như là một lợi ích bù đắp. Trong năm 1987, Chương trình Phục hồi Quốc
gia (PNR) - được biết đến như là một chương trình cộng tác xã hội - được hình thành. Đổi
lại sự cắt giảm thuế là việc giới hạn tiền lương chi trả. Người ta hy vọng kết quả ròng sẽ
là một sự gia tăng thật sự trong tiền luơng mang về nhà trả cho công nhân và giảm bớt tỷ
lệ thất nghiệp được tạo ra từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Hiệp định này cũng hứa
hẹn rằng phúc lợi sẽ không phải chịu gánh nặng cắt giảm ngân sách bất cân xứng. Trước
năm 1987, những lợi thế về năng suất giữa các công ty sở hữu nước ngoài đã thúc đẩy sự
gia tăng tiền lương, mà sau đó lan toả đến các ngành công nghiệp bản địa. PNR duy trì xu
hướng này và cho phép các công ty bản địa thực hiện việc tăng tiền lương theo sự tăng
trưởng năng suất chậm hơn của họ.
IDA được quyết định là sẽ đóng góp một phần vai trò trong sự hồi phục kinh tế.
Tổ chức này tận dụng PNR bằng cách thiết lập một chương trình được thiết kế nhằm thu
hút các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thâm dụng lao động đến Ailen. IDA cũng sử dụng


2
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự cộng tác xã hội. Trong phạm vi bài viết này, sự cộng tác xã hội đuợc
hiểu là những thỏa ước cùng có lợi giữa nhà nước, doanh nghiệp và nghiệp đoàn (và có thể có thêm các tổ
chức khác) với mục đích tạo ra một thị trường lao động toàn dụng. (Chú giải của dịch giả)
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 9 Biên dịch: Hải Đăng gia tăng thêm khả năng cạnh tranh của Ailen. Vào năm 1996, chính phủ Ailen bãi bỏ học
phí đại học trong một nổ lực cải thiện hơn nữa chất lượng của lực lượng lao động.
Thập niên 1990 là thời điểm đầy hứa hẹn đối với Ailen. Được thúc đẩy một phần
bởi sự bùng nổ công nghệ thông tin (IT) của Hoa Kỳ và việc hình thành Thị trường
Chung châu Âu vào năm 1992, nền kinh tế Ailen đã tăng trưởng nhanh chóng và thu hút
các khoản đầu tư nước ngoài lớn chưa từng có. Hơn nữa, kỷ luật ngân sách và những cải
cách, được đặt ra theo tiêu chuẩn Maastricht vào năm 1992, đã tạo ra các khoản thâm hụt
ngân sách và tỷ lệ nợ so với GDP thấp hơn. Cuối cùng, một sự nâng giá đồng bảng Ailen
khi gia nhập vào Hệ thống Tiền tệ châu Âu (EMS) đã làm cho khu vực xuất khẩu của
Ailen có khả năng cạnh tranh cao hơn.
IDA, quan ngại rằng các áp lực của EU trong việc gia tăng thuế, đã bắt đầu vận
động hành lang chính phủ để gia hạn mức thuế suất. IDA đã thực hiện các nghiên cứu qua
đó chứng minh rằng mức thuế suất thấp 10% trong ngành công nghiệp chế tạo là rất quan
trọng đối với Ailen để nước này có thể giữ được khả năng cạnh tranh so với các nước
châu Âu khác. Vào năm 1990, chính phủ Ailen gia hạn mức thuế suất 10% cho đến năm
2010.
Sự kết hợp giữa thuế doanh nghiệp thấp và việc tiếp cận đã có đến thị trường châu

kế hoạch nhằm giải quyết mối quan ngại của Intel: McGowan lập ra một danh sách các kỹ
sư Ailen đang làm việc trong ngành bán dẫn chủ yếu tại Hoa Kỳ, những người sẵn sàng
quay trở lại làm việc tại Ailen. Như McGowan đã viết, “Chúng tôi trình lên Intel một
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 10 Biên dịch: Hải Đăng cuốn sổ với tên tuổi, địa chỉ và số điện thoại của 85 người. Và tôi nghĩ rằng điều này đã
gây ấn tượng với họ.”
38
Nổ lực hết mình đã được tuởng thưởng và Intel đã chọn Ailen
thay vì Xcôtlen làm địa điểm cho cả nhà máy sản xuất hệ thống máy tính lẫn bán dẫn của
mình. Tại IDA, năm 1989, năm mà Intel công bố quyết định đầu tư tại Ailen, về sau được
biết đến như là “năm của Intel.”
39
Cho đến năm 2004, Intel đã sử dụng xấp xỉ 5.000 người
tại Ailen.
Trong vòng một vài năm tới, hầu như mọi công ty máy tính lớn đều đến Ailen:
Dell, Gateway, Hewlett Packard và IBM tất cả đều bắt đầu sản xuất tại Ailen. Tỷ phần
dòng FDI vào EU của Ailen đã tăng ba lần trong một thời gian ngắn từ năm 1991 đến
năm 1994 khi nước này thu hút khoảng 40% khoản đầu tư vào ngành điện tử của Hoa Kỳ
tại châu Âu.
40
Như Michael Dell, người sáng lập ra công ty máy tính Dell, giải thích trong
một bài viết trên báo, “Điều gì hấp dẫn chúng tôi? [Một] lực lượng lao động có trình độ
học vấn cao và các trường đại học tốt gần đó. [Ngoài ra,] Ailen có một chính sách công

nếu xét về mặt giá trị thực (đã khử lạm phát) và rằng nền kinh tế nội địa nhìn chung là tụt
hậu. Những nhà phê bình đổ lỗi cho chính sách xem FDI là chủ đạo dẫn dắt phải chịu
trách nhiệm về sự thay đổi này và đưa ra nhiều số liệu thống kê để minh chứng cho sự
buộc tội của mình. Đáng lưu ý nhất là có một tỷ lệ thất nghiệp cao mà biến thiên từ 14%
đến 16% xuyên suốt những năm đầu của thập niên 1990.
43
Một số khác thì khẳng định
rằng đây là một thứ phẩm của hiện tượng “thất nghiệp-tăng trưởng” mà đi kèm cùng với
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 11 Biên dịch: Hải Đăng chính sách xem FDI là chủ đạo. Họ cũng chỉ ra khoảng cách chênh lệch lớn giữa GDP và
GNP,
44
mà họ lập luận, chứng tỏ cho thấy các công ty nước ngoài đã xuất khẩu lợi nhuận.
Như là bằng chứng thêm nữa về sự thiếu hụt các mối liên kết giữa các doanh nghiệp nội
địa và nước ngoài, các nhà phê bình này chỉ ra rằng tỷ phần đầu tư trong thu nhập quốc
dân Ailen đã giảm đáng kể trong những năm đầu thập niên 1990.
Vì vậy, trong khi một mặt ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng FDI đã
đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tăng trưởng của Con Hổ Vùng Celtic thì người ta
cũng ngày càng thừa nhận rằng khu vực nước ngoài có rất ít mối liên hệ với hoạt động
kinh doanh của địa phương và rằng chính sách tập trung vào FDI đã mang lại ít thành tựu
xét về mặt tạo ra một nền kinh tế nội địa mạnh mẽ. Để phản ứng lại sự chỉ trích ngày càng
tăng lên này, chính phủ Ailen đã tách IDA thành hai thực thể vào năm 1994. IDA Ireland
(IDA Ailen) tiếp tục chú trọng vào việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi

47

Các học giả phân tích sự tương tác giữa các công ty nước ngoài và nội địa xác
nhận rằng, thật ra có ít “sự cạnh tranh sản phẩm-thị trường” giữa hai đối tượng này. Họ
lập luận nguyên nhân đằng sau việc này nằm ở nước xuất xứ và cơ cấu khác biệt của các
công ty nước ngoài và nội địa. Các công ty nước ngoài tập trung chủ yếu vào những thị
trường xuất khẩu ngoài Anh quốc và 80% lượng hàng xuất khẩu của họ đến từ các ngành
hóa chất và dược phẩm; các doanh nghiệp trong nước trái lại tiếp tục xuất khẩu phần lớn
đến thị trường nước Anh, và chỉ có 10% hàng xuất khẩu của họ là đến từ các ngành hóa
chất và dược phẩm.
48
Trong khi câu hỏi về các mối liên kết tiếp tục được tranh luận trong
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 12 Biên dịch: Hải Đăng các vòng chính sách của Ailen thì đến giữa thập niên 1990, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống
dường như ủng hộ cho những người ủng hộ FDI. Vào năm 1998, số liệu thống kê cho
thấy rằng các công ty thuộc sở hữu nước ngoài thuê muớn 47% lực lượng lao động công
nghiệp (tạo ra 82% sản lượng công nghiệp) và khoảng 75% lượng FDI này đến từ Hoa
Kỳ. Hơn nữa, dữ liệu cũng cho thấy các chi nhánh nước ngoài của Hoa Kỳ tạo ra 16,5%
GDP của Ailen.
49

Với dữ liệu việc làm mới như là một cách thức khác đo lường sự thành công,
những người ủng hộ FDI tiếp tục nhấn mạnh đến tác động tích cực của các công ty nước

Ailen). Trong khi nhiều nguời thấy sự phụ thuộc vào các công ty nước ngoài của Ailen là
một mối đe doạ nghiêm trọng thì Dorgan quả quyết rằng đây là kết quả không thể tránh
khỏi của sự toàn cầu hóa. Ông ta giải thích, “Nền kinh tế mở của chúng tôi làm giảm sự
phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Sự cung ứng toàn cầu hiện nay là
một thực tế.”
54
Ailen chắc chắn đã nắm lấy thời cơ của toàn cầu hóa, khi đứng đầu trong
Chỉ số Toàn cầu hóa của A.T. Kearney từ năm 2002 đến 2004. Dù vậy, những người khác
bác lại lý do của Dorgan:
Lập luận rằng sự toàn cầu hóa làm cho các công ty toàn cầu và địa
phương là giống nhau về cơ bản là không đúng. Ví dụ, việc quản lý cấp cao của
tập đoàn CRH
55
được thực hiện tại Ailen, vì vậy các quyết định quan trọng là do
những người sống và làm việc ở đây thực hiện. Con cái của họ đến trường tại
Ailen và họ sẽ chiến đấu tích cực hơn để làm ra tiền ở đây. Sự kiện rằng CRH là
một công ty cổ phần đại chúng với sở hữu đa số của nước ngoài là rất không phù
hợp.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 13 Biên dịch: Hải Đăng - Frank Kennedy, Sáng lập viên của Delta Partners và thành viên của ESG
Khi sự phụ thuộc FDI và tính dễ bị tổn thương xuất hiện trong những bài tường
thuật của cuộc tranh luận, một số nhà bình luận lo lắng rằng sự bùng nổ này hoàn toàn là
môt thứ phẩm của sự tăng trưởng của Hoa Kỳ hơn là một hiện tượng tự lực và của địa

chuyển giá tự thân chỉ xuất hiện khi đồng tiền chảy vào và sau đó lại chảy ra. Nó không
giải thích được tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, các mức kỹ năng gia tăng của công nhân và
các mức thu nhập cao hơn tại Ailen.”
58
Mặc dù tác động của việc chuyển giá đến GDP
của Ailen rất khó lượng hóa nhưng đáng để lưu ý rằng bốn ngành công nghiệp FDI thịnh
vượng – cô đặc cola, phần mềm, dược phẩm, và máy tính - đặc biệt ở vị thế hưởng lợi từ
việc chuyển giá.
59Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 14 Biên dịch: Hải Đăng Tương lai của nền Kinh tế Ailen
“Kỷ nguyên Celtic, với tốc độ tăng trưởng hai con số đã thuộc về quá
khứ. Khả năng cạnh tranh đã bị xói mòn…”
- OECD Economic Outlook, tháng Mười Hai năm 2003
Khi thập niên mới ló dạng, một sự suy thoái toàn cầu, chủ yếu bị gây ra bởi cuộc
khủng hoảng tại Hoa Kỳ, đã hãm lại đà tăng trưởng của nền kinh tế Ailen lần đầu tiên
trong 11 năm. IDA công bố mức tổn thất việc làm kỷ lục tại các công ty thuộc sở hữu
nước ngoài, khi số lượng nhân viên được thuê mướn trong ngành IT giảm 11% trong năm
2001 sau nhiều sự đóng cửa của các công ty danh tiếng như Motorola, Gateway và
General Semiconductors.
60

giá. IDA muốn “đưa Ailen vào số các nước đi đầu trong nền kinh tế toàn cầu… và [áp
dụng một] tầm nhìn rộng hơn về những gì tạo ra FDI, với ít sự nhấn mạnh hơn đến số
lượng việc làm và tập trung nhiều hơn vào chất lượng việc làm, các hoạt động giá trị gia
tăng cao hơn, và làm cho Ailen trở thành một trung tâm của sự cách tân và sự quản lý
chiến lược các chuỗi giá trị, hơn là việc đơn thuần chỉ là một nơi sản xuất hay dịch vụ cơ
bản.”
64
Mục tiêu là giảm sự phụ thuộc của Ailen vào sự sản xuất bằng cách nhắm tới mục
tiêu về các phần còn chiếm tỷ lệ chưa tuơng xứng trong chuỗi giá trị ví dụ như nghiên cứu
và phát triển, bán hàng, và tiếp thị. ESG vạch ra sự thách thức đáng kể phía trước:
Theo các tiêu chuẩn toàn cầu, phần lớn khu vực sở hữu nước ngoài vẫn
còn được định vị ở một điểm tương đối thấp trong chuỗi giá trị. Nghiên cứu và
phát triển, tiếp thị hay các năng lực khác mà củng cố sức mạnh cạnh tranh của
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 15 Biên dịch: Hải Đăng các doanh nghiệp này không phải là những hoạt động được thực hiện phần lớn tại
Ailen.
65

Việc lôi kéo những hoạt động này khỏi tổng hành dinh của các tập đoàn không
phải là điều dễ dàng. IDA tin rằng các công ty có xu hướng giữ hoạt động nghiên cứu và
phát triển (R&D) gần nước nhà và Ailen không có danh tiếng quốc tế như là một trung
tâm nghiên cứu. Hơn nữa, vị trí ngoại vi của nước này tách biệt với các thị trường lớn,
làm cho việc bán hàng và tiếp thị thêm phần khó khăn.

và các mối liên kết
vững mạnh hơn giữa các trường đại học và doanh nghiệp được xem như đóng vai trò cốt
yếu trong việc tạo ra một môi trường R&D tốt đẹp và Quỹ Khoa học Ailen (SFI) được
hình thành trong năm 2003 nhằm khuyến khích sự hợp tác giữa giáo dục, chính phủ, và
ngành công nghiệp. SFI dự tính đầu tư 652 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn 2000-2006 cho
các nhà nghiên cứu hàn lâm và các nhóm nghiên cứu trong hai lĩnh vực: công nghệ sinh
học và công nghệ thông tin và truyền thông.
70

IDA có vai trò trung tâm trong những sự phát triển này, nhưng một số nhà bình
luận nghi ngờ rằng liệu tổ chức này có tự vươn xa quá mức không. Lý do tồn tại của tổ
chức này luôn luôn là tạo ra công ăn việc làm và thành công của họ vì vẩy có thể được đo
lường dễ dàng. Tuy nhiên, trong một kỷ nguyên toàn dụng lao động thì trọng tâm đã
chuyển từ số lượng sang chất lượng việc làm và việc đánh giá hiệu quả hoạt động của
IDA ngày càng trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa, EU kỳ vọng là sẽ áp đặt những giới hạn
trong năm 2006 về sự trợ giúp của nhà nước cho các công ty, qua đó loại bỏ một công cụ
mà IDA có thể tùy ý sử dụng. Còn gây khó khăn hơn nữa là sự gia nhập của 10 nước
thành viên mới vào EU đe dọa vị thế của Ailen như là sự lựa chọn cho căn cứ xuất khẩu
của châu Âu. Chi phí thấp và lao động dồi dào của các nước này tương phản hết sức rõ rệt
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 16 Biên dịch: Hải Đăng với nước Ailen “mới”. Ngay cả lợi thế về ngôn ngữ của Ailen cũng bị trung hòa bởi sự
thống trị của tiếng Anh trên toàn khu vực Đông Âu. Lợi thế về thuế của Ailen cũng bị đặt
trong tầm ngắm, với sức ép từ Brussels nhằm hài hòa mức thuế doanh nghiệp trong toàn

51 158 286 164 627 1446 22778 9866

Đầu tư ra

Vốn cổ phần n.a n.a n.a n.a n.a n.a 3254 3765
Lợi nhuận tái đầu tư n.a n.a n.a n.a 365 820 1300 1973
Khác -571 -334
Tổng cộng
365 820 3983 5404
Nguồn: Lấy từ UNCTAD, cơ sở dữ liệu FDI. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 17 Biên dịch: Hải Đăng Hình 1b. Ailen: Dòng vào đầu tư trực tiếp tính bằng triệu đô la Mỹ

Nguồn: Lấy từ United Nations Conference on Trade and Development (Hội nghị về Thương mại và Phát
triển của Liên Hiệp Quốc), cơ sở dữ liệu FDI.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 18 Biên dịch: Hải Đăng

Chi tiêu tính theo % của GDP

Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của chính phủ 21,9 25,1 25,5 23,4 18,0 16,4 13,9 14,6 15,1 n.a
Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, v.v 70,6 66,2 66,6 59,7 56,4 52,4 47,5 47,0 44,9 n.a
Tích lũy tài sản cố định n.a 23,1 23,1 22,5 23,6 20,6 25,0 23,3 21,7 n.a
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 23,9 24,3 24,3 39,8 48,4 70,2 97,4 99,3 98,6 n.a
Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 34,8 31,4 31,4 42,4 47,2 60,2 84,4 84,6 81,0 n.a GDP bình quân đầu người
7.005,3 8.327,1 9.719,7 10.590,4 13.458,1 16.463,0 24.848,4 26.035,3 27.373,1 27.932,0
Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của GDP
bình quân đầu người (%)
4,13 3.37 3,14 1,73 4,91 4,11 8,58 4,78 5,14 2,04 Các dữ liệu khác

Chỉ số giá tiêu dùng (2000=100) 10,3 19,2 37,1 66,2 77,9 88,2 100,0 104,9 109,8 113,6
Tổng dân số (triệu người) 3,0 3,2 3,4 3,5 3,5 3,6 3,8 3,9 3,9 4,0
Tỷ lệ thất nghiệp (% tổng lực lượng lao động) n.a n.a n.a 16,7 13 12,2 4,3 3,7 4,2 n.a
Nguồn: Lấy từ World Development Indicators (WDI) (Chỉ số Phát triển Thế giới), World Bank (Ngân hàng Thế giới)
Lưu ý: Tất cả dữ liệu thô được lấy từ cơ sở dữ liệu WDI. Chi tiêu tính theo % của GDP cũng như Thay đổi trong hàng tồn kho được tính bằng tay. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen



Laura Alfaro và cộng sự 21 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Bảng 5. Cán cân Thanh toán, tỷ đô la Mỹ

1975 1980 1985 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004

Tài khoản vãng lai
XK hàng hóa: FOB 3,0 8,2 10,1 23,3 44,4 73,5 77,6 84,2 89,6 98,7
NK hàng hóa: FOB -3,5 -10,5 -9,5 -19,4 -30,9 -48,5 -50,4 -50,8 -51,8 -59,2
Cán cân thương mại -0,5 -2,2 0,6 3,9 13,6 25,0 27,3 33,4 37,8 39,6
Dịch vụ: Có 0,6 1,4 1,3 3,4 5,0 18,5 23,5 28,6 38,0 47,2
Dịch vụ: Nợ -0,5 -1,6 -1,5 -5,2 -11,3 -31,3 -35,3 -42,0 -52,3 -58,5
Cán cân Hàng hóa và Dịch vụ -0,5 -2,4 0,4 2,2 7,3 12,3 15,4 20,1 23,5 28,2
Thu nhập: Có 0,3 0,8 0,8 3,3 5,1 27,6 28,9 27,3 32,2 38,5
Thu nhập: Nợ -0,4 -1,7 -2,9 -8,2 -12,4 -4,2 -45,2 -49,5 -58,3 -68,0
Cán cân Hàng hóa và Dịch vụ
và Thu nhập
-0,5 -3,3 -1,7 -2,7 -0,1 -1,3 -1,0 -2,1 -2,6 -1,2
Chuyển nhượng hiện tại, NIE, Có 0,5 1,4 1,3 3,1 3,0 4,1 7,4 7,7 7,2 7,0
Chuyển nhượng hiện tại, Nợ -0,1 -0,2 -0,3 -0,7 -1,2 -3,4 -7,1 -7,0 -6,6 -6,5
Tài khoản vãng lai, NIE -0,1 -2,1 -0,7 -0,4 1,7 -0,5 -0,7 -1,4 -2,1 -0,7

Cán cân thương mại theo % GDP
Tài khoản vãng lai, NIE -1,4 -23,4 -8,1 -4,0 18,9 -5,7 -7,6 -15,4 -23,1 -8,2
Hàng hóa: XK FOB 33,3 39,4 49,7 49,3 66,8 77,6 75,8 69,3 73,6 64,2
Hàng hóa: NK FOB -38,7 -50,1 -46,6 -41,0 -46,4 -51,2 -49,2 -41,8 -42,5 -38,5
Cán cân thương mại -5,3 -10,7 3,1 8,3 20,4 26,4 26,6 27,5 31,1 25,7



Bảng 6. Các mối liên kết của các công ty nước ngoài trong ngành công nghiệp chế biến:
nguyên liệu thô của Ailen tính theo tỷ lệ phần trăm tổng mua nguyên liệu thô.

1986 1989 1992 1995
Công nghiệp chế biên không phải là thực phẩm 16,2% 16,5% 19,2% 19,8%
(Triệu bảng Ailen) 353 546 734 1.326
Nguồn: Forfás
Lưu ý: Không tính đến Thực phẩm, Đồ uống và Thuốc lá Bảng 7a. Điều tra về tác động kinh tế của các công ty do IDA hỗ trợ (tỷ euro)
Điều tra 1999 2000 2001 2002

Doanh số 42,9 64,02 67,79 69,34
Xuất khẩu 38,2 58,22 63,14 65,17
Chi tiêu trực tiếp trong nền kinh tế trong đó 11,6 14,26 14,93 14,73
Chi phí tổng quỹ lương 4,0 5,04 5,44 5,34
Nguyên liệu của Ailen 4,7 4,28 4,51 4,38
Dịch vụ của Ailen 3,0 4,94 4,98 5,01
Chi tiêu trực tiếp tính theo % doanh số 27,1 22,30 22,00 21,20
Nguồn: Lấy từ Điều tra Kinh doanh hàng năm về Tác động Kinh tế được thực hiện bởi Forfás và quản lý
bởi Ban Điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội (ESRI).
Lưu ý: Cuộc điều tra này được tiến hành đối với các công ty chế tạo và dịch vụ thương mại quốc tế có từ 10
nhân viên trở lên (loại trừ các công ty IFSC). Các kết quả có thể khác biệt so với các ước lượng trước đây
do số liệu chỉnh sửa lại của các công ty và do sự khác biệt trong cơ sở những công ty trả lời từ giai đoạn của
cuộc điều tra này sang cuộc điều tra khác. Bảng 7b. Nước xuất xứ của các công ty do IDA hỗ trợ, 2003

Quốc tịch chủ sở hữu Số lượng nhà
máy
Tổng số nhà
máy tham
gia
Tổng sản
lượng
Mua nguyên
liệu
% tổng sản
lượng được
xuất khẩu

% nhập khẩu

Ailen 3.854 111.167 10.379 21,7 35,3
Các nước EU khác 318 35.345 3.373 58,4 61,9
trong đó Anh 112 12.763 1.575 45,1 39,0
trong đó Đức 100 10.866 636 79,6 92,3
Không phải EU 372 55.491 11.152 68,0 92,8
trong đó Hoa Kỳ 267 42.806 8.814 64,3 96,0
Tổng cộng nước ngoài 690 88.836 14.525 65,6 85,6
Tổng cộng 4.544 200.003 24.904 42,3 64,7
Nguồn: Tổng Điều tra về Sản xuất Công nghiệp. Lấy từ Frank Barry và John Bradley, “FDI and Trade: the
Irish host-country experience (FDI và Thương mại: kinh nghiệm của nước Ailen tiếp nhận đầu tư)”, Bài
nghiên cứu trình bày tại Hội nghị Cộng đồng Kinh tế học Hoàng gia hàng năm, Đại học Staffordshire, từ
ngày 24-26 tháng Ba năm 1993. Bảng 9. Số liệu thống kê về ngành công nghiệp phần mềm, 1991-1997

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 25 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Bảng 10. Việc làm trong các công ty do IDA hỗ trợ

1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Số công việc mới tạo ra 6904 7075 8216 9961 11958 13220 14685 15946 17613 22994 12802 11059 9182
Số công ty 847 857 976 908 961 1037 1099 1158 1266 1250 1148 1102 1054
Việc làm toàn thời gian 75018 76218 78915 85597 92424 99583 108231 117864 126199 141125 136277 132004 128993
Thay đổi ròng trong việc làm toàn thời gian 1278 1200 2697 4493 6827 7159 9648 9633 8335 14926 -4848 -4273 -3011
% thay đổi ròng 1,7% 1,6% 3,5% 6,3% 8,0% 7,7% 9,7% 7,9% 7,1% 11,8% -3,4% -3,1% -2,3%
Công việc mất đi 5626 -5875 -5519 -5468 -5131 -6061 -5037 -7313 -9278 -8068 -17650 -15332 -12193
Công việc mất đi tính theo % tổng số việc làm 7,5% 7,7% 7,0% -6,4% -5,6% -6,1% -4,6% -6,2% -7,4% -5,7% -13,0% -11,6% -9,5%
Việc làm khác 3444 4288 5334 9022 11579 9488 13540 15195 15655 14802 12395 12362 14577
Nguồn: Lấy từ Điều tra Việc làm của Forfás, Báo cáo Thường niên của IDA 2000, 2003.
Bảng 11. Hội nghị về Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp Quốc, UNCTAD, WID, Hồ sơ quốc gia: Ailen
Lĩnh vực/Ngành/Vùng/Nền kinh tế
Toàn thế
giới
Các nươc
Phát triển
Liên minh
châu Âu
Bỉ
Đan Mạch

Các sản phẩm chế biến khác 53,1 53,1
Ngành cấp hai chưa xác định 2,9 768,2 319,1 18,4 73,6 82,2 74,7 50,4 15,7 232 -227,8 387,9 46 342 61,2 -765,3
Nguồn: Lấy từ Điều tra Việc làm của Forfás, Báo cáo Thường niên của IDA 2000, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status