MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................. 1
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ............................................................................................................ 2
1. Khái niệm và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài .............................. 2
2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ..................................................... 2
3. Đặc điểm của FDI ............................................................................................... 2
4. Vai trò của FDI ................................................................................................... 3
4.1. Xét trên giác độ nước đi đầu tư .................................................................. 3
4.1.1. Tác động tích cực ...................................................................... 3
4.1.2 Tác động tiêu cực ........................................................................ 3
4.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư .................................................................... 4
4.2.1. Tác động tích cực ....................................................................... 4
4.2.2. Tác động tiêu cực ....................................................................... 4
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI .......................................................... 5
5.1. Nhóm nhân tố thuộc về nước tiếp nhận đầu tư ............................................ 5
5.1.1. Môi trường chính trị- xã hội ....................................................... 5
5.1.2. Môi trường kinh tế vĩ mô ............................................................ 5
5.1.3. Hệ thống luật pháp .................................................................... 5
5.1.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng .............................................................. 5
5.1.5. Trình độ của nước tiếp nhận ...................................................... 6
5.1.6. Chính sách của nước tiếp nhận đối với FDI .............................. 6
5.2. Nhân tố quốc tế ........................................................................................... 6
PHẦN II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO
VIỆT NAM THỜI GIAN QUA ................................................................................. 7
1. Tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
thời gian qua. .......................................................................................................... 7
1.1. Giai đoạn 1988-1990 .................................................................................. 7
1.2. Giai đoạn 1991-1996 .................................................................................. 7
1.3. Giai đoạn 1997-1999 .................................................................................. 8
được các mục tiêu đã đề ra, vốn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết
định sự thành công hay thất bại của mỗi quốc gia. Vì vậy thu hút vốn và sử dụng vốn
có hiệu quả là vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nước, đặc biệt đối
với một quốc gia thiếu vốn như Việt Nam thì việc tìm câu trả lời cho ba câu hỏi: Huy
động vốn ở đâu? Làm thế nào để huy động vốn? Và đồng vốn được đưa vào sử dụng
như thế nào? đã trở nên hết sức cần thiết, thậm chí là bức thiết trong giai đoạn hiện
nay.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu khi xem xét nguồn
vốn đầu tư, bởi nó đóng góp to lớn cả về số lượng, chất lượng lẫn vai trò. Trong
những năm gần đây, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, có rất nhiều quốc
gia trên thế giới tham gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, trong đó bên cạnh những
quốc gia đứng đầu như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…phải kể đến Trung Quốc. Đây là
một đối tác hiện chỉ đứng thứ 14 trong tổng số 91 quốc gia đầu tư vào Việt Nam
nhưng lại được coi là một đối tác đầu tư đầy tiềm năng của nước ta bởi Trung Quốc
có thực lực kinh tế mạnh, nền kinh tế phát triển không ngừng, nguồn công nghệ phù
hợp với trình độ phát triển của Việt Nam và thêm vào đó lại là một nước láng giềng
có rất nhiều nét tương đồng với nước ta cả về văn hóa, chính trị, kinh tế…Do đó việc
nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, từ đó tìm ra
các nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn tồn tại để đưa ra được các kiến nghị và giải
pháp thu hút nguồn đầu tư này cho tương xứng với tiềm năng là rất cần thiết. Vì vậy
em đã chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam” làm đề tài đề
án môn học.
Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như hiểu biết nên bài viết còn nhiều
thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để em có thể
hoàn thiện bài viết.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS. Nguyễn Như Bình đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành bài viết này.
1
PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và cũng do
họ quản lý toàn bộ.
Thứ ba: Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia
cho các bên theo tỷ lệ góp vốn vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và
trả lợi tức cổ phần (nếu có).
Thứ tư: FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,
mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để
thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
4. Vai trò của FDI
Với đặc điểm và các hình thức thực hiện cụ thể, FDI thể hiện vai trò cũng như
tác động rất khác nhau đối với nước đi đầu tư và nước tiếp nhận.
4.1. Xét trên giác độ nước đi đầu tư
4.1.1. Tác động tích cực
Đối với nước đi đầu tư, FDI có những tác động tích cực chủ yếu sau:
Trước hết, có thể đảm bảo hiệu quả của vốn FDI cao do chủ đầu tư nước ngoài
trực tiếp quản lý và điều hành dự án nên họ thường có trách nhiệm cao, thường đưa
ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
Thứ hai: chủ đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm
nguyên liệu, cả công nghệ và thiết bị trong khu vực và trên thế giới.
Tiếp đến là có thể nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn FDI, tăng năng suất và thu
nhập quốc dân do giảm giá thành sản phẩm nhờ khai thác được nguồn lao động giá rẻ
hoặc gần nguồn nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra thông
qua FDI chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp của mình nằm trong
lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ, từ đó tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch
và phi mậu dịch của nước sở tại.
4.1.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, FDI còn có thể đem lại cho nước đi đầu tư
những tác động tiêu cực, cụ thể như:
Một là: các quốc gia chủ nhà có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu do các doanh
nghiệp lao mạnh ra nước ngoài đầu tư để tìm lợi khi chính phủ các nước đi đầu tư
Hai là: Có thể nhận chuyển giao từ các nước đi đầu tư các công nghệ không phù
hợp với nền kinh tế trong nước, gây ô nhiễm môi trường.
Ba là: Các lĩnh vực và địa bàn đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của các nhà
đầu tư nước ngoài, mà nhiều khi nó không theo ý muốn của nước tiếp nhận. điều đó
cũng đồng nghĩa với việc chủ động trong bố trí cơ cấu đầu tư bị hạn chế.
4
Bốn là: Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng tới cán cân thanh
toán của nước nhận.
Ngoài ra FDI còn có thể đem lại những tác động tiêu cực khác như bị thua thiệt
do vấn đề giá chuyển nhượng nội bộ từ các công ty quốc tế (công ty xuyên quốc, đa
quốc gia), hoặc hiệu quả của hợp tác đầu tư kém do trình độ của đối tác nước tiếp
nhận thấp…
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI
5.1. Nhóm nhân tố thuộc về nước tiếp nhận đầu tư
5.1.1. Môi trường chính trị- xã hội
Sự ổn định của môi trường chính trị -xã hội của nước tiếp nhận đầu tư có ý
nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là
đầu tư nước ngoài, nếu môi trường chính trị không ổn định đặc biệt là thể chế chính
trị sẽ khiến lòng tin của các nhà đầu tư giảm sút do họ phải gánh chịu những thiệt
hại.Ngoài ra khi tình hình chính trị -xã hội không ổn định, nhà nước không đủ khả
năng kiểm soát hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài, hậu quả là các nhà đầu tư
hoạt động không theo định hướng phát triển kinh tế -xã hội mà nước tiếp nhận đề ra,
do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp.
5.1.2. Môi trường kinh tế vĩ mô
Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư và là điều đặc biệt
quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài. Để thu hút được FDI,
nền kinh tế của nước tiếp nhận phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư, là
nơi có khả năng sinh lời cao hơn các nơi khác. Hơn nữa môi trường kinh tế vĩ mô có
ổn định thì mới có điều kiện sử dụng tốt FDI.
5.1.3. Hệ thống luật pháp
động thì các nguồn đầu vào và đầu ra của các dự án thường thay đổi, các nhà đầu tư
gặp khó khăn rất nhiều về kinh tế nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả FDI, ngoài ra
nước chủ nhà phải thay đổi chính sách để phù hợp tình hình thực tế, các nhà đầu tư
nước ngoài mất thời gian tìm hiểu và thích nghi với sự thay đổi đó, đồng thời tình
hình của chính nước đầu tư cũng có thể bị ảnh hưởng nên họ phải tìm hướng đầu tư
mới dẫn đến có sự thay đổi chiến lược đầu tư nước ngoài của họ.
6
PHẦN II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG
QUỐC VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
1. Tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam thời
gian qua.
Năm 1987 trước tình hình quốc tế chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tan vỡ,
các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam và tình hình trong nước bị tàn phá
nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế lạc hậu, lâm vào tình trạng sản xuất trì trệ, khủng
hoảng trầm trọng, để khôi phục và phát triển kinh tế nước ta đã chủ trương mở cửa
nền kinh tế, thực hiện công cuộc “đổi mới” toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện,
nâng Điều Lệ Đầu tư năm 1977 thành Bộ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987. Sự ra đời của bộ Luật này đã tạo môi trường pháp lý để thu hút vốn FDI vào
Việt Nam, nhờ đó công cuộc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta đã đạt
được một số thành tựu đáng kể.
1.1. Giai đoạn 1988-1990
Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam nên kết quả thu hút vốn FDI còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6
tỷ USD), FDI chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước.
Thời kỳ này việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài còn ít, quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân của một dự án đạt
11,6 triệu USD, và ngay từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, nước ta
đã chú trọng thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp- xây dựng.
1.2. Giai đoạn 1991-1996
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn FDI đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn đăng
USD), vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công
nghiệp đạt khoảng 65,7%, đối tác đầu tư chủ yếu là các nhà đầu tư châu Á chiếm
khoảng 67%. Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại vùng trọng
điểm phía Nam (68,1%) và vùng trọng điểm phía Bắc (20,4%). Quy mô dự án tăng
lên 12,3 triệu USD. Giai đoạn này mặc dù có ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng
kinh tế khu vực vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước,
chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, trong đó đóng góp của Bên Việt Nam là 1,4 tỷ
USD và vốn từ nước ngoài đạt 12 tỷ USD.
1.4. Giai đoạn 2000-2006
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục
hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm
1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng
91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và
có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước;
năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20
8
năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm
1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ
USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của
Chính phủ,vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung
trong 5 năm 2001-2005, vốn FDI cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm
trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và
nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn FDI vào nước ta đã tăng đáng kể
(32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh
vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao,...) và dịch vụ (cảng
biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho
thấy dấu hiệu của “làn sóng FDI” thứ hai vào Việt Nam.
Trong 5 năm 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt 18% so
với dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước, trong đó lượng vốn tăng thêm