[email protected]
Câu 1. Cơ sở hình thành tư tưởng HCM. Giá trị tư tưởng HCM?
Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CMVN,
từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến CMXHCN, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và
trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
-Giá trị truyền thống dân tộc:
Lịch sử hàng ngàn năm dụng nước và giữ nước đã hình thành
Cho giá trị VN các giá trị truyền thống dtộc
+ CN yêu nước là cốt lõi của tt Vhóa truyền thống VN.
+ Đoàn kết, tương thân tương ái cũng là truyền thống quý báu .
+ Ngoài ra còn có truyền thống cần cù, thông minh, dũng cảm, yêu lao động ham học hỏi.
-Tinh hoa văn hóa nhân loại: HCM đã biết làm giàu vốn văn hóa của dân tộc mình bằng cách học
hỏi tiếp thu tt văn hóa phương đông, phương tây:
Tư tưởng VH phương đông:
+ Người đã phê phán bác bỏ những yếu tố duy tâm, lạc hậu của nho giáo tiếp thu yếu tố tích cực.
+ Phật giáo tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…
+ Chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn. HCM tìm thấy những điều thích hợp với điều kiện nước
ta đó là dân tộc độc lập. dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.
Tư tưởng HCM văn hóa phương tây:
HCM đã nghiên cứu tiếp thu tư tưởng VH dân chủ và CM của CM pháp, CM Mỹ.
+CM Pháp người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng tự do bình đẳng.
+CM Mỹ. Người tiếp thu giá trị về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
- CN Mác Lênin: CN Mac-lenin là nguồn gốc lý luận trực tiếp và quan trọng nhất, quyết định bản
chất của tư tưởng HCM. HCM khẳng định “ CN ML đối với chúng ta, những người CM và nhân
dân VN. Không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi
sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa XH và CNCS”
[email protected]
TRONG ĐÓ YẾU TỐ CN MAC LÊ LÀ QUAN TRỌNG NHẤT:
CN Mac Lennin làm nòng cốt trong Đảng ai cũng phải hiểu ai cũng phải theo CN ấy. Đảng mà
không có CN ấy thì sẽ như người không có trí không, tàu không có kim chi nam”
giành đldt để tiến lên xd CNXH, Người cũng có những nhận thức sâu sắc về mqh chặt chẽ giữa vấn
đề gt với vấn đề gc trong CMGPDT theo con đường CMVS
· Người chỉ rõ tính tự thân vận động của cuộc đtr gpdt ở các nước thuộc địa, về mqh giữa CMGPDT
ở thuộc địa với CNVS ở chính quốc.
+ Tìm ra các giải pháp đấu tranh gp loài người
· HCM đã giải quyết đúng đắn vấn đề Làm cách nào để gp các dt thuộc địa, Người xác định CNĐQ
là kẻ thù lớn nhất của các dt bị áp bức và để chiến thắng CNĐQ, cần phải thực hiện Đại đoàn kết,
Đại hòa hợp
· HCM đã không mệt mỏi để gắn CMVN với CMTG. Người đặt CMGPDT thuộc địa vào phạm trù
CMVS.
Câu 2. Tư tưởng HCM về cách mạng GPDT?
Là hệ thống các quan điểm về con đường cứu nước, về tổ chức lực lượng, chiến lược, sách lược và
những nhân tố bảo đảm thắng lợi của CM giải phóng dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa
khỏi chủ nghĩa thực dân đế quốc, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân
chủ và giàu mạnh,… Đây là đóng góp xuất sắc nhất của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác Lê
Nin… Vì vậy được suy tôn là anh hùng giải phóng dân tộc.
1. CM giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải theo con đường CM vô sản:
Trước những thất bại và bế tắc của các phong trào chống Pháp, Nguyễn Tất Thành tìm đường cứu
nước, Người nghiên cứu 3 cuộc CM điển hình: CM Mỹ 1776, CM tư sản Pháp 1789 và CM tháng
10 Nga, Người rút ra kết luận:
CM Pháp cũng như CM Mỹ đều là CM tư sản, CM không đến nơi, tiếng là Cộng hòa dân chủ, kỳ
thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa, chúng ta đã hi sinh làm CM thì
[email protected]
làm đến nơi, làm sao khi CM rồi thì quyền giao lại cho dân chúng số nhiều, thế thì dân chúng khỏi
phải hi sinh nhiều lần, dân chúng mới hạnh phúc.
Trong thế giới bây giờ chỉ có CM tháng 10 là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng
được hưởng hạnh phúc tự do bình đẳng thật sự.
Tiếp xúc với luận cương của Lê Nin, Người tìm thấy ở đó con đường giải phóng dân tộc và chỉ rõ:
Các đế quốc vừa xâu xé thuộc địa, vừa liên kết nhau đàn áp CM thuộc địa; Thuộc địa cung cấp của
cải và binh lính đánh thuê cho đế quốc để đàn áp CM chính quốc và thuộc địa. Vì thế giai cấp vô
anh sỹ, thông ngôn, ký lục, bồi bếp mà không có công, nông.
4. CM giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng
lợi trước CM vô sản chính quốc:
Khi CN Đế quốc xâm lược thuộc địa, CM giải phóng dân tộc có khuynh hướng phát triển, nhưng
lúc đó quốc tế CS lại đánh giá thấp CM giải phóng thuộc địa.
Nghiên cứu luận cương của Lê Nin về CM thuộc địa và xuất phát từ áp bức của CN Đế quốc với
thuộc địa, Hồ Chí Minh lập luận về nguyên nhân của CM thuộc địa : “ Người Đông Dương không
được học, nhưng đau khổ, đói nghèo và sự bạo ngược của CN Thực Dân là người thầy dạy mầu
nhiệm của họ; người Đông Dương sẽ tiến bộ một cách nhanh chóng khi thời cơ cho phép và họ biết
tỏ ra xứng đáng với những người thầy dạy của họ.””Không, người Đông Dương không chết, người
Đông Duơng sống mãi. Bên cạnh sự phục tùng tiêu cực, Người Đông Dương sống âm ỷ và sẽ bùng
nổ mãnh liệt khi thời cơ đến.”
Tại ĐH V Quốc tế CS (6/1924): Nguyễn Ái Quốc lập luận về vai trò của CM thuộc địa: "Vận mệnh
của giai cấp vô sản ở các chính quốc gắn chặt với vận mệnh các giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa.
Nọc độc và sức sống của rắn độc TBCN đang tập trung ở các thuộc địa, nếu khinh thường CM
thuộc địa là muốn đánh rắn chết đằng đuôi.”
(CM thuộc địa đánh dập đầu rắn độc TBCN).
Hồ Chí Minh chỉ rõ tính chủ động của CM thuộc địa: Thuộc địa là mắc xích yếu nhất trong hệ
thống CNĐQ, trong khi đó nhân dân thuộc địa luôn có tinh thần yêu nước, căm thù xâm lược, họ sẽ
vùng lên khi thời cơ đến. Vì vậy, năm 1924 Nguyễn Ái Quốc khẳng định: CM thuộc địa không
những không phụ thuộc vào CMVS chính quốc mà có thể nổ ra và giành thắng lợi trước CM chính
[email protected]
quốc và khi hoàn thành CM thuộc địa họ có thể giúp đỡ giai cấp vô sản chính quốc phương Tây
trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.
CM thuộc địa phải chủ động giành thắng lợi trước CMVS chính quốc, CM thuộc địa chỉ có thể dựa
vào sự nỗ lực của nhân dân thuộc địa, phải đem sức ta tự giải phóng cho ta.
5. CM giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng
chính trị của quần chúng với lực lượng nhân dân:
Theo CN Mác Lê Nin, có nhiều phương pháp giành chính quyền từ tay giai cấp thống trị. Những kẻ
thù không bao giờ tự nguyện giao chính quyền cho nhân dân. Vì vậy CM muốn thắng lợi phải dùng
GCCN-giai cấp trung tâm của thời đại. NAQ trực tiếp tham gia phong trào công nhân, khi trở thành
người cộng sản Người đã tìm hiểu và viết nhiều bài về GCCN (ấn, nhật, trung, thổ nhĩ kỳ ). Tuy
hoạt động ở nước ngoài người vẫn theo dõi phong trào công nhân ở VN. Năm 1922, lần đầu công
nhân ở chợ lớn bãi công, NAQ coi đó là "dấu hiệu chứng tỏ GCCN đã bắt đầu giác ngộ về lực
lượng và giá trị của mình" "chúng ta phải ghi lấy dấu hiệu của thời đại". "GCCN ở chính quốc
không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những người anh em ở đấy bằng lời nói mà thôi, mà còn phải
giác ngộ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và pp tổ chức".
+ HCM tiếp cận CNXH từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dt.
- Từ đặc điểm ls dt: nước ta không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ mang đậm dấu ấn phong kiến
phương đông, mâu thuận giai cấp không gay gắt, quyết liệt, kéo dài, như ở phương tây, do đó hình
thành quốc gia dt từ sớm; ngày từ buổi đầu dựng nước, chúng ta liên tục phải đấu tranh chống ngoại
xâm, hình thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống; Là nước nông nghiệp, lấy đất và nước làm nền
tảng với chế độ công điền hình thành cộng đồng thêm bền chặt. Tất cả điều này là giá trị cơ bản của
[email protected]
tinh thần và tư tưởng XHCN ở VN: tinh thần yêu nước, yêu thường đùm bọc trong họan nạn đấu
tranh, cố kết cộng động quốc gia dt.
- Từ truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc riêng: đó là nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, trừ độc,
trừ tham, trọng đạo lý; nền văn hóa mang tính dân chủ; có tính chất khoan dung; một dt trọng hiền
tại; hiếu học
- Tư duy triết học phương đông: coi trọng hòa đồng, đạo đức nhân nghĩa. HCM quan niệm, CNXH
là thống nhất với văn hóa, đạo đức, "CNXH là giai đoạn phát triển cảo hơn so với CNTB về mặt
văn hóa và giải phóng con người".
+ HCM tiếp cận CNXH từ yêu cầu thực tiễn của CMVN và xu hướng phát triển của thời đại.
- CMVN đầu thế kỷ 20 đặt ra yêu cầu khách quan là tìm 1 ý thức hệ mới đủ sức vạch ra đường lối
và phương pháp CM đúng đắn đem lại thắng lợi cho CMVN. CMVN đòi hỏi có 1 giai cấp tiên tiến
đại diện cho phương thức sx mới, có hệ tư tưởng độc lập, có ý thức tổ chức và trở thành giai cấp tự
giác đứng lên làm cách mạng. HCM sớm nhìn thấy phong trào yêu nước VN đang rơi vào khủng
hoảng về đường lối, vì vậy cách mạng chưa đem lại gpdt. Tư tưởng độc lập dt gắn liền với CNXH
xuất phát từ thực tiễn CMVN.
- CMT10 Nga giành thắng lợi đã mở ra con đường hiện thực cho gpdt ở phương đông: độc lập dt
+ Về kt: Xây dựng kt XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên
tiến; hình thành sở hữu nhà nước-nó phải lãnh đạo kt quốc dân. CNXH chỉ thắng CNTB khi nào có
năng suất lao động cao hơn hẳn. Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là quy luật tất yếu có thể thực hiện
bằng nhiều cách khác nhau. "Làm trái với LX cũng là Mác-xít".
+ Về văn hóa: có văn hóa phát triển cao (vừa mang tính chất XHCN, vừa mang tính chất dt-tức là
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dt). Đó là nền văn hóa lấy hạnh phúc của đồng bào, dt làm cơ
[email protected]
sở để phát triển, văn hóa "phải sửa đổi được thói tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ". "Phải làm
cho ai cũng có lý tưởng, tự chủ, độc lập, tự do".
+ Về mối quan hệ xh: thực hiện công bằng, dân chủ; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với
người; quan tâm thực hiện chính sách xh.
+ Về con người XHCN, phải có phẩm chất cơ bản sau:
Con người có tinh thần và năng lực làm chủ; có đạo đức XHCN: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư; có kiến thức khoa học kỹ thuật; có tinh thần sáng tạo, nhạy bén với cái mới. Đó cũng là động lực
quan trọng nhất để xây dựng thành công CNXH.
Phải quan tâm đến phụ nữ (1 nửa của xh), phải giải phóng phụ nữ, xây dựng bình đẳng nam-nữ.
Về động lực của CNXH
+ Phát huy các nguồn động lực cho việc xây dựng CNXH: vốn, khoa học công nghệ, con người
(năng lực của con người); trong đó lấy con người làm động lực quyết định. "CNXH chỉ có thể xây
dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người".
Phát huy động lực con người trên cả hai phương diện: cộng đồng và cá nhân. Phát huy động lực của
cộng đồng là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết- động lực chủ yếu để phát triển đất nước.
Phát huy sức mạnh của cá nhân trên cơ sở kích thích hành động gắn liền với lợi ích vật chất chính
đáng của người lao động; "phải chăm nom đến chỗ ăn, chỗ ở, việc làm của nhân dân". "Nếu dân
đói, Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân rét, đảng và chính phủ có lỗi".
Tác động cả về chính trị và tinh thần trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động và ý
thức làm chủ. Sau vấn đề dân chủ là thực hiện công bằng xh, đặc biệt là trong phân phối phải theo
nguyên tắc: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng". Tránh bình quân, Bác nêu khẩu hiệu 3 khoán
và 1 thưởng. Thưởng phạt công minh. "Khoán là 1 điều kiện của CNXH ". Sử dụng vai trò điều
chỉnh các nhân tố tinh thần khác như: văn hóa, đạo đức, pháp luật đối với hoạt động của con người.
ĐCSVN là nhân tố quyết định hàng đầu mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
- Cách mạng tất yếu phải có Đảng lãnh đạo.
- Làm cho sức mạnh khả năng của quần chúng nhân trở thành sức mạnh vật chất.
- Trước và sau thành quả cách mạng, quần chúng luôn cần có Đảng lãnh đạo.
- Đảng lãnh đạo cả trên ba phương diện: Đảng viên, tổ chức và ĐL, CT, CS.
3. Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhânViệt Nam
+ Mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
+ Nền tảng tư tưởng – lý luận của Đảng.
+ Nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng.
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của nhân dân lao động, là Đảng của dân tộc Việt Nam
+ Cơ sở xã hội của Đảng.
+ Lợi ích mà Đảng đại diện.
4. Quan niệm về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền
- Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền và trở thành Đảng cầm quyền
- Quan niệm của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền
+ Mục đích, lý tưởng của Đảng cầm quyền: ĐLDT gắn liền với CNXH.
+ Đảng cầm quyền vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
+ Đảng cầm quyền, dân là chủ.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
SẠCH, VỮNG MẠNH
1. Xây dựng Đảng – quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
- Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn và đổi mới
+ Mục đích xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
+ Nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Quan điểm chỉ đạo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
+ Đảng viên phải là tấm gương về đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
[email protected]
2. Nội dung công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc và quốc tế trong sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
+ Chiến lược là cái nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng, thể hiện cả vấn đề lý luận lẫn vấn
đề thực tiễn. (43% bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề đoàn kết).
Đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất
quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.
- Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính
sách và phương pháp tập hợp lực lượng có thể và cần thiết điều chỉnh cho phù hợp với từng đối
tượng, song đại đoàn kết luôn là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng
Hồ Chí Minh đã khái quát thành luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết:
+ Đoàn kết làm ra sức mạnh: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta
nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ mà nhân
dân giao phó” ; “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy
thắng lợi” .
+ “Đoàn kết là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” .
+ Đoàn kết là then chốt của thành công. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;
Thành công, thành công, đại thành công” .
b) Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
- Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng,
mà đó là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc là một vấn
đề có tính đường lối, một chính sách nhất quán chứ không thể là một thủ đoạn chính trị.
Cách mạng muốn thành công, đường lối đúng đắn thôi chưa đủ, mà trên cơ sở đường lối đúng,
Đảng phải cụ thể hoá thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp với từng
giai đoạn lịch sử.
[email protected]
+ Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, Hồ Chí Minh nêu mục
đích của Đảng Lao động Việt Nam gồm 8 chữ: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”.
+ Năm 1963, khi nói chuyện với cán bộ tuyên truyền và huấn luyện miền núi về cách mạng XHCN,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn
là làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc: Một là đoàn kết. Hai là làm cách mạng
hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đích của tuyên truyền huấn
phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng
hơn là “Trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.
“Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa
xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi
người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
Hai là: yêu thương con người.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình
yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu
thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết:
"Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền
ngược, là trẻ hay già, trai hay gái không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam
yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.
[email protected]
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng
bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong
lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị
mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng
người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện
trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời".
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán
bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.
Ba là: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. - Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù,
siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh
sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng,
là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản
thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ,