ĐỀ TÀI: TÀI NGUYÊN CÓ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI VÀ KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI - Pdf 15

Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
VIỆN KHCN & QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
−−−−−−−−−−−−
MÔN : MÔI TRƯỜNG CƠ BẢN
ĐỀ TÀI:
TÀI NGUYÊN CÓ KHẢ NĂNG PHỤC
HỒI VÀ KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG PHỤC
HỒI
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 1

Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
MỤC LỤC
Trang
• Mở đầu
1.Giới thiệu chung 3

2.Đối tượng nghiên cứu 3

3.Phương pháp nghiên cứu 4
4.Phạm vi nghiên cứu 4
5.Kết quả nghiên cứu 5
• Nội dung
1. Tình hình giao thông hiện nay ở thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
a)Thế giới 5
b)Việt Nam 7

2.Thành phần các chất ô nhiễm trong hoạt động giao thông 13
a)Tồn tại các chất trong môi trường không khí 13

• PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề:
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 3
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
Ô nhiễm không khí (ONKK) ngày càng gia tăng ở các quốc gia trên thế giới và
đặc biệt là ở viêt nam. Nó đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công
nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí có tác
động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh
hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy
giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn
thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng
không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng
quan trọng. ONKK là do rất nhiều yếu tố tiêu biểu của văn minh hiện đại: sự đô thị
hóa gia tăng sản xuất năng lượng, luyện kim, giao thông, đốt rác… Cùng với quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá, phương tiện giao thông cơ giới ở nước ta tăng lên rất
nhanh, đặc biệt là ở các đô thị. Nguồn thải từ giao thông vận tải đã trở thành một
nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô thị. Theo đánh giá của
chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm
tỷ lệ khoảng 70%.
Tự nhiên
Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng. Tổng hợp các yếu tố gây ô
nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên toàn thế
giới, không tập trung trong một vùng.Chúng tạo ra các khí độc như CO, CO2, SO2,
NOx, và các khí nhu S ,P …gây ô nhiễm nguồn không khí

4. Phạm vi nghiên cứu: ở Việt Nam và trên thế giới.
5. Kết quả nghiên cứu: do hoạt động giao thông các khí thải thải ra môi trường ảnh
hưởng rất lớn đến môi trường sống, hoạt động sống của con người, đề xuất những giải
pháp khắc phục hiện trạng ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông gây ra.
• PHẦN II: NỘI DUNG
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 5
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
1) Tình hình giao thông hiện nay ở Thế Giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
a) Thế Giới: sự phát triển công nghiệp giao thông vận tải thường đi đôi với sự phát triển
kinh tế và đô thị hóa của từng quốc gia khác nhau ,qua những phương diện và tiềm
năng phát triển phát nhau . Các quốc gia phát triển thì lượng phương tiện hiện đại
chiếm đa số , chúng gây tiêu hao một lượng lớn năng lượng và thải ra lượng khí nguy
hại cao do sự phát triển mạnh của ngành hàng không và nghành công nghệ ô tô. Ở
các nước đang phát triển lượng phương tiện giao thông vận tải tuy có phần thô sơ
nhưng do tình trạng “phát triển kinh tế trước và bảo vệ môi trường sau” vì thế cũng
gây nguy hiểm rất nhiều cho môi trường không khí và các môi trường khác trong hệ
sinh thái. Sau đây là tình hình giao thông vận tải của một số quốc gia trên thế giới :
• Roma: có diện tích hơn 5.000km2 với dân số gần 4 triệu người. Khoảng 2 triệu ô tô
và hơn 500.000 xe máy và xe tay ga được đăng ký lưu hành tại Roma. Cơ cấu tham
gia giao thông tại Roma gồm 60% là các phương tiện cá nhân và 40% là phương tiện
công cộng và đi bộ.Tình trạng mật độ người và các phương tiện giao thông cao đã gây
ra cho thành phố này hai vấn đề tương hỗ, đó là ùn tắc giao thông và suy thoái môi
trường.
• Hoa Kì: có nền công nghệ ô tô phát triển nhất nhì trên thế giới, nhu cầu đi lại trong
sinh hoạt và vận chuyển hàng hóa trong sản xuất của người dân quốc gia này cũng rất
lớn. Hơn thế nữa như chúng ta đã biết thì trong công nghiệp hàng hải Hoa Kì là quốc
gia chiếm 50% tàu thuyền trên thế giới chúng hoạt động với công xuất rất lớn do nhu
cầu cần thiết của phương tiện này. Do đó các nhà chức trách hoa kì đang đề ra các
biện pháp để giải cứu sự ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí. Hệ
thống giao thông, chuyên chở của Hoa Kỳ đã bắt đầu bằng ngựa và thuyền. Giờ đây

Ở nước ta cũng như các nước đang phát triển khác nhìn chung nghành giao thông
vận tải cũng đang trên đà phát triển vượt quá sự kiểm soát của các nhà chức năng, vấn
đề này đã dẫn tới sự dư thừa các phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố, các
khu công nghiệp, và các khu đô thị hóa dẫn tới việc kẹt xe ở các tuyến đường quan
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 7
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
trọng vì thế ô nhiễm không khí ở nước ta tiến triển tương đối phức tạp và khó khăn
trong công tác quản lí, gây tổn thất về kinh tế và thời gian của các cá nhân và các cơ
quan đoàn thể.
• Hà Nội: Mười năm trước đây, xe đạp và xe xích lô là những phương tiện giao thông
chủ yếu trên các con đường tĩnh lặng đầy cây của thủ đô nước Việt. Giờ đây, có 1,8
triệu xe máy chen chúc trên các con phố, tạo nên bản hoà âm ồn ào và nhiễu loạn.
Kinh tế tăng trưởng, xe máy trở thành phương tiện giao thông phổ biến của người
Việt Nam. Cùng với sự gia tăng của ôtô trên các con đường, những phương tiện này
đã trở thành nguồn gây ô nhiễm lớn nhất ở quốc gia Đông Nam Á .
• Thực trạng ô nhiễm: Ô nhiễm môi trường đang là một vấn nạn của cả xã hội
TP.HCM có dân số đông, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, cùng với lưu
lượng phương tiện giao thông khổng lồ đang là nơi chịu ảnh hưởng ô nhiễm
nặng do khí thải gây ra.
Nạn kẹt xe ở thành phố Hồ Chí Minh vào các giờ cao điểm

Ô nhiễm môi trường đang là một vấn nạn của cả xã hội. TP.HCM có dân số đông,
nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, cùng với lưu lượng phương tiện giao thông khổng
lồ đang là nơi chịu ảnh hưởng ô nhiễm nặng do khí thải gây ra.
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 8
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật

Mật độ xe máy lưu thông ngày càng đông trên các đường phố

Đặc biệt là các điểm nút giao thông như: Ngã tư An Sương, ngã sáu Gò Vấp, ngã tư

VOCs.
Nhận thức được mức độ ô nhiễm không khí do quá trình đô thị hoá gây ra, từ năm
1994 TP.HCM đã bắt đầu chương trình quan trắc không khí bằng các trạm lấy mẫu
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 10
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
không khí tại các điểm nóng giao thông và các khu dân cư. Cho đến nay, TP.HCM đã
có 9 trạm quan trắc tự động và 6 trạm bán tự động.
Kết quả thu được (đặc biệt là từ các trạm bán tự động) cho thấy ô nhiễm không khí tại
TP.HCM đạt mức cao, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Phương tiện giao thông
không ngừng gia tăng đang làm cho không khí ngày càng bị ô nhiễm. Bên cạnh đó,
khí thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng là nguyên nhân quan trọng.
Trong năm 2008, bụi luôn là chỉ tiêu đáng lo ngại nhất khi có tới 89% giá trị quan
trắc không đạt TCCP. Qua quan trắc bán tự động cho thấy, nồng độ bụi tổng năm
2008 trung bình dao động khoảng 0,37mg/m3 – 0,78 mg/m3, vượt chuẩn cho phép từ
1,24 – 2,59 lần.
 Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm bụi:
Hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi trầm
trọng, tới mức báo động. Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn và ở gần các
nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn.Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở
xa đường giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới
xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép.Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn
như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số
tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ
bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá
trình thi công xây dựng nhà cửa, đường sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 - 20 lần.
Ở các thành phố, thị xã thuộc Đồng bằng Nam Bộ có mức ô nhiễm bụi trung bình cao
hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 đến 1,5 lần, như ở thành phố Cần Thơ, thị xã Rạch
Giá, thị xã Hà Tiên, thị xã Bến Tre. Nói chung, ô nhiễm bụi ở các tỉnh, thành miền

Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho,
nồng độ khí SO
2
trung bình ngày đều dưới 0,1 mg/m3, tức là thấp hơn trị số tiêu
chuẩn cho phép tới 3 lần.
Ô nhiễm các khí CO, NO
2
:
Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nồng
độ khí CO trung bình ngày dao động từ 2 - 5 mg/m
3
, nồng độ khí NO
2
trung bình ngày
dao động từ 0,04 - 0,09mg/m
3
, chúng đều nhỏ hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là ở
các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, nói chung chưa có hiện tượng ô nhiễm khí
CO và khí NO
2
. Tuy vậy, ở một số nút giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí CO và
khí NO
2
đã vượt trị số tiêu chuẩn cho phép, như ở ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện
Biên Phủ (thành phố Hồ Chí Minh) trị số trung bình ngày của năm 2001: 0,19, gấp
1,9 lần trị số tiêu chuẩn cho phép, nồng độ CO năm 2001: 15,48 gấp 3,1 lần trị số tiêu
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 12
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
chuẩn cho phép; tương tự, năm 2002 nồng độ khí NO
2

và NO
2
của nước ta chưa thể gây ra hiện tượng
mưa axít. Nhưng ô nhiễm không khí có thể xuyên qua biên giới giữa các nước, ô
nhiễm SO
2
, NO
2
của nước này có thể gây ra mưa axít ở nước khác.
2. Thành phần các chất ô nhiễm trong hoạt động giao thông.
a) Tồn tại các chất trong môi trường không khí:
− Giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và
khu đông dân cư. Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu
động cơ: CO, CO2, SO2, NOx,Pb, Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển.
Nếu xét trên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ
giao thông lớn và quy hoạch địa hình, đường xá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm nặng
cho hai bên đường
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 13
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật

Phát thải khí ô nhiễm từ hoạt động giao thông vận tải là nguồn lây nhiễm không khí
lớn nhất ở đô thị, chủ yếu gây ra ô nhiễm các loại khí độc hại như CO, NOx, hơi xăng
dầu, bụi chì, benzen và bụi PM2,5.
- Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí tại các đô thị Việt Nam do hoạt
động đô thị gây ra chiếm tỷ lệ 70%. Xét các nguồn thải gây ô nhiễm không khí trên
phạm vi toàn quốc, ước tính cho thấy hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85%
lượng khí CO, 95% lượng khí VOCs.
- Khối lượng khói thải từ hoạt động của các phương tiện giao thông, tuy không nhiều
như khí thải từ các nhà máy, xí nghiệp nhưng do chúng thải thấp (ngang tầm thở của
con người) tập trung ở khu vực nội thành, trong các trục đường, lại bị "bao vây" bởi

của tổ chức IEA năm 2006 cho thấy lĩnh vực giao thông vận tải gây phát thải 23%
tổng lượng CO
2
phát thải quy đổi toàn cầu.
b) Tác động môi trường và ảnh hưởng sức khỏe con người.
• Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) đã kêu gọi các chính phủ cải thiện chất lượng không
khí tại các thành phố. Theo WHO, “sự ô nhiễm không khí đã làm chết hai triệu người
mỗi năm”, với hơn một nửa tại các nước đang phát triển.Theo lời phát biểu của tổ
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 14
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
chức WHO, có văn phòng tại Manila, việc giảm sự ô nhiễm từ những hạt bụi nhỏ bám
vào mũi, họng và phổi có thể cứu được hơn 300.000 người mỗi năm.
WHO cũng đề ra những giới hạn cho phép để thải vào tầng ozon.Những khó khăn
đặc biệt là từ những nước đang phát triển, vào những ngày nắng, lượng ozon sẽ đạt
đến những mức cao nhất, gây ra những vấn đề về bệnh hô hấp và hen suyễn. WHO
cũng chỉ đạo việc cắt giảm lượng lưu huỳnh dioxit. Nhiều nước trên thế giới không có
sự điều chỉnh về vấn đề ô nhiễm không khí, làm cho việc điều khiển lượng khí thải
hầu như không đạt được đến thực tế.
Ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường được mệnh danh là kẻ giết người thầm
lặng. Ô nhiễm không khí không những gây nên các bệnh lý ở đường hô hấp, mà còn
ảnh hưởng lên Ngày càng gia tăng các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí.
Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí tại các đô thị Việt Nam do
hoạt động đô thị gây ra chiếm tỷ lệ 70% Xét các nguồn thải gây ô nhiễm không khí
trên phạm vi toàn quốc, ước tính cho thấy hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85%
lượng khí CO, 95% lượng khí VOCs. Cũng theo nhiều chuyên gia y tế, khí VOCs
(volatile organic compounds = VOCs) là những độc tố gây hại cho hệ thần kinh trung
ương và ngoại vi: các tác hại trên thần kinh trung ương gồm giảm trí nhớ, giảm khả
năng nhận thức, giảm khả năng phối hợp các động tác giữa mắt và tay, giữa mắt và
chân, khả năng giữ thăng bằng. VOCs có thể gây hư hại thận gây những vấn đề về
miễn nhiễm kể cả gia tăng tỷ lệ ung thư. Chúng được xem là có thể gây hiếm muộn,

• Thống kê của WMO cho biết 4 loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính phổ biến nhất
trong khí quyển là đioxít cácbon, mêtan, ôxít nitơ và clophloruacácbon (CFC). Riêng
lượng khí CO2 trong khí quyển đã tăng tới 37% kể từ thế kỷ 18.
Vai trò gây lên hiệu ứng nhà kính của các chất được sắp sếp theo thứ tự sau: CO
2
=>
CFC =>CH
4
=> O
3
=> NO
3
. Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác
dụng mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất.
• Giao thông vận tải phát triển quá nhanh , chưa co nhiều biện pháp hữu hiệu để xử lí,
sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của con người đang làm cho nông độ khí CO
2
của khí quyển gia tăng. Sự gia tăng của khí CO
2
và các khí nhà kính khác trong khí
quyển trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi
nồng độ CO
2
tăng gấp đôi thì nhiệt độ trái đất tăng 30
0
C kèm theo một số tác hại khác
như: Tăng nhiệt độ của đại dương, tăng số lượng mây bao phủ trái đất, tan băng, mực
nước biển dâng… và hệ quả tất yếu là toàn bộ hoạt động sống của con người bị ảnh
hưởng, hạn hán, lũ lụt, động đất, sóng thần…sẽ thường xuyên hơn.
ĐBSCL sẽ tan hoang như thế này nếu nhiệt độ trái đất cứ gia tăng

2
trong không khí là nguyên nhân chính gây ra “mưa axít”.
Như phần trên đã trình bày, môi trường không khí ở nước ta, về tổng thể, chưa bị ô
nhiễm khí SO
2
, NO
2
, sự ô nhiễm khí SO
2
, NO
2
mới có tính cục bộ, do đó có thể suy ra
rằng bản thân các nguồn ô nhiễm khí SO
2
và NO
2
của nước ta chưa thể gây ra hiện
tượng mưa axít. Nhưng ô nhiễm không khí có thể xuyên qua biên giới giữa các nước,
ô nhiễm SO
2
, NO
2
của nước này có thể gây ra mưa axít ở nước khác.
• Song song với những vấn đề đó thì sự gia tăng các phương tiện giao thông vận tải quá
mức như hiện nay cùng với nó nghành giao thông đường không đang phát triển như
vũ bão không những gây ô nhiễm môi trường mà còn làm cho “tầng ozon bị lủng”.
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 18
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
Điều này rất nghiêm trọng, chúng sẽ gây các bệnh ung thư do các tia cực tím, tốn kếm
chi phí để vá lại tầng ozon.

rất nhiều bụi, CO và hydrocacbon. Tình trạng kẹt xe gia tăng càng làm nồng độ bụi
hạt tăng cao. Số liệu tổng hợp ghi nhận: Tổng tải lượng bụi hạt, CO, NO2, CO2 từ
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 19
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
nguồn khí thải của phương tiện giao thông, khí thải công nghiệp, khí thải từ đốt cháy
các nguồn nguyên liệu trong sinh hoạt tại TP vào khoảng 60.000 tấn/năm. Trong đó,
hơn 80% là tải lượng khí thải giao thông, hơn 14% là tải lượng khí thải công nghiệp.
− Ở các TP lớn, môi trường không khí đều bị ô nhiễm bụi và khí thải độc hại. Thêm vào
đó, lượng xe cơ giới tăng trưởng liên tục mỗi năm nên dự báo lượng phát thải các khí
gây ô nhiễm đến năm 2010 sẽ tăng từ 2 đến 5 lần, sẽ có ảnh hưởng nhiều đến chất
lượng không khí khu vực đô thị.
− Sự gia tăng liên tục các phương tiện giao thông đã là một chỉ báo đáng ngại về chất
lượng không khí, nhưng nguy hiểm hơn là chất lượng xăng dầu. Quan trắc tại TP, từ
năm 2005 đến nay, nồng độ chì trung bình tăng 1,4 đến 2,4 lần. Nồng độ khí benzene,
toluene và xylem tăng cao gấp 2 đến 4 lần ở những trục giao thông có lưu lượng
phương tiện giao thông cao.
− Sự phát triển của ngành hàng thông cũng là một vấn đề vô cùng nan giải bởi nó la
nguyên nhân chính làm cho tầng ozon bị lũng một hiểm họa khó khắc phục
Cảnh báo của Khoa Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TPHCM, cho
thấy 11 loại hợp chất hữu cơ thơm đa vòng (PAHs) có từ 4-6 vòng thơm được phát
hiện trong một số thành phần bụi không khí ở một số địa điểm. Với những loại này
hiện có những bằng chứng khoa học cho thấy rằng chúng là tác nhân gây một số bệnh
tật ở con người, kể cả ung thư và biến đổi gen. Nguồn gốc chủ yếu của PAHs có trong
bụi gây ô nhiễm là khói thải từ xe sử dụng nguyên liệu xăng, dầu.
4. Đề xuất các giải pháp hạn chế ô nhiễm do giao thông.
4.1) Các giải pháp đã và đang áp dụng trên thế giới và Việt Nam:

Cách giảm phát thải khí nhà kính và các khí độc hại khác từ hoạt động giao thông vận tải
mà một trong những giải pháp đó là khuyến khích sử dụng LPG, CNG trong giao thông
vận tải.

Năm 2003- 2006 Công ty Cơ khí Ngô Gia Tự (Tổng Công ty công nghiệp ô tô Việt
Nam) đã đầu tư thí điểm dự án chuyển đổi xe xăng sang chạy LPG. Đến năm 2006 Công
ty cơ khí Ngô Gia Tự đã làm chủ được công nghệ chuyển đổi, lắp đặt 1 trạm LPG ở Hà
Nội và tổ chức vận hành 30 xe taxi chạy nhiên liệu LPG tại Hà Nội.

Từ 2006, thành phố Đà nẵng đã bắt đầu cho sử dụng các xe thùng 3 bánh chạy LPG phục
vụ công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại công ty môi trường đô thị.

Đặc biệt đầu năm 2009, thành phố Hồ Chí Minh đã công bố kế hoạch thử nghiệm sử
dụng CNG cho xe buýt để giảm giá thành vận tải và bảo vệ môi trường. Qua thử nghiệm,
Thành phố Hồ Chí Minh và Tập đoàn dầu khí Việt Nam đang có kế hoạch ứng dụng rộng
rãi xe buýt chạy bằng CNG tại Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận. Hiện tại
thành phố Hồ Chí Minh đã có 3 cột nạp phục vụ gần 500 xe taxi sử dụng LPG.
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 21
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật

Cả nước hiện có khoảng 1.500 xe taxi chạy bằng nhiên liệu LPG, chủ yếu tại 3 thành phố
lớn Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng

Các phương tiện công cộng và an toàn với môi trường được các nhà phát minh sáng
chế ra:
Xe buýt chạy bằng pin nhiên liệu
Xe hơi điện
Taxi tiết kiệm nhiên liệu
GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 22
Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật
Tại Santa Monica cũng có thể sạc điện hoàn tòan miễn phí cho những chiếc 39 toyota
RAV4 EVs của họ tại 1 nơi có tên là "solar port". Điện được sinh từ các tấm năng
lượng mặt trời trên mái nhà đã giúp cho họ giảm bớt đi đáng kể số tiền điện hàng
tháng của gia đình.

Tiểu luận: Ô nhiễm không khí do khí thải giao thông – các biện pháp quản lý, kỹ thuật

Đối với các trở ngại do việc chuyển đổi sử dụng nhiên liệu truyền thống sang sử dụng
CNG, LPG nêu trên (thiếu hạ tầng giao thông và kho chứa, chi phí bổ sung cho việc lắp
đặt bình chứa nhiên liệu; mất không gian chứa hàng và thời gian nạp nhiên liệu, quãng
đường xe chạy ngắn, …) cần áp dụng các giải pháp đòn bẩy kinh tế như: thuế nhiên liệu,
ưu đãi đầu tư, chính sách thuế khác nên được xem xét để các cơ sở vận tải có thể chấp
nhận sử dụng loại nhiên liệu này.

Đối với các doanh nghiệp vận tải đầu tư phương tiện chạy LPG/CNG hoặc đầu tư lắp đặt
hệ thống chuyển đổi từ xăng, diesel sang LPG, CNG cho phương tiện có chính sách ưu
đãi về đầu tư, về lãi suất vốn vay nhằm thúc đẩy sử dụng loại nhiên liệu này.

Hoàn thiện hệ thống chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với loại phương tiện
giao thông sử dụng LPG/CNG.

Đối với cộng đồng: Cần tuyên truyền sâu rộng về lợi ích của việc sử dụng CNG, LPG
trong GTVT để người tham gia giao thông đặc biệt là các doanh nghiệp vận tải nhận biết,
sử dụng.

Với những thành quả đạt được đối với lĩnh vực sử dụng LPG/CNG trong GTVT, chúng
ta tin tưởng rằng lĩnh vực này sẽ phát triển mạnh mẽ, vững chắc góp phần phát triển kinh
tế - xã hội đất nước và bảo vệ môi trường quốc gia.
4.2) Đề xuất giải pháp:
4.2.1)Giải pháp quản lý:
• Cải tổ lại hoạt động giao thông là việc không đơn giản. Không chỉ có ngành môi
trường mà ngành giao thông vận tải cũng đang muốn cải tổ lại hoạt động này nhằm
chống ùn tắc giao thông nhưng chưa làm được như mong muốn.
• Giải pháp
 1. Đối với nội đô:

GVHD: THÁI VŨ BÌNH TRANG 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status