Đề tài “ Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế” - Pdf 76



Luận văn

Đề tài “ Giải pháp nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên
thị trường quốc tế”

1
LỜI MỞ ĐẦU

Từ hơn một thập kỷ nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá
trở thành một xu thế khách quan và diễn ra nhanh chóng, vừa tạo cơ hội cho các
nền kinh tế vừa tăng sức ép cạnh tranh. Cạnh tranh là một trong những quy luật
kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường, là công cụ để thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo
dựng nên những doanh nghiệp thành đạt đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế.
Vì thế doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có khả năng cạnh tranh
cao. Đặc biệt đối với ngành sản xuất dệt may là ngành có tốc độ phát triển nhanh
chóng sản phẩm dệt may luôn chiếm tỷ trọng lớn và đứng vị trí thứ hai sau dầu thô
của nước ta, có khả năng thâm nhập không chỉ những thị trường quy định hạn
ngạch mà cả những thị trường không có hạn ngạch.

Chương II: Thực trạng về khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt
Nam trên thị trường quốc tế.
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
dệt may Việt Nam trên thị trưòng quốc tế.
Do trình độ còn hạn hẹp và thời gian hạn chế nên đề án không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định.Mong được sự góp ý, điều chỉnh, bổ sung của thầy
Nguyễn Đình Trung để đề án của em được đầy đủ và hoàn thiện hơn. Em xin cảm
ơn thầy.

3
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

I - Khái niệm
1. Cạnh tranh là gì?
Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận trong mọi
hoạt động kinh tế đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi
trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn
là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.
Một trong những khó khăn là không có một sự đồng nhất trong quan niệm về cạnh
tranh. Lý do là thuật ngữ này được sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh
nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia.
Khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay của một ngành công

hiện qua các chỉ số về tỷ giá thực và trong mối quan hệ thương mại.Trong khi đó,
đối với những người khác, khái niệm khả năng cạnh tranh lại bao gồm khả năng
sản xuất hàng hoá và dịch vụ đủ sức đáp ứng đòi hỏi của cạnh tranh quốc tế và yêu
cầu bảo đảm mức sống cao cho các công dân trong nước .
Trong cuốn sách nổi tiếng “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”của M.Porter
đã cho rằng chỉ có năng suất là chỉ số có ý nghĩa khi nói về khả năng cạnh tranh
quốc gia.
Còn Krugman(1994) thì lại cho rằng : Khái niệm về khả năng cạnh tranh chỉ
phù hợp với cấp độ công ty, đơn giản là vì nếu một công ty nào đó không đủ khả
năng bù đắp chi phí của mình, thì chắc chắn phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản.
II .Phân loại khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế gồm khái niệm cạnh tranh quốc gia, khái
niệm cạnh tranh doanh nghiệp và khái niệm cạnh tranh của hàng hoá và dịch

5
vụ.Trong đó, khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ là nhiệm vụ trọng tâm
và cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
1 . Khả năng cạnh tranh quốc gia
Đây là một khái niệm phức hợp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng thời
cũng bao gồm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước. Khả năng
cạnh tranh được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng
bền vững, thu hút được đầu tư bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống
của người dân .
2 . Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong nước và quốc tế.
Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ.
Vì vậy mà có phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năng cạnh

nói chung cũng có hình thức như một cuộc đua ngựa để giật giải, sử dụng các
chiến thuật như cạnh tranh về giá, các cuộc chiến về quảng cáo, giới thiệu sản
phẩm và tăng cường phục vụ khách hàng…”
Có thể nói khi xâm nhập vào thị trường dệt may thế giới đặc biệt là thị
trường EU, Nhật Bản, Mỹ bằng con đường xuất khẩu thì đối thủ cạnh tranh khổng
lồ và đáng gờm nhất đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là Trung Quốc.
Trung Quốc giữ vị trí hàng đầu trong ngành dệt may thế giới về sản lượng sợi
bông, vải bông và sản phẩm may mặc và đứng thứ hai về sợi hoá học.
Kể từ đầu những năm 90, Trung Quốc luôn là một trong những nước đứng
đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt và may mặc. Kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ
trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch buôn bán hàng dệt may toàn cầu. Trung
bình kim ngạch xuất khẩu hàng may chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu
trong đó các thị trường truyền thống là: Nhật Bản, Hồng Kông, Mỹ, EU. Bốn thị
trường chính này chiếm trên 80% tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Trung
Quốc năm 2002. Sau khi gia nhập WTO, đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng

7
may của Trung Quốc sẽ chiếm đến 47% thị trường may mặc của thế giới( theo dự
đoán của các chuyên gia nghiên cứu thế giới). Ngành dệt may của Trung Quốc là
một ngành có sức cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường thế giới vì ngành này có
nhiều lợi thế rất lớn từ nguyên liệu bông, xơ, hóa chất, thuốc nhuộm đến máy móc
thiết bị sợi, dệt hoàn tất đều do các ngành sản xuất trong nước cung cấp cộng với
giá nhân công thấp và các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của chính phủ Trung Quốc
đã làm cho ngành này phát triển nhanh chóng.
Bên cạnh Trung Quốc thì các đối thủ cạnh tranh khác như: Hàn Quốc, Đài
Loan, Thái Lan, Singapore, Philippines… là các nước xuất khẩu hàng may với kim
ngạch xuất khẩu cao hơn Việt Nam bởi họ tạo được nhiều lợi thế hơn so với các
sản phẩm hàng dệt may củaViệt Nam. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu hàng may
của Thái Lan bằng 4 lần, Trung Quốc bằng hơn 25 lần của Việt Nam.
Ngoài ra, Ấn Độ, cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên cũng là những nhà

tối thiểu quyền lực của khách hàng .
Hàng dệt may Việt Nam hiện đang xuất khẩu vào hai khu vực : thị trường có
hạn ngạch và thị trường phi hạn ngạch.
Trong thị trường có hạn ngạch quan trọng nhất là thị trường EU.Thời gian
gần đây, việc xuất khẩu hàng dệt may vào EU trở nên khó khăn hơn vì kiểm tra
chất lượng gắt gao và phía EU gây sức ép đối với ta.
Mỹ là thị trường xuất khẩu dệt may rất hấp dẫn,có thể khai thác lợi thế từ
đặc điểm của thị trường Mỹ.Tuy nhiên vào thị trường Mỹ cần phải chú ý đến các
vấn đề như: quy dịnh rất khắt khe về nhãn hiệu, biểu tượng hàng may…
Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch quan trọng nhất. Nhưng trong thời gian
gần đây, xuất khẩu sang thị trường này cũng gặp nhiều khó khăn do nền kinh tế
Nhật Bản vẫn tiếp tục suy thoái, làm giảm sức mua của người dân.
2 . Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam
2.1.Marketing
Marketing là thực hiện các công việc bao gồm việc định giá, xúc tiến bán
hàng, quảng cáo và phân phối giúp cho doanh nghiệp bán được hàng hoá và giữ

9
được vị trí trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Đặc biệt các doanh nghiệp
dệt may cần quảng bá sản phẩm hàng hóa của mình để tiêu thụ được sản phẩm trên
thị trường quốc tế. Xúc tiến rhương mại là vấn đề bức xúc của hoạt động xuất
khẩu, để đạt được hiệu quả cao, công tác nàyphải được đẩy mạnh ở cả 3 cấp: chính
phủ, các bộ, các cơ quan xúc tiến thương mại và các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm khác hàng qua các biện pháp xúc
tiến xuất khẩu như: Internet, hội chợ, triển lãm, đại lý… Hợp tác liên kết mở văn
phòng đại diện thương mại tại các thị trường xuất khẩu. Việc định ra được các
chính sách Marketing thích hợp sẽ giúp cho các doanh nghiệp cạnh tranh với các
đối thủ cạnh tranh trên thị trường để chiếm lĩnh và mở rộng được thị trường.
2.2 .Nguồn nhân lực

tranh cho các sản phẩm của doanh nghiệp .
11
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT
MAY VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

I – Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong những năm qua
Ngành may Việt Nam thực sự khởi săc từ thập niên 90 và có tốc độ tăng
trưởng khá nhanh. Số liệu về tốc độ tăng xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam
trên ba thị trường chủ yếu: Mỹ , EU và Nhật Bản đã phản ánh những cố gắng lớn
của ngành này trong hơn mười năm qua.
Hàng may Việt Nam xuất khẩu giai đoạn 1994-2000 sang thị ttrường Mỹ

đương với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 43,5% tức khoảng 160 triệu
USD/năm. Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 2 tỷ USD gấp 16,9
lần so với năm 1990 và chiếm tỷ trọng 13,25% trong cơ cấu các mặt hàng xuất
khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2003 đạt 3,6 tỷ USD, tăng thêm
30% so với năm 2002 là một thắng lợi lớn của ngành dệt may. Nó không chỉ góp
phần đưa kim ngạch xuất khẩu nói nhung của cả nước tăng 20% mà còn tạo cơ sở
vững chắc cho sự tăng trưởng xuất khẩu trong những năm sau.
Hàng dệt may Việt Nam hiện đang xuất khẩu vào hai khu vực thị trường :
thị trường có hạn ngạch và thị trường phi hạn ngạch.Trong các thị trường xuất
khẩu đó thì ba thị trường quan trọng nhất là: thị trường Mỹ ,thị trường Eu và thị
trường Nhật Bản với tình hình xuất khẩu như sau:
1.Tình hình xuất khẩu sang thị trường Mỹ
1.1.Kim ngạch xuất khẩu
Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng may mặc. Hàng năm
Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 50-60 tỷ USD hàng may mặc và dệt. Kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng dần lên qua các
năm, từ 19,74 triệu USD năm 1994 lên tới 26,34 triệu USD năm 1998 và đạt 49,57
triệu USD năm 2000. Năm 2002 con số này là 975 triệu USD và ước đạt 1,7 tỷ
USD năm 2003.Tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status