Luận văn
Thực trạng hoạt động
Phương hướng và giải pháp
góp phần thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu ở Tổng công ty cà
phê Việt nam
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 1 -
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi nước ta đang cố gắng tập trung sức lực để vượt qua
những khó khăn của một nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu, vươn lên phát triển tới
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 2 - PHẦN I
TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC
I. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU:
1. Khái niệm:
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc
tế. Đó không phải là những hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống
các quan hệ mua bán trong thương mại có tổ chức từ bên trong ra bên ngoài
nhằm thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn
định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là buôn bán hàng hoá, dịch vụ cho người nước
ngoài nhằm thu ngoại tệ ( theo nguyên tắc trong thương mại đó là lợi ích từ
lợi thế so sánh) nhằm tăng tích luỹ cho Ngân sách nhà nước, phát triển sản
xuất kinh doanh, khai thác những ưu thế tiềm năng của đất nước. Đây là một
trong những hình thức kinh doanh quốc tế quan trọng nhất. Nó phản ánh quan
hệ mua bán, trao đổi hàng hoá vượt qua biên giới của một quốc gia và giữa
thị trường nội địa và các khu chế xuất. Các quốc gia khác nhau khi tham gia
vào hoạt động xuất khẩu phải tuân theo những tập quán, pháp luật, thông lệ
quốc tế cũng như của các địa phương. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh
tế quốc tế cơ bản đối với tất cả các quốc gia trên thế giới hoạt động xuất khẩu
đóng vai trò rất quan trọng trong việc phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế
đất nước, phản ánh mối quan hệ xã hội và sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế
giưã những người sản xuất hang hoá riêng biệt ở mỗi quốc gia. Hoạt động
xuất khẩu cũng chính là một trong những hoạt động kinh doanh quốc tế đầu
tiên của một doanh nghiệp và cũng là chiếc chìa khoá mở ra những con đường
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 4 -
Sau khi chọn được thị trường để xuất khẩu, việc lựa chọn đối tác giao
dịch phù hợp để tránh cho doanh nghiệp những phiền toái , mất mát, những
rủi ro gặp phải trong quá trình kinh doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời
có điều kiện thực hiện thành công kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối tác giao dịch chính, là bạn hàng trực tiếp sẽ mua những mặt hàng của
mình và cũng chính là thị trường tiềm năng sau này của doanh nghiệp. Do
vậy, đối tác giao dịch thích hợp sẽ tạo cho doanh nghiệp độ tin tưởng cao và
từng bước nâng cao uy tín trong quan hệ làm ăn của doanh nghiệp.
2.4. Lựa chọn phương thức giao dịch
Phương thức giao dịch là cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để thực
hiện mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường. Những
phương thức này qui định những thủ tục cần thiết để tiến hành các điều kiện
giao dịch, các thao tác cũng như các chứng từ cần thiết trong quan hệ kinh
doanh. có rất nhiều các phương thức giao dịch khác nhau như : Giao dịch
thông thường, giao dịch qua khâu trung gian, giao dịch tại hội chợ triểm lãm,
giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá, gia công quốc tế, đấu thầu và đấu giá
quốc tế. Tuy nhiên hiện nay phổ biến là giao dịch thông thường, đó là hình
thức giao dịch mà người mua và người bán bàn bạc, thoả thuận trực tiếp hoặc
thông qua thư từ, điện tín về hàng hoá, giá cả, và các điều kiện giao dịch
khách hàng.
2.5. Đàm phán ký kết hợp đồng:
Đàm phán ký kết hợp đồng là một trong những khâu quan trọng của
hoạt động xuất khẩu. Nó quyết định đến khả năng bán hàng, giao hàng và
những công đoạn trước đó và sau mà doanh nghiệp cố gắng tìm kiếm. Việc
đàm phán ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở, những nguyên tắc cơ bản là: căn cứ
vào nhu cầu của thị trường, chất lượng của sản phẩm, vào đối tác, đối thủ
cạnh tranh và vào khả năng của doanh nghiệp cũng như mục tiêu, chiến lược
ể
m
Xin giấy
phép XNK
Chuẩn bị
hàng XK
uỷ thác
thuê
Kiểm định
hàng hoá
Mua bảo
hi
ể
m HH(Nc)
Làm
thủ tục
Giao
hàng lên
tàu
Làm thủ
t
ụ
c thanh
Giải quyết
tranh ch
ấ
p(Nc)
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 7 -
các hiệp định ngoại giao, sự can thiệp thay đổi về tỷ giá giữa các đồng tiền
cũng sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu thuận lợi hay khó khăn hơn.
Nhân tố thu nhập, mức sống của nhân dân sẽ quyết định đến khối
lượng, chất lượng hay qui mô thị trường hàng hoá của hoạt động xuất khẩu
trong hiện tại và tương lai.
Nhân tố nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng rất lớn đến khả
năng sản xuất , ảnh hưởng đến giá cả và quyết định sự tồn tại, phát triển lâu
dài của doanh nghiệp cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường.
Sự ổn định của đồng tiền nội tệ là nhân tố vô cùng quan trọng, nó ảnh
hưởng trực tiếp đến hành vi của các doanh nghiệp xuất khẩu.
1.4. Các yếu tố khoa học công nghệ:
Các yếu tố khoa học công nghệ có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động
kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Sự phát triển của khoa
học công nghệ ngày càng làm cho tốc độ hoạt động của nền kinh tế tiến đến
những bước cao hơn. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển cũng làm cho
sự giao lưu trao đổi giữa các đối tác ngày càng thuận lợi hơn, khoảng cách về
không gian cũng như thời gian không còn là trở ngại lớn, do vậy sự tiết kiệm
về chi phí từ khâu sản xuất cho đến tiêu dùng ngày càng nhiều. Sự phát triển
của khoa học công nghệ đẩy mạnh sự phân công hoá và hợp tác lao động
quốc tế mở rộng quan hệ giữa các quốc gia cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động xuất khẩu.
1.5. Các nhân tố chính trị:
Các nhân tố chính trị có thể ảnh hưởng tới việc mở rộng phạm vi thị
trường cũng như dung lượng của thị trường, ngòai ra còn mở rộng ra nhiều cơ
hội kinh doanh hấp dẫn trên thị trường quốc tế. Song mặt khác nó cũng có thể
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, trong điều kiện toàn cầu hoá
hoạt động xuất khẩu đóng một vai trò hết sức to lớn và không thể thiếu được
trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước:
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, chúng ta sẽ có khả năng phát huy
được lợi thế so sánh, sử dụng triệt để các nguồn lực, có điều kiện trao đổi kinh
nghiệm cũng như tiếp cận được với các thành tựu của khoa học kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến trên thế giới
- Tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động từ
đó kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội.
- Tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước, từ đó mới
có nguồn lực để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, đóng góp vào sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu chúng ta có thể tăng cường hợp tác,
nâng cao uy tín của Việt nam trên thị trường quốc tế.
2. Đối với doanh nghiệp:
Đầu tiên có lẽ hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa nhất đối với doanh
nghiệp là việc tìm ra được cho doanh nghiệp thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Đây là yếu tố quan trọng nhất vì sản phẩm có tiêu thụ được mới thu được vốn,
có lợi nhuận để tái sản xuất và mở rộng sản xuất, thúc đẩy doanh nghiệp phát
triển. Hoạt động xuất khẩu thông qua việc tiêu thụ sản phẩm sẽ mang lại cho
doanh nghiệp nhiều thuận lợi hơn sản xuất mà bán trong nuức nhờ lợi thế so
sánh. Có như vậy mới tạo thêm nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh,
đào tạo cán bộ, đổi mới công nghệ từ đó có thể khai thác hết được những tiềm
năng của đất nước và tạo ra nhiều thu nhập và công việc làm cho công nhân.
Cũng thông qua hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp có cơ hội tiếp thu,
tiếp xúc và học hỏi nhiều kinh nghiệm kiến thức kinh doanh, cũng như khoa
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 10 -
sản xuất kinh doanh và 4 đơn vị sự nghiệp đứng chân trên địa bàn 14 tỉnh
thành phố. Đây là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn bao gồm các
đơn vị hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp có quan hệ
mật thiết về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng vật tư, thiết bị,
dịch vụ, chế biến, nghiên cứu…. Hoạt động sản xuúat, kinh doanh, xuất nhập
khẩu nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá, sử dụng
có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy Tổng công ty :
Cơ cấu tố chức bộ máy Tổng công ty hiện nay được bố trí như sau :
3.1. Hôi đồng quản trị và Ban kiểm soát :
- Hội đồng quản trị : gồm 5 thành viên do Thủ tưởng Chính phủ ra
quyết định bổ nhiệm, miễm nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ trưởng, Trưởng ban tổ chức cán bộ
Chính phủ. Hội đồng quản trị gồm một số thành viên chuyên trách, trong đó
có Chủ tịch Hội đồng quản trị, 1 thành viên là Tổng giám đốc, 1 thành viên là
trưởng ban Kiểm soát, và 2 thành viên kiêm nhiệm chuyên gia trong các lĩnh
vực kinh tế, kinh doanh, pháp luật.
- Ban kiểm soát : có 5 thành viên, trong đó có 1 thành viên Hội đồng
quản trị làm Trưởng ban theo phân công của Hội đồng quản trị và 4 thành
viên khác do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, là chuyên viên kế
toán, đại diện công nhân viên chức, đại diện Bộ quản lý và đại diện Tổng cục
quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp.
3.2. Ban Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc :
- Tổng giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễm nhiệm do
Họi đồng quản trị đề nghị, Bộ trưởng Bộ quản lý nghành và Bộ trưởng,
Trưởng ban tổ chức cán bộ Chính phủ trình. Tổng giám đốc là đại diện pháp
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 12 -
N
TR
BAN T
Ổ
NG GIÁM
ĐỐ
C
BAN KI
Ể
M SOÁT
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 13 - 4. Chức năng, nhiệm vụ của Tổng công ty:
Với mục đích thành lập của Tổng công ty cà phê Việt nam là nhằm xây
dựng một ngành kinh tế có qui mô, tổ chức lớn mạnh để có đủ khả năng khai
thác, sử dụng và phát huy có hiệu quả những tiền năng của đất nước trong giai
đoạn mới. Tổng công ty cà phê Việt nam được coi là đơn vị nòng cốt của
nghành cà phê Việt nam. Do đó Tổng công ty có những chức năng nhiệm vụ
sau:
- Tổng công ty trực tiếp nhận vốn của Nhà nước, bảo toàn và phát triển
vốn của Nhà nước. Tổ chức phân bổ vốn và giao vốn cho các đơn vị thành
khăn trong sản xuất, kinh doanh mà các đơn vị thành viên tự mình không thể
giải quyết được.
+ Tạo điều kiện giúp nông dân phát triển sản xuất , tiêu thụ sản phẩm
cà phê và các sản phẩm nông nghiệp khác.
- Nhận kế hoạch của Nhà nước giao (nếu có) hoặc tham gia đấu thầu
trong và ngoài nước để giao lại cho các đơn vị thành viên, phân công chuyên
môn hoá sản xuất giữa các đơn vị thành viên.
- Thực hiện điều hoà phân phối vốn do Tổng công ty quản lý tập trung.
- Thông qua phương án đầu tư chiều sâu và đầu tư mở rộng tận các đơn
vị thành viên, thực hiện đầu tư thành lập các đơn vị thành viên mới của Tổng
công ty (theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước, cấp phát
quyền cho thuê mướn, bố trí sử dụng, đào tạo lao động theo qui định của bộ
luật lao động, lựa chọn các hình thức trả lương, thưởng và các quyền khác của
người sử dụng lao động theo qui định của bộ luật lao động và các qui định của
pháp luật)
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 15 -
- Được mời và tiếp các đối tác kinh doanh nước ngoài của Tổng công ty
ở Việt nam, quyết định cử đại diện Tổng công ty ra nước ngoài công tác, học
tập, tham gia khảo sát, đối với chủ tịch hội đồng quản trị và Tổng giám đốc
phải được thủ tướng chính phủ cho phép.
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH XUẤT KHẨU
Ở TỔNG CÔNG TY CÀ PHÊ VIỆT NAM (VINACAFE)
1. Những kết quả về sản xuất và kinh doanh xuất khẩu :
1.1.Về sản xuất :
Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9/1995, VINACAFE có nhiệm vụ
chủ yếu là sản xuất, chế biến và kinh doanh cà phê. Qua gần 9 năm hoạt
động, VINACAFE đã khẳng định được vai trò nòng cốt của mình trong
Hình 2. BIỂU ĐỒ SẢN LƯỢNG VÀ DIỆN TÍCH CÀ PHÊ CỦA
VINACAFE NĂM 1998 – 2002
Sản lượng : 1000 ha Diện tích
Diện tích : 1000 tấn Sản lượng
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 16 -
60
50
40
30
20
10
1998 1999 2000 2001 2002
Nguồn : VINACAFE
Theo bảng trên cho thấy : năm 2002 so với năm 1998, diện tích tăng
20,6% nhưng sản lượng tăng 32,4%. Có được kết quả như vậy là do
VINACAFE dã có chính sách đầu tư thích hợp cho thâm canh, xây dựng mới
và cải tạo hệ thống tưói tiêu cho cà phê, nâg cấp và đầu tư mới cho các dây
chuyền chế biến cà phê nhân. Hiện nay hầu hết các Công ty, Nông trường của
VINACAFE đều có hệ thống chế biến và sân phơi cà phê.
Chính nhờ có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và VINACAFE từng
bước đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội, đời sống của các bộ phận dân
cư phần lớn là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng căn cứ cách
mạng. Những nơi hẻo lánh, xa xôi này đã trở thành những vùng kinh tế trù
phú, đời sống dân sinh, dân trí được cải thiện, góp phần xoá đói giảm nghèo,
tạo công ăn việc làm, giữ gìn an ninh xã hội trên địa bàn…Đó là hiệu quả lớn
nhất của ngành cà phê và VINACAFE.
Bảng 2 : CÁC THỊ TRƯỜNG CHÍNH CỦA VINACAFE
Năm 1998 Năm 1999 Năm2000 Năm2001 Năm 2002
Thị
trường
Sản
lượng
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Sản
25.7
36.970
21.6
35.250
21.8
38.242
22.0
Nhật 8.075
10.5
4.100
5.6
4.566
2.7
5.500
3.4
2.3
4.719
2.8
6.520
4.0
7.021
4.0
Đức 5.580
7.3
4.780
6.5
24.610
14.4
26.510
16.2
2.5
1.650
1.0
1.520
0.9
1.622
0.9
Thái Lan 3.686
4.8
1.950
2.7
1.963
1.2
1.853
1.1
thị trường được coi là khó tính nhất với khối lượng ngày càng tăng. Tuy nhiên
để có thể phát huy thế mạnh của mình, VINANAFE cần phải quan tâm hơn
nữa đến công tác nghiên cứu thị trường nhằm ổn dịnh, giữ vững các thị
trường truyền thống và mở rộng việc tìm kiếm các thị trường mới nổi lên như
Trung Quốc, Hàn Quốc…
1.3. Kết quả xuất khẩu :
Năm 1995, khi mới thành lập VINANAFE xuất khẩu với số lượng là
39.966 tấn cà phê, kim ngạch đạt 99 triệu USD, giá bình quân 2.477 USD/tấn,
đến năm 1998 xuất khẩu đạt số lượng 76.443 tấn, kim ngạch đạt 121 triệu
USD, giá bình quân 1.583USD/tấn thì năm 2000 số lượng xuất khẩu đạt tới
171.333 tấn, kim ngạch chỉ đạt 106 triệu USD, giá bình quân còn 619.1 USD/
tấn. Đặc biệt năm 2001 giá cà phê trên thị trường đã giảm xuống mức thấp
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 20 -
nhất trong vòng 30 năm qua chỉ còn 445 USD/tấn, năm 2002 giá cà phê có
nhích lên nhưng chỉ đạt 37,4% so với năm 1998.
Bảng 3 : KẾT QUẢ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VINACAFE 1997 - 2002
Số tuyết đối
Tốc độ phát triển liên
hoàn(năm trước là 100%)
Năm
Số
lượng
(tấn)
Giá bình
quânUsd/tấn
Kim ngạch
106.7%
1999
72.785
1.194
86.904.218
83%
92.2%
76.6%
2000
171.333
619
106.014.395
195.8%
47.8%
93.5%
2001
nước xuất khẩu có thị phần quốc tế lớn, mà chủ yếu là Brazin và Côlômbia.
Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu về cà phê, sự tích trữ cà phê
của các nhà rang xay quốc tế, tình hình thời tiết các vùng sản xuất cà phê chủ
yếu của thế giới và khối lượng tồn kho của các nước sản xuất và nhập khẩu cà
phê. Đến nay, Việt Nam trở thành một nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới
nhưng khả năng chi phối về giá hết sức hạn chế, giá xuất khẩu chủ yếu dựa
vào giá thị trường Luân Đôn và NewYork. Mặt khác, Việt Nam chủ yếu sản
xuất và xuất khẩu cà phê Robusta nên giá thấp hơn nhiều so với giá cà phê
Arabica của các nước.
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 21 -
Hiện nay sự biến động về giá cà phê theo chiều hướng giảm ở mức báo
động đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh doanh của các doanh
nghiệp xuất khẩu trong nước nói chung và VINANAFE nói riêng.
Từ năm 1999, VINANAFE có đến 16 Công ty xuất khẩu, trong đó có
các Công ty vừa sản xuất vừa thêm nhiệm vụ xuất khẩu nhưng chưa có một
hoạt động đối ngoại nào đáng kể. Đó là một nghịch lý đáng phải suy nghĩ. Do
thiếu thồng nhất việc định giá mua, chào bán hàng giữa các doanh nghiệp
xuất khẩu nên khách nước ngoài lợi dụng để ép cấp, ép giá cho các đơn vị
kinh doanh. Do đó cùng một thời điểm, cùng một khách hàng, cùng một loại
cà phê nhưng các doanh nghiệp lại bán với giá khác nhau
Để hạn chế tình hình trên, VINANAFE chỉ định 4 đơn vị phát giá bán
hàng ngay sau khi thị trường Luân Đôn mở cửa. 4 đơn vị này trao đổi thống
nhất giá bán qua điện thoại và thông báo cho các đơn vị xuất khẩu tham khảo.
1.4. Đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh của VINACAFE :
Từ khi thành lập đến nay, VINACAFE dã đi vào sản xuất, kinh doanh
ổn định và đạt dược một số kết quả mặc dù trong điều kiện khó khăn về thiên
tai, hạn hán, giá cả biến động, vốn hoạt động chủ yếu là vay ngân hàng. Bên
990.5
1.100
1.285
1.406.5
1.467.2
Vốn KD
431.6
478.6
483.4
520
541
561.5
564.6
- Vốn cố định
375.6
410.4
1.945
1.800
2.562
2.782
2.448
Nộp ngân sách
65
67
70
68.5
87.2
28
40.4
Lãi thực hiện
44
40
2.Những tồn tại, khó khăn và thách thức hiện nay của VINACAFE :
- Chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của
VINACAFE nói riêng đang bị đánh giá là thấp. So với hai nước trong khu
vực là Thái Lan và Indonesia thì cà phê Việt Nam có thuỷ phần cao hơn, tổng
số lỗi, tạp chất hạt đen vỡ đều cao hơn, kích thước hạt nhỏ hơn nhưng có ưu
điểm là ít sâu hơn. Những lỗi trên chủ yếu do chế biến theo phương pháp thủ
công hoặc các xưởng chế biến có công xuất nhỏ, lạc hậu. Các cơ sở đầu mối
xuất khẩu không có cơ sở tái chế, khâu thu hoạch đồng loạt nên có lẫn nhiều
quả xanh.
- Về thị trường xuất khẩu, nhìn chung ngày càng ổn định và được mở rộng.
Điều này cho thấy công tác tiêu thụ, sản xuất có nhiều chiều hướng phát triển
tốt. Tuy nhiên công tác thu thập các tin tức trên thị trường và phân tích thông
tin về cung và cầu, giá cả,hoạtđộng của các đối thủ cạnh tranh chưa được
chính xác và kịp thời dẫn đến thiệt thòi trong nhiều thương vụ. Chúng ta chưa
nắm bắt được thị hiếu của từng thị trường đặc biệt là thị trường Mỹ, Nhật
Bản, Trung Quốc…để có những chiến lược xuất khẩu dài hạn thích hợp. Một
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn kim Dung
Th¬ng m¹i K3A - 08 - 24 -
số thị trường lớn có tiềm năng ở Châu Âu chưa được khai thác như : Italia,
Tây Ban Nha…
- Về phần phối sản phẩm, đây là khâu đặc biệt quan trọng nhưng chưa
được quan tâm đúng mức. Hiện nay chúng ta đang thiếu sự nghiên cứu sâu
sắc khâu cơ bản trong kênh phân phối quốc tế. Mức kiểm soát kênh phân phối
còn kém, kỹ thuật phân phối đơn điệu, nên khi tiếp xúc với các thị trường có
kỹ thuật phân phối phức tạp và tiên tiến như Mỹ, Pháp, Nhật Bản…thì chưa
hiểu được được chi tiết và quan sát vận động của sản phẩm để đưa ra
đượcnhững đánh giá chính xác về sản phẩm của mình. Chúng ta chưa xây