Luận văn
Một số ý kiến đề xuất về tăng
cường quản lý chi phí sản xuất
kinh doanh và giá thành sản
phẩm ở Trung tâm thiết bị lưới
điện phân phối
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, quản trị tài chính là
công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý kinh tế cả về mặt vi mô và vĩ mô. Muốn có
được lợi nhuận trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thường
xuyên quan tâm đến chi phí sản xuất. Do đó công tác quản lý chi phí là công việc trọng
tâm và luôn được xoay quanh trước các quyết định quản trị tài chính.
Việc doanh nghiệp có tồn tại hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có bảo
đảm bù đắp được chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh hay không. Điều dó
có nghĩa là doanh nghiệp phải tính toán hợp lý chi phí sản xuất và thực hiện quá trình
sản xuất theo đúng sự tính toán ấy. Chi phí là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh
hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất sản phẩm thấp hay cao,
giảm hay tăng phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng vật tư lao động tiền vốn. Việc
và sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao
của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy để tiến hành sản xuất hàng hoá, người lao
động phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì
thế sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu
khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.
Các chi phí mà doanh nghiệp chi ra cấu thành nên giá trị của sản phẩm, lao vụ
dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Giá trị sản phẩm gồm ba bộ phận là :
C,V,m.
Trong đó :
- C: Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm
dịch vụ như : Khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, công cụ, năng lượng
Bộ phận này được gọi là hao phí vật chất.
- V: Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia quá
trình sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ, được gọi là hao phí lao động cần thiết.
- m : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất ra
giá trị sản phẩm, dịch vụ.
Do vậy, chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành
sản xuất sản phẩm trong một thời gian nhất định.
Tiếp theo sau quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tổ chức việc tiêu thụ sản
phẩm để thu tiền về. Để thực hiện được việc này, doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những
3
chi phí nhất định chẳng hạn như chi phí đóng gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
bảo quản sản phẩm Hơn nữa, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh
như hiện nay, ngoài các chi phí tiêu thụ trên, doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để
nghiên cứu thị trường, chi phí quảng cáo để giới thiệu sản phẩm, chi phí bảo hành sản
phẩm. Những khoản chi phí này phát sinh trong lĩnh vực lưu thông sản phẩm nên được
gọi là chi phí tiêu thụ hay chi phí lưu thông sản phẩm.
Ngoài những chi phí nêu trên, doanh nghiệp còn phải thực hiện được nghĩa vụ
+ Yếu tố bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương chủ doanh nghiệp phải trả cho công nhân
viên chức.
+ Yếu tố khấu hao tài sản cố định : Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định
phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
+ Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Yếu tố chi phí khác bằng tiền : Phản ánh toàn bộ các chi phí khác bằng tiền
chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ.
* Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành
Theo quy định hiện hành, giá thành công xưởng sản phẩm bao gồm ba khoản
mục chi phí sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : gồm các chi phí về nguyên liệu, vật liệu,
nhiên liệu và động lực trực tiếp dùng vào sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí nhân công trực tiếp : gồm các khoản chi phí trả cho người lao động
trực tiếp sản xuất (chi phí tiền lương,tiền công) và các khoản trích nộp của công nhân
trực tiếp sản xuất mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm chi trả cho họ.
+ Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản xuất
chế biến của phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp trực tiếp tạo ra sản
phẩm. Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí tiền lương, phụ cấp trả cho nhân viên
phân xưởng, chi phí vật liệu, dụng cụ dùng cho phân xưởng, khấu hao tài sản cố định
thuộc phân xưởng (bộ phận sản xuất), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
phát sinh ở phân xưởng.
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm tiêu thụ thì chỉ tiêu giá thành còn
bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối
lượng sản xuất sản phẩm.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm, công
việc lao vụ sản xuất trong kỳ, chi phí sản xuất được chia làm hai loại:
5
biến của phân xưởng trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Bao gồm : Chi phí vật
liệu, công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phân xưởng, tiền lương các khoản
6
trích nộp theo quy định của nhân viên phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí
khác bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng.
Giá thành sản xuất sản phẩm = Chi phí vật tư trực tiếp + Chi phí nhân công trực
tiếp + Chi phí sản xuất chung.
* Giá thành tiêu thụ của sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ bao gồm:
- Giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ
- Chi phí bán hàng : Là toàn bộ các chi phí liên quan tới việc tiêu thụ sản phẩm,
dịch vụ, bao gồm các chi phí bảo hành sản phẩm.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp : Bao gồm các chi phí cho bộ máy quản lý và
điều hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp như : Chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ
máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, tiền lương và các khoản trích nộp theo quy
định của bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, chi phí mua ngoài, chi phí khác
bằng tiền phát sinh ở doanh nghiệp như chi phí về tiếp khách, giao dịch, chi các khoản
trợ cấp thôi việc cho người lao động.
Giá thành tiêu thụ = giá thành sản xuất + chi phí bán hàng + chi phí quản lý
doanh nghiệp.
1.3.3. Phân loại giá thành sản phẩm
Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm cũng như xây
dựng giá cả hàng hoá cần phải phân biệt các loại giá thành khác nhau. Có hai cách phân
loại chủ yếu là :
* Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành:
- Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên
cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch.
- Giá thành định mức : Giá thành định mức là giá thành được tính trên cơ sở định
mức chi phí sản xuất và sản lượng sản phẩm hàng năm.
II. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và giá
thành sản phẩm và các biện pháp phấn đâú giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm
2.1. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và giá
thành sản phẩm
2.1.1 Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ việc áp dụng nhanh chóng những
thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất là nhân tố cực kỳ quan trọng cho phép
8
các doanh nghiệp giảm được chi phí hạ thấp giá thành sản phẩm và thành công trong
kinh doanh.
Máy móc hiện đại dần dần thay thế sức người trong những công việc lao động
nặng nhọc cũng như đòi hỏi sự tinh vi, chính xác và từ đó làm thay đổi điều kiện của
quá trình sản xuất. Với trình độ chuyên môn hoá, tự động hoá cao, với sự ra đời của các
công nghệ mới, không chỉ có chi phí về tiền lương được hạ thấp mà còn hạ thấp cả mức
tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm. Nhiều loại vật liệu mới ra đời với tính
năng tác dụng hơn, chi phí thấp hơn cũng làm cho chi phí nguyên vật liệu được hạ thấp.
2.1.2. Tổ chức sản xuất và sử dụng con người
Đây là một nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động giảm chi phí và hạ
giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao
động trong sản xuất. Việc tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản
xuất một cách hợp lý, loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, có
tác dụng rất lớn thúc đẩy nâng cao năng suất lao động giảm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm - dịch vụ.
2.1.3. Nhân tố tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp
Nhân tố này tác động mạnh mẽ tới chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành
sản phẩm. Bởi lẽ chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao
động sống và lao động vật hoá qua đó ta thấy để sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần
phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, qua quá trình sản xuất lượng vốn tiền tệ này sẽ
tiền công sẽ cho phép giảm chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm do đó khoản
mục tiền lương trong giá thành sản phẩm sẽ giảm theo tỷ lệ với tỷ trọng tiền lương trong
giá thành.
2.2.3. Giảm chi phí cố định trong giá thành sản phẩm
Muốn giảm chi phí cố định trong giá thành sản phẩm cần phấn đấu tăng nhanh,
tăng nhiều sản phẩm hàng hoá sản xuất ra.
Tốc độ tăng và quy mô tăng sản phẩm hàng hoá sẽ làm cho chi phí cố định trong
giá thành sản phẩm giảm vì tốc độ tăng chi phí cố định chậm hơn tốc độ tăng quy mô và
sản lượng. Nói cách khác là tốc độ tăng chi phí cố định không lệ thuộc với tốc độ và
quy mô tăng của sản lượng. Để tăng sản lượng hàng hoá cần phải sản xuất nhiều. Muốn
sản xuất nhiều thì phải sản xuất nhanh trên cơ sở tăng năng suất lao động, phải mở rộng
quy mô sản xuất, tinh giảm bộ máy quản lý doanh nghiệp, giảm các hao hụt mất mát do
ngừng sản xuất gây ra. 10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI TRUNG TÂM THIẾT BỊ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI
CÔNG TY SẢN XUẤT THIẾT BỊ ĐIỆN
I. Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh của Trung tâm.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm thiết bị lưới điện phân
phối.
Trung tâm thiết bị lưới điện phân phối được thành lập ngày 30 tháng 4 năm 1988
tại Hà Nội theo quyết định số 553/NL - TCCBLĐ của Bộ thương Mại và Quyết dịnh
- thiết bị dùng điện.
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vật liệu, thiết bị kỹ thuật điện, xây dựng và
tham gia các hình thức hợp tác để phát triển các công trình điện tại Việt Nam.
+ Có quan hệ hợp tác với trên 100 doanh nghiệp, Công ty, tổ chức trong và ngoài
nước để thực thi các dự án phát triển điện lực Việt Nam.
- Cung ứng vật tư - điện lực:
+ Thực hiện các dịch vụ lưu thông vận tải các loại hàng đặc chủng của ngành
điện theo yêu cầu của khách hàng.
+ Quản lý và cung ứng vật tư - thiết bị điện thuộc chương trình phát triển lưới
điện 35KV và các chương trình phát triển lưới điện nông thôn bằng nguồn vốn vay nước
ngoài.
1.3. Tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức công tác kế toán ở Trung tâm
1.3.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý của Trung tâm được tổ chức theo cơ cấu quản lý trực tuyến chức
năng và được thể hiện qua sơ đồ sau : 12
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA TRUNG TÂM
Phòng
Kế
hoạch
vật tư
Phòng
Dự án
đấu
thầu
Phòng
Kinh
doanh-
Tiếp thị
Cửa
hàng
GTSP
13
Hàng tháng tính khấu hao TSCĐ chi tiết cho từng loại tài sản, theo dõi tăng,
giảm, theo dõi thẻ kho chi tiết cho từng loại tài sản, vào bảng kê TSCCĐ.
* Nhân viên kinh tế của cửa hàng GTSP: Có nhiệm vụ thu nhập chứng từ định
kỳ chuyển về phòng TC - KT kiểm tra và ghi sổ kế toán. Có trách nhiệm báo cáo giải
trình đầy đủ và trung thực số liệu về phòng để tổng hợp, lập báo cáo.
* Kế toán tổng hợp, Thuế :
Cuối quý năm căn cứ vào các báo cáo chi tiết của các bộ phận, kiểm soát và lập
báo cáo tài chính. Tập hợp các nhật ký chứng từ, bảng kê, lên sổ cái, gửi báo cáo tài
chính (theo pháp lệnh kế toán) định kỳ lên các cơ quan chức năng
1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm
* Về thị trường :
Nếu như trong giai đoạn I, thị trường của Trung tâm chủ yếu là Liên Xô cũ và
(%)
Lượng vốn
(1000đ)
Tỷ trọng
(%)
Lượng vốn
(1000đ)
Tỷ trọng
(%)
1 1999 702.000
17,76
3.250.000
82,24
3.952.000
100
2 2000 881.000
20,75
3.364.000
khiến việc nhập khẩu một số ngành gặp nhiều khó khăn. Có thể nói nguồn đem lại
doanh thu lớn hàng năm cho Trung tâm chính là việc xuất nhập khẩu mặt hàng của
Trung tâm ra các đối tác nước ngoài mà chủ yếu là các nước Tây Âu và Đông Âu, trong
khi giá thành nhập khẩu vật tư, thiết bị phục vụ cho công nghiệp trao đổi bằng ngoại tệ
không thay đổi thì giá tiêu thụ tại thị trường lại tăng lên, các khách hàng trong nước khó
có khả năng chấp nhận sự thay đổi nay. Mặc dù vậy, bằng sự cố gắng vươn lên, Trung
tâm không những duy trì được hoạt động của mình mà còn phát huy hiệu quả tích cực
thể hiện ở bảng sau đây:
15
Bảng 3 : KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA TRUNG TÂM TỪ 1999 - 2001
Chỉ tiêu Năm 1999
NĂM 2000
Năm 2001
TH TH/KH
%
TH 2000/1999
%
TH
2001/2000
%
Tổng D.Thu
(tỷ đ )
25
139
11
211
6,5
59
Lợi nhuận
(tr.đ)
300
128
504
168
704
140
Thu nhập
bquân ( đ/ng )
886.463
110
1.081.661
kết quả đem lại.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh bằng mối quan hệ giữa doanh thu đạt được và chi
phí bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh
Doanh thu
Hiệu quả kinh doanh =
Chi phí
29.893
Hiệu quả kinh doanh năm 2000 =
27.215
=1,10
31.903
Hiệu quả kinh doanh năm 2001 =
29.901
=1,07
Từ kết quả tính toán trên ta thấy hiệu quả kinh doanh năm 2000 là 1,10 tức là
một đồng chi phí bỏ ra năm 2000 tạo ra doanh thu lớn hơn một đồng chi phí bỏ ra năm
2001 là 1,10 - 1,07 = 0,03 đồng. Từ đó ta thấy đây cũng là một trong những nhược điểm
mà Trung tâm cần khắc phục.
2.2. Khái quát về chi phí sản xuất kinh doanh của Trung tâm
Trung tâm thiết bị lưới điện phân phối tập hợp chi phí hoạt động sản xuất kinh
doanh theo yếu tố chi phí và được chia ra năm loại:
- Yếu tố chi phí nguyên vật liệu
- Yếu tố chi phí nhân công
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài
- Yếu tố chi phí bằng tiền khác.
17
75
3. Chi phí KHTSCĐ
131.423
0,5
81.213
0,3
50.210
-38,2
4. Chi phí DVMN
526.451
1,84
659.221
2,2
132.770
25
5. Chi phí bằng tiền
1.424.388 ngàn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 5,29% và chiếm tới 73% trong mức tăng
của tổng chi phí.
Trên góc độ là một nhà quản lý chi phí, thì chi phí nguyên liệu vật liệu là trọng
tâm trong công tác quản lý chi phí của Trung tâm. Việc tiết kiệm khoản chi phí này là
nhân tố quyết định việc phấn đấu hạ giá thành của sản phẩm.
Nguyên liệu vật liệu ở Trung tâm chính là giá vốn hàng hoá mà Trung tâm nhập
khẩu về bao gồm các loại chi phí như : giá mua hàng hoá, thuế nhập khẩu phải nộp, chi
phí vận chuyển, chi phí quản lý, bao bì,
Công tác quản lý chi phí nguyên liệu : đối với tất cả các loại nguyên liệu vật liệu
Trung tâm nhập khẩu về đều tiến hành nhập kho, khi có khách hàng mua mới xuất kho
giá thực tế nguyên liệu vật liệu xuất kho được tính theo đơn giá nguyên liệu vật liệu
xuất kho theo giá bình quân nguyên liệu vật liệu xuất kho
18
* Chi phí nhân công :
Ở Trung tâm thiết bị lưới điện phân phối : chi phí nhân công bao gồm toàn bộ
tiền lương và các khoản phụ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của
nhân viên quản lý. Tiền lương thực tế phải trả cho nhân viên quản lý được căn cứ vào hệ
số lương cơ bản của từng cán bộ công nhân viên.
Các khoản trích theo lương bao gồm : bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
công đoàn được tính vào chi phí hoạt động kinh doanh theo đúng chế độ quy định hiện
hành của nhà nước.
- Bảo hiểm xã hội : 15% tính vào tiền lương cơ bản.
- Bảo hiểm y tế : 2% tính vào tiền lương cơ bản.
- Kinh phí công đoàn : 2% tính theo tiền lương thực tế.
Chi phí nhân công của Trung tâm chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí
từ 1,6% đến 2,53%.
Năm 2001 chi phí nhân công của Trung tâm đã tăng lên so với năm 2000 là
331.708 ngàn đồng với tỷ lệ tăng tương ứng là 75%. Điều này cho thấy trong năm 2001
khi tốc độ tăng chi phí dịch vụ mua ngoài tăng với 25%, tăng hơn ba lần tốc độ tăng
doanh thu). Qua tìm hiểu số liệu thực tế cho thấy chi phí dịch vụ mua ngoài tăng lên chủ
yếu tăng ở hai khoản : chi phí giao nhận giám định hàng hoá và chi phí thử nghiệm sản
phẩm công tơ điện tử, khoản chi phí này tuỳ theo từng thời điểm cũng như theo từng
mặt hàng mà thời điểm đó Trung tâm nhập khẩu, nếu như nhập khẩu chủng loại máy
móc nhiều thì các khoản chi phí về giám định, thử nghiệm sản phẩm sẽ tăng lên.
* Chi phí bằng tiền khác :
Chi phí bằng tiền không phải là khoản chi phí trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá
như : chi phí tiếp khách, quảng cáo, các loại thuế, công tác phí, văn phòng phí Tuy
nhiên nó cũng là một trong những khoản chi phí tương đối lớn mà doanh nghiệp phải
chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình qua bảng 4 cho thấy chi phí bằng
tiền năm 2001 tăng 107.469 ngàn đồng đạt tỷ lệ tăng 18%, đem so sánh tỷ lệ tăng doanh
thu chỉ đạt 6,7%. Cho thấy tốc độ tăng chi phí bằng tiền lớn hơn hai lần so với mức tăng
của doanh thu nguyên nhân làm tăng chi phí bằng tiền là tăng khoản tiền tiếp khách năm
2001 tăng 75.713 ngàn đồng với tỷ lệ tăng 48,6% chiếm tỷ trọng 22,2% tổng chi phí
bằng tiền.
Vậy cũng như khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác, công tác
quản lý chi phí bằng tiền còn yếu kém, chưa tiết kiệm gây lãng phí làm ảnh hưởng tới
hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm.
20
Năm 2001 doanh thu của Trung tâm là 31.903.333 ngàn đồng tăng 2.009.725
ngàn đồng với tỷ lệ tăng 6,7%.
Như vậy tốc độ tăng doanh thu năm 2001 là 6,7% nhỏ hơn tốc độ tăng chi phí là
6,8%, mặc dù chênh lệch giữa tốc độ tăng doanh thu và chi phí là không đáng kể,.
Nhưng điều này cho thấy công tác quản lý chi phí hoạt động kinh doanh của Trung tâm
chưa tốt. Đây là nguyên nhân chính làm giảm lợi nhuận của Trung tâm trong năm vừa
qua.
2.3. Tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm ở Trung tâm
Ở Trung tâm thiết bị lưới điện phân phối hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
32,60
93,5
2. Chi phí NC
7.350
8.834
+1.484
20,19
0,67
4. Chi phí DVMN
8.590
10.515
+1.925
22,41
0,87
5. Chi phí bằng tiền
50.299
Doanh thu 712.303
869.157
156.854
22,02
Bảng 6 : CHI PHÍ SẢN PHẨM NHÔM THỎI
Chênh lệch
Yếu tố chi phí Năm 2000 Năm 2001
Số tiền TL (%) TT
1. Chi phí NLVL
8.046.610
7.521.165
-525.445
-6,53
-93,8
2. Chi phí NC
18.251
20.552
8.174
10.159
1.985
24,28
0,35
Tổng chi phí 8.259.059
7.699.178
-559.881
-6,78
100
Doanh thu 8.292.874
7.732.805
-560.069
-6,7
trọng 0,13%.
Chi phí bằng tiền khác giảm 37.980 ngàn đồng với tỷ lệ giảm 23,79% chiếm tỉ
trọng 6,7% tổng chi phí.
Chi phí khấu hao giảm 1.985 ngàn đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 24,28% chiếm
0,35% tổng chi phí.
Doanh thu năm 2001 giảm hơn so với năm 2000 là 560.069 ngàn đồng tương ứng
với tỷ lệ giảm 6,7%. Trong khi đó tốc độ giảm của chi phí 6,78% thì tốc độ giảm doanh
thu là 6,7%. Như vậy việc giảm chi phí của sản phẩm nhôm thỏi có thể coi như là hợp
lý.
23
Nhìn vào kết quả phân tích chi phí trên đây thì ta mới chỉ nhận biết được một
cách tổng quát các yếu tố chi phí và doanh thu. Như vậy, ta chưa thể đánh giá một cách
chính xác công tác quản lý chi phí hoạt động kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của
Trung tâm tăng hay giảm và hợp lý hay không hợp lý vậy chúng ta đi sâu phân tích giá
thành đơn vị sản phẩm, từ đó xem xét sự biến động của các khoản mục trong giá thành
sản phẩm.
Căn cứ vào đặc điểm của công tác quản lý giá thành sản phẩm của Trung tâm, để
có được đánh giá đúng đắn về vấn đề này ta dùng phương pháp phân tích sự biến đổi chi
phí trong giá thành đơn vị sản phẩm từ đó phát hiện được các chi phí làm tăng, giảm giá
thành sản phẩm giúp Trung tâm biết được khai thác khả năng giảm giá thành ở khoản
mục chi phí nào. Vì công tác kế hoạch giá thành ở Trung tâm chưa thực sự được chú
trọng cho nên ở đây có thể thấy rõ được sự biến động các khoản mục chi phí trong giá
thành sản phẩm được thực hiện qua hai năm 2000 và 2001.
Bảng 7 : GIÁ THÀNH ĐƠN VỊ DÂY THÉP MẠ KẼM
Đơn vị 1000đ
Chênh lệch
Yếu tố chi phí Năm 2000 Năm 2001
Số tiền TL (%)
9.044
145
1,63
24
Bảng 8 : GIÁ THÀNH ĐƠN VỊ SẢN PHẨM NHÔM THỎI
Đơn vị 1000đ
Chênh lệch
Yếu tố chi phí Năm 2000 Năm 2001
Số tiền TL (%)
1. Chi phí NLVLTT
13.053
13.003
-50
0,38
2. Chi phí NCTT
32
33
sự tăng giảm của từng mục chi phí đã tổng hợp nên mức hạ của giá thành sản phẩm.
Đối với sản phẩm dây thép mạ kẽm chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản
chung đã giảm cụ thể :
Chi phí nhân công trực tiếp giảm 7 ngàn đồng/1 tấn sản phẩm với tỷ lệ giảm
tương đối 7,5%.
Chi phí sản xuất chung trực tiếp giảm 22 ngàn đồng/1 tấn sản phẩm với tỷ lệ
giảm tương đối 2,95%.
Song khoản mục chi phí nguyên vật liệu lại tăng lên hơn mức hạ của các khoản
mục trong giá thành, làm giá thành sản phẩm vẫn tăng lên.
Còn sản phẩm nhôm thỏi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp giảm còn chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung lại tăng lên cụ thể:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp giảm 50 ngàn đồng/1 tấn sản phẩm với tỷ lệ
giảm tương đối 0,38%.
Chi phí nhân công trực tiếp tăng 1 ngàn đồng/1 tấn sản phẩm với tỷ lệ tăng tương
ứng 3,1%.