Luận Văn
Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh
tại Công ty Tem
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty Tem.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1.1. Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1.1. Các quan điểm cơ bản về hiệu quả
Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau nhau song có thể khẳng định trong
cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay mọi doanh nghiệp kinh doanh đều
có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này
doanh nghiệp phải xác định chiến lược kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển
cho phù hợp với những thay đổi của môi trường cạnh tranh như hiện nay, phải
phân bổ và quản trị có hiệu quả các nguồn lực và luôn kiểm tra quá trình đang
diễn ra là có hiệu quả. Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh phải đánh giá được hiệu quả kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng
như ở từng bộ phận của nó.
Có thể nói rằng, mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù
hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp song lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả
kinh doanh. Có quan điểm cho rằng “Hiệu quả sản xuất diến ra khi xã hội không
thể tăng sản lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loạt
hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất
của nó”. Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả
các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Trên góc độ này rõ ràng phân bổ các
1.1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực vật chất sản
xuất(lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phân biệt rõ
ranh giới giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả. Kết quả là phạm trù phản ánh
những cái gì thu được sau một quá trình kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ
cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
hoặc đơn vị giá trị. Các đơn vị cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng của
sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m
3
, lít… Các
đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ…Kết quả cũng có thể phản ánh
mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh
tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm…Cần chú ý rằng không phải chỉ
kết quả định tính mà kết quả định lượng của một thời kỳ kinh doanh nào đó
thường là rất khó xác định bởi nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản phẩm
hoàn chỉnh mà còn là sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. Hơn nữa hầu như quá
trình sản xuất lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản xuất xong
ở một thời kỳ nào đó cũng chưa thể kết luận rằng liệu sản phẩm đó có tiêu thụ
được không và bao giờ thì tiêu thụ được và thu được tiền về…
Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn
lực sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện
vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý rằng trình độ lợi dụng
các nguồn lực chỉ có thể hiểu và phản ánh bằng số tương đối: Tỷ số giữa kết quả
Hiệu quả kinh tế xã hội đạt được trên cơ sở hiệu quả của các doanh nghiệp kinh
doanh hiệu quả cá biệt, tuy nhiên có trường hợp hiệu quả cá biệt của một số
doanh nghiệp nào đó không đảm bảo nhưng hiệu quả chung kinh tế xã hội vẫn
thu được. Điều này có thể xảy ra trong những trường hợp nhất định trong những
thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách quan mang lại. Mặt khác, để
thu được hiệu quả kinh tế xã hội đôi khi phải từ bỏ một số hiệu quả cá biệt nào
đó. Bởi vậy, Nhà nước cần có chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích chung
của toàn xã hội với lợi ích của từng doanh nghiệp và người lao động trên quản
điểm cơ bản là đặt hiệu quả kinh doanh trong hiệu quả kinh tế xã hội.
b. Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh với nguồn vật lực nhất
định và do đó họ đưa ra thị trường sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định. Khi
tiêu thụ hàng hóa trên thị trường các doanh nghiệp đều cố gắng tối ưu hóa lợi
nhuận thông qua giá cả, song thị trường mới là nơi quyết định giá cả của sản
phẩm. Sở dĩ như vậy là do thị trường trường chỉ thừa nhận mức hao phí lao động
xã hội cần thiết trung bình để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa. Quy luật giá trị
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
đã đặt các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt
bằng trao đổi phải thông qua một mức mức giá do chính thị trường quyết định.
Tại mỗi doanh nghiệp, chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh suy
đến cùng cũng chỉ là chi phí lao động xã hội, nhưng khi đánh giá hiệu quả kinh
tế, chi phí lao động xã hội biểu hiện dưới dạng chi phí cụ thể như sau:
- Chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm.
- Chi phí ngoài quá trình sản xuất sản phẩm.
c. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Mục tiêu của quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung là với một
trình độ nhất định phải sử dụng sao cho có hiệu quả cao nhất. Muốn vây, phải
d. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
Thứ nhất: Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem
xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ
đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn hạn như tuần, tháng, quý, năm…
Thứ hai; Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem
xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài, gắn với chiến lược, kế hoạch dài hạn
hoặc thậm chí nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu
quả lâu dài gắn với quãng thời gian tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Cần chú ý rằng giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn vừa có mối
quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều trường hợp có thể mâu thuẫn với
nhau. Về nguyên tắc chỉ có thể xem xét và đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn
hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương
lai.
1.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.2.1. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản lý kinh
doanh
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải tập
hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa
lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh
nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận. Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của
kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
sản xuất sẵn có. Để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để
các nhà quản trị thực hiện chức năng
1.1.2.2.Sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện sống còn đối với
mọi doanh nghiệp
không có lãi thì sẽ dẫn đến phá sản. Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành một
trong những mục tiêu quan trọng nhất , mang tính chất sống còn của sản xuất
kinh doanh.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh
tranh để tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt
được lợi nhuận ngày càng cao. Do vậy, đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh
nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường.
1.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị
trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự
cạnh tranh gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại được trong cơ chế thị trường cạnh
tranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả
hơn.
Các nguồn nhân lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm, càng
ngày người ta càng sử dụng nhiều các nhu cầu khác nhau của con người. Trong
khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại
càng đa dạng. Điều này phản ánh quy luật khan hiếm. Quy luật khan hiếm bắt
buộc mọi doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gi? Sản
xuất như thế nào? sản xuất cho ai?Vì thị trường chỉ chấp nhận cái nào sản xuất
đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp. Để thấy được sự cần
thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường, trước hết chúng ta phải nghiên cứu cơ chế thị trường và hoạt
động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường và hoạt động của doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
nhập của mỗi doanh nghiệp phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện
nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của các quá trình sản
xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy hiệu quả kinh doanh
là điều kiện hết sức quan trọng việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự
tạo ra hàng hoá của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội,
đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi
doanh nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và
có lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu
cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu
quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên sự tồn tại mới chỉ là yêu
cầu mang tính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp mới
là yêu cầu quan trọng.Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn phải đi kèm với sự
phát triển mở rộng doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích luỹ đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển. Như vậy để phát triển
và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn đủ bù đắp chi phí bỏ ra để
phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích luỹ đáp ứng
nhu cầu tái sản xuất mở rộng, phù hợp với quy luật khách quan và một lần nữa
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh được nhấn mạnh.
+Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự
cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh . Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu
các doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh .
Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Trong khi thị trường
nguồn vốn kinh doanh .
Yếu tố vốn là chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy mô
có cơ hội có thể khai thác. Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là sự
đánh giá về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh.
1.2.1.2. Nhân tố con người (Lực lượng lao động)
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
Người ta nhắc đến luận điểm ngày càng khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở
thành lực lượng lao động trực tiếp. áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện trên
quyết để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp .Tuy nhiên, cần
thấy rằng: Thứ nhất, máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo.
Nếu không có sự lao động sáng tạo của con người sẽ không thể có các máy móc
thiết bị đó. Thứ hai, máy móc thiết bị có hiện đại đến đâu thì cũng phải phù hợp
với trình độ tổ chức kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động.
Thực tế do trình độ sử dụng kém nên vừa không đem lại năng suất cao vừa tốn
kém tiền bạc cho hoạt động sửa chữa, kết cục là hiệu quả sản xuất kinh doanh
thấp.
Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể vừa
sáng tạo vừa đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh cũng chính lực lượng sáng tạo ra sản phẩm mới. Với
kiểu dáng phù hợp với người tiêu dung làm cho sản phẩm cảu doanh nghiệp có
thể bán với giá cao tạo ra hiệu quả kinh doanh cao. Lực lượng lao động trực tiếp
tác động đến năng suất lao đông, trình độ sử dụng nguồn lực khác (máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu ) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội
ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều doanh nghiệp hiện nay
và thực tế cho thấy những doanh nghiệp mạnh trên thị trường thế giới là những
nghệ là nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, duy trì và phát triển doanh nghiệp ngày
càng đi lên. Mục đích đổi mới công nghệ cần phải tập chung là:
-Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp về chất lượng , sản phẩm, thông
qua chiến lược sản phẩm trên cơ chế thị trường.
-Tăng năng suất lao động, tạo ra hiệu quả cao cho các doanh nghiệp
-Tạo ra lợi nhuận siêu nghạch, đạt được năng suất cao trong sản xuất kinh
doanh .
-Góp phần thực hiện tốt chủ trương của đảng và nhà nước về hiện đại hóa,
công nghiệp hóa trong các doanh nghiệp phù hợp với xu hướng chung của cả
nước.
1.2.1.4. Hệ thống trao đổi và sử lý thông tin.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
Thông tin được coi là một hàng hoá, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế
thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hoá. Để đạt được hiệu quả
cao trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có nhiều thông tin chính
xác về cung cầu thị trường, dịch vụ, hàng hoá, công nghệ, đối thủ cạnh tranh ,
thông tin về giá cả , tỷ giá
Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành
công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết
các thông tin về thay đổi trong các chính sách kinh tế của nhà nước và các nước
khác có liên quan.
Trong sản xuất kinh doanh biết mình biết người và nhất là hiểu rõ được các
đối thủ cạnh tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh , có chính
sách phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau kinh nghiệm thành công của
nhiều doanh nghiệp nắm bắt được các thông tin cần thiết và xử lý, sử dụng các
thông tin đó kịp thời là một điều kiện quan trọng để ra các quyết định sản xuất
kinh doanh có hiệu quả cao. Những thông tin chính xác được cung cấp kịp thời
Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề
ngoài kinh tế của kinh doanh. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp
luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực
hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường này có tác
động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì môi
trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất ngành nghề, phương thức
kinh doanh của doanh nghiệp. Không những thế nó còn tác động đến chi phí
của doanh nghiệp cũng như là chi phí lưu thông chi phí vận chuyển, mức độ về
thuế Đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Tóm lại môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách
tác động đến hoạt động của doanh nghiệp qua hệ thống công cụ pháp luật, công
cụ vĩ mô …
1.2.2.2. Môi trường kinh doanh
Nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh bao gồm như là: Đối thủ
cạnh tranh, thị trường kinh doanh trong nước, môi trường kinh doanh quốc tế, cơ
cấu ngành, tập quán, mức thu nhập bình quân của dân cư,…
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
1.2.2.3. Môi trường tự nhiên
Nhân tố ảnh hưởng của môi trường tự nhiên bao gồm những nhân tố chính
như: thời tiết, khí hậu, mùa vụ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý,…
1.2.2.4. Cơ sở hạ tầng
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như: hệ thống đường giao thông, hệ thống
thông tin liên lạc, điện nước… đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh ở vị trí có hệ thống giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc và có trình
độ dân trí cao sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc độ
1.3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh bưu chính viễn thông (BCVT) là một vấn đề
phức tạp, có quan hệ đến toàn bộ các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh
(lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động). Để đánh giá chính xác và có
cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp BC-VT cần
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp gồm chỉ tiêu tổng quát và chỉ tiêu chi
tiết (cụ thể) để tính toán. Các chỉ tiêu chi tiết phải phù hợp thống nhất với công
thức đánh giá hiệu quả chung.
1.3.1.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng quát.
Chi phí đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và
vốn kinh doanh, còn kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như khối lượng
sản phẩm dịch vụ BCVT, doanh thu và lợi nhuận ròng.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh (H) = Kết quả đầu ra/ Chi phí đầu vào.
Công thức trên phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lợi) của các chỉ tiêu
phản ánh chi phí đầu vào, được tính cho tổng số hoặc tính cho riêng phần gia
tăng. Cách tính này đã khắc phục những tồn tại khi tính theo dạng hiệu số. Nó đã
tạo điều kiện nghiên cứu hiệu qủa SXKD - BCVT một cách toàn diện hơn.
1.3.1.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bộ phận
Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết
quả đầu ra và chi phí đầu vào ta sẽ lập bảng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn những
chỉ tiêu cơ bản nhất sao cho số lượng chỉ tiêu là ít nhất, tổng hợp nhất thuận lợi
cho việc tính toán và phân tích. Hệ thống các chỉ tiêu chi tiết đánh giá hiệu quả
sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
BCVT bao gồm:
a. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
- Chỉ tiêu mức sinh lợi nhuận bình quân trong kỳ của một người lao động.
Lt = Error!
Trong đó:L
n
: lợi nhuận thuần.
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi một lao động của doanh nghiệp tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời kỳ sản xuất kinh doanh
- Mức doanh thu đạt được từ một đơn vị chí phí tiền lương
d
tt
= Error!
- Mức sinh lợi của một đồng chi phí tiền lương
l
tl
= Error!
Hai chỉ tiêu trên phản ánh trong kỳ kinh doanh , doanh nghiệp bỏ ra một
đồng chi phí tiền lương đạt được bao nhiêu đồng doanh thu,lợi nhuận. Do vậy
việc nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương là việc làm cần thiết để nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Ngoài ra, trên thực tế người
ta sử dụng tỷ suất chi phí tiền lương.
b. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề then chốt gắn liền đến sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Bưu chính viễn
thông nói riêng. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng
công tác quản lý vốn, chất lượng công tác sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
ra biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử
các nhà quản lý cần xác định sự ảnh hưởng của chúng như: Giá cả, cấu thành
doanh thu từ các bộ phận. Nhưng đây không phải là việc làm khả quan mà cần
thiết nhất là chúng ta phân loại ra từng loại vốn khác nhau để đánh giá cụ thể.
Thông thường người ta phân theo đặc điểm tuần hoàn vốn. Theo cách này ta có
vốn kinh doanh của doanh nghiệp BCVT bao gồm : vốn cố định và vốn lưu
động.
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định người ta thường sử dụng các chỉ
tiêu sau:
-Doanh thu đạt được từ một đồng vốn cố định. (Sức sản xuất của vốn cố
định)
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
h
vcd
= Error! =
-Sức sinh lời của một đồng vốn cố định:
l
vsx
= Error! = Error!
Ý nghĩa của hai chỉ tiêu trên là trong một kỳ kinh doanh nhất định, doanh
nghiệp bỏ ra một đồng vốn cố định thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận hoặc
daonh thu. Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hơn hiệu quả sử dụng vốn vì đối với
nghành BCVT thì chi phí khấu hao tài sản cố định là những hao phí thực tế tạo
ra kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta sử dụng các chỉ tiêu
sau:
-Mức doanh thu đạt được một đồng vốn lưu động (sức sản xuất của vốn lưu
c. Hiệu quả sử dụng chi phí
- Mức doanh thu từ một đơn vị chi phí bỏ ra (sức sản xuất của chi phí)
= Error!; Error!
Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ việc sử dụng chi phí của doanh nghiệp
càng có hiệu quả dẫn đến hiệu qủa sản xuất kinh doanh càng cao. Công thức trên
đã khái quát được khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
BCVT. Đó là sự so sánh “Kết quả nhận được”và “chi phí sử dụng ” cụ thể là so
sánh giữa doanh thu đạt được và chi phí đã bỏ ra để sản xuất kinh doanh
1.3.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh biểu hiện trực tiếp ở việc
tạo nên kết qủa lớn với chi phí nhỏ, hoàn thiện các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của
các hoạt động sản xuất kinh doanh . Bởi vậy, tất cả các biện pháp ứng dụng
trong sản xuất kinh doanh mà có tác động đến kết quả và chi phí theo hướng trên
đều được coi là các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế. Điều này có thể diễn
giải cụ thể thành các trường hợp sau:
- Hiệu quả kinh tế tăng do các biện pháp tác động theo hướng làm tăng kết
quả và làm giảm chi phí. Đây là trường hợp lý tưởng khó có thể thực hiện trong
cớ chế thị trường hiện nay.
- Hiệu qủa kinh tế tăng do các biện pháp tác động theo hướng giữ nguyên
kết quả làm giảm chi phí nhưng tốc độ tăng của kết qủa lớn hơn tốc độ tăng chi
phí.
- Hiệu qủa kinh tế tăng do các biện pháp tác động theo hướng làm tăng kết
quả đồng thời làm tăng chi phí nhưng tốc độ tăng của kết quả lớn hơn tốc độ
tăng của chi phí.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
Chi phí tăng lên có ý nghĩa là doanh nghiệp sử dụng nhiều hơn các yếu tố
đầu vào của các qua trình sản xuất, điều này kích thích các doanh nghiệp khác