BÁO CÁO THỰC TẬP: "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Tem" - Pdf 19

Luận văn tốt nghiệp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
đề tài : “Giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công
ty Tem”
SVTH: Nguyễn Thành Quang
Lớp: T/c – D2000- QTKD
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD
Khoá luận tốt nghiệp

MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương I: Một số vấn đề về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2
1.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 2
1.1.1. Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2
1.1.1.1. Các quan điểm cơ bản về hiệu quả 2
1.1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh 3
1.1.1.3. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh 4
1.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 7
1.1.2.1. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản lý kinh doanh
7
1.1.2.2. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện sống còn đối với mọi
doanh nghiệp 7
1.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường 9
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp 12
1.2.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp 12
1.2.1.1. Nhân tố vốn 12
1.2.1.2. Nhân tố con người (lực lượng lao động) 12

2.1.3.2. Đặc điểm khách hàng 33
2.1.3.3. Đặc điểm thị trường 35
2.1.4. Đặc điểm về lao động 37
2.1.5. Đặc điểm về vốn 38
2.2. Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Tem 39
2.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2000-2004 39
2.2.1.1. Tem cước phí 39
2.2.2.2. Tem chơi 41
2.2.2. Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 46
2.2.2.1. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung 46
2.2.2.2. Hiệu quả sử dụng vốn 48
2.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 49
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
2.3.1. Những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh 49
2.3.2. Những vấn đề còn tồn tại 53
Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty Tem 56
3.1. Định hướng phát triển của Công ty Tem 56
3.1.1. Mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn tới.56
3.1.2. Định hướng phát triển kinh doanh của Công ty 58
3.1.2.1. Duy trì và phát triển thị trường trong nước 58
3.1.2.2. Phát triển thị trường ngoài nước 60
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 61
3.2.1. Giải pháp phát triển sản phẩm 61
3.2.1.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có 62
3.2.1.2. Phát triển sản phẩm mới 62
3.2.1.3. Đa dạng hoá sản phẩm 65
3.2.1.4. Một số sản phẩm cụ thể triển khai trong năm 2005 65

Tem mới có điều kiện mở rộng sản xuất cùng các đơn vị khác trong Tổng Công
ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, đáp ứng nhu cầu truyền đưa tin tức của nền
kinh tế và của nhân dân, đồng thời trụ vững và phát triển trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, trong điều kiện kinh tế hội nhập, muốn vậy,
Công ty Tem phải luôn luôn phấn đấu đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế đòi hỏi Công ty Tem phải
có những giải pháp sao cho hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả
cao hơn. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chất xúc tác mạnh vừa góp phần nâng
cao đời sống của cán bộ công nhân viên, là sự phát triển của công ty, ngành
cũng như nền kinh tế đất nước. Là nền tảng góp phần vào quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của đất nước. Xuất phát từ vấn đề bức thiết đó, quá trình công
tác tại Công ty Tem và những kiến thức đã học tập, nghiên cứu tại Học viện
Công nghệ Bưu chính Viễn thông, với mong muốn Công ty có thể giải quyết
được những khó khăn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Em đã chọn đề
tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty
Tem” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung
đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Tem.
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty Tem.
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ

quy mô phù hợp với cầu thị trường. Thế nhưng không phải lúc nào điều kiện này
cũng trở thành hiện thực.
Nhiều nhà quản trị học quan niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác
định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được két quả
đó. Manfredkuhn cho rằng: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả
tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh ”. Từ các quan điểm trên có
thể hiểu một nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác
định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan
hệ với kết quả tạo ra để xem xét với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể
tạo ra kết quả ở mức độ nào. Vì vậy, có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng
công thức chung nhất như sau:
H= K/C
Với: H: Hiệu quả kinh doanh
K: Kết qủa đạt được
C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó.
Như thế hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản
xuất kinh doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản
xuất kinh doanh không phụ thuộc vào quy mô và vận tốc biến động của từng
nhân tố.
1.1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực vật chất sản
xuất(lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phân biệt rõ
ranh giới giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả. Kết quả là phạm trù phản ánh
những cái gì thu được sau một quá trình kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ
cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

a. Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế – xã hội
Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động kinh
doanh của từng doanh nghiệp của từng thương vụ kinh doanh. Biểu hiện chung
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
của hiệu quả cá biệt là doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt được và đó chính là
là hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế xã hội mà một thương vụ mang lại cho nền kinh tế quốc
dân là sự đóng góp của hoạt động kinh doanh vào việc phát triển sản xuất,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ,
tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân…
Trong quản lý kinh doanh, hiệu quả cá biệt của từng doanh nghiệp từng
thương vụ rất được coi trọng trong nền kinh tế thị trường vì hoạt động có hiệu
quả thì mới có cái để doanh nghiệp mở rộng và phát triển quy mô kinh doanh.
Nhưng quan trọng hơn là phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh
tế quốc dân, đó là tiêu chuẩn quan trọng của sự phát triển. Hiệu quả kinh tế xã
hội và hiệu quả có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại với nhau.
Hiệu quả kinh tế xã hội đạt được trên cơ sở hiệu quả của các doanh nghiệp kinh
doanh hiệu quả cá biệt, tuy nhiên có trường hợp hiệu quả cá biệt của một số
doanh nghiệp nào đó không đảm bảo nhưng hiệu quả chung kinh tế xã hội vẫn
thu được. Điều này có thể xảy ra trong những trường hợp nhất định trong những
thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách quan mang lại. Mặt khác, để
thu được hiệu quả kinh tế xã hội đôi khi phải từ bỏ một số hiệu quả cá biệt nào
đó. Bởi vậy, Nhà nước cần có chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích chung
của toàn xã hội với lợi ích của từng doanh nghiệp và người lao động trên quản
điểm cơ bản là đặt hiệu quả kinh doanh trong hiệu quả kinh tế xã hội.
b. Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh với nguồn vật lực nhất
định và do đó họ đưa ra thị trường sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định. Khi

doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lượng lớn hay
nhỏ cũng phải tính toán hiệu quả tuyệt đối.
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối của các phương án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là
mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối các phương án. Mục đích chủ yếu của việc
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án, từ đó cho phép lựa
chọn một cách làm, một phương án có hiệu quả nhất.
Giữa hiệu quả tuyệt đối với hiệu quả so sanhs mặc dù độc lập với nhau
song chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và làm căn cứ
của nhau.Thật vậy, trên cơ sở của hiệu quả tuyệt đối người ta sẽ xác định
phương án tối ưu. Nói một cách trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng
phương án, người ta so sánh mức hiệu quả của từng phương án và tìm ra mức
chênh lệch về hiệu quả giữa các phương án đó chính là hiệu quả so sánh.
d. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
Thứ nhất: Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem
xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ
đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn hạn như tuần, tháng, quý, năm…
Thứ hai; Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem
xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài, gắn với chiến lược, kế hoạch dài hạn
hoặc thậm chí nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu
quả lâu dài gắn với quãng thời gian tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Cần chú ý rằng giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn vừa có mối
quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều trường hợp có thể mâu thuẫn với
nhau. Về nguyên tắc chỉ có thể xem xét và đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn
hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương
lai.
1.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất, tư liệu lao động
đất đai
Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử
dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong
điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là
điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh
nào.
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất
cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
thị trường, cạnh tranh và hợp tác. Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định
kinh doanh của mình, tự hạch toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít,
không có lãi thì sẽ dẫn đến phá sản. Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành một
trong những mục tiêu quan trọng nhất , mang tính chất sống còn của sản xuất
kinh doanh.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh
tranh để tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt
được lợi nhuận ngày càng cao. Do vậy, đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh
nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường.
1.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị
trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự
cạnh tranh gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại được trong cơ chế thị trường cạnh
tranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả
hơn.

các doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Tuy nhiên để tạo ra được sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định
cho mình một phương thức hoạt động riêng. Xây dựng các chiến lược, các
phương án kinh doanh một cách phù hợp và có hiệu quả.
Như vậy trong cơ chế thị trường nâng cao hiệu quả kinh doanh vô cùng
quan trọng, nó được thể hiện thông qua:
+ Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự
tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị
trường, mà hiệu quả kinh doanh lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này,
đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững
chắc. Do đó việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách
quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay.
Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển cảu mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
nhập của mỗi doanh nghiệp phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện
nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của các quá trình sản
xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy hiệu quả kinh doanh
là điều kiện hết sức quan trọng việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự
tạo ra hàng hoá của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội,
đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi
doanh nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và
có lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu
cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu
quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên sự tồn tại mới chỉ là yêu

là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là
tối đa hoá lợi nhuận. Chính sự nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là con
đường nâng cao sức mạnh cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi
doanh nghiệp.
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.2.1.1. Nhân tố vốn
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh cảu doanh nghiệp thông
qua khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh khả năng
phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các
nguồn vốn kinh doanh .
Yếu tố vốn là chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy mô
có cơ hội có thể khai thác. Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là sự
đánh giá về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh.
1.2.1.2. Nhân tố con người (Lực lượng lao động)
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
Người ta nhắc đến luận điểm ngày càng khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở
thành lực lượng lao động trực tiếp. áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện trên
quyết để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp .Tuy nhiên, cần
thấy rằng: Thứ nhất, máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo.
Nếu không có sự lao động sáng tạo của con người sẽ không thể có các máy móc
thiết bị đó. Thứ hai, máy móc thiết bị có hiện đại đến đâu thì cũng phải phù hợp
với trình độ tổ chức kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động.
Thực tế do trình độ sử dụng kém nên vừa không đem lại năng suất cao vừa tốn
kém tiền bạc cho hoạt động sửa chữa, kết cục là hiệu quả sản xuất kinh doanh
thấp.
Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể vừa

Nền kinh tế hàng hoá thực sự đặt ra yêu cầu bức bách, buộc các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển muốn có vị trí vững chắc trong quá trình cạnh
tranh phải thực hiện gắn sản xuất với khoa học kỹ thuật và coi chất lượng sản
phẩm là vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị trường đồng thời là
phương pháp có hiệu qủa tạo ra nhu cầu mới. Ngày nay, cạnh tranh giá cả đã
chuyển sang cạnh tranh chất lượng. Như vậy vai trò của đổi mới công nghệ tiên
tiến có thể giải quyết được các vấn đề mà nền kinh tế thị trường đặt ra.
Căn cứ vào các đặc trưng của công nghệ cũng như nhu cầu cần thiết của
việc đổi mới công nghệ thì mục đích chính và quan trọng nhất của đổi mới công
nghệ là nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, duy trì và phát triển doanh nghiệp ngày
càng đi lên. Mục đích đổi mới công nghệ cần phải tập chung là:
-Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp về chất lượng , sản phẩm, thông
qua chiến lược sản phẩm trên cơ chế thị trường.
-Tăng năng suất lao động, tạo ra hiệu quả cao cho các doanh nghiệp
-Tạo ra lợi nhuận siêu nghạch, đạt được năng suất cao trong sản xuất kinh
doanh .
-Góp phần thực hiện tốt chủ trương của đảng và nhà nước về hiện đại hóa,
công nghiệp hóa trong các doanh nghiệp phù hợp với xu hướng chung của cả
nước.
1.2.1.4. Hệ thống trao đổi và sử lý thông tin.
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
Thông tin được coi là một hàng hoá, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế
thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hoá. Để đạt được hiệu quả
cao trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có nhiều thông tin chính
xác về cung cầu thị trường, dịch vụ, hàng hoá, công nghệ, đối thủ cạnh tranh ,
thông tin về giá cả , tỷ giá
Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành
công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết

1.2.2.1. Môi trường chính trị - pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị
được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh
hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển
của nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại.
Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề
ngoài kinh tế của kinh doanh. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp
luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực
hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường này có tác
động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì môi
trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất ngành nghề, phương thức
kinh doanh của doanh nghiệp. Không những thế nó còn tác động đến chi phí
của doanh nghiệp cũng như là chi phí lưu thông chi phí vận chuyển, mức độ về
thuế Đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Tóm lại môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách
tác động đến hoạt động của doanh nghiệp qua hệ thống công cụ pháp luật, công
cụ vĩ mô …
1.2.2.2. Môi trường kinh doanh
Nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh bao gồm như là: Đối thủ
cạnh tranh, thị trường kinh doanh trong nước, môi trường kinh doanh quốc tế, cơ
cấu ngành, tập quán, mức thu nhập bình quân của dân cư,…
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
1.2.2.3. Môi trường tự nhiên
Nhân tố ảnh hưởng của môi trường tự nhiên bao gồm những nhân tố chính
như: thời tiết, khí hậu, mùa vụ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý,…

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nền kinh tế, trình độ trang bị kỹ thuật/công nghệ,
khả năng nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong kinh tế/ngành
kinh tế.
1.3. CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh bưu chính viễn thông (BCVT) là một vấn đề
phức tạp, có quan hệ đến toàn bộ các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh
(lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động). Để đánh giá chính xác và có
cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp BC-VT cần
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD

Khoá luận tốt nghiệp
phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp gồm chỉ tiêu tổng quát và chỉ tiêu chi
tiết (cụ thể) để tính toán. Các chỉ tiêu chi tiết phải phù hợp thống nhất với công
thức đánh giá hiệu quả chung.
1.3.1.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng quát.
Chi phí đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và
vốn kinh doanh, còn kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như khối lượng
sản phẩm dịch vụ BCVT, doanh thu và lợi nhuận ròng.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh (H) = Kết quả đầu ra/ Chi phí đầu vào.
Công thức trên phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lợi) của các chỉ tiêu
phản ánh chi phí đầu vào, được tính cho tổng số hoặc tính cho riêng phần gia
tăng. Cách tính này đã khắc phục những tồn tại khi tính theo dạng hiệu số. Nó
đã tạo điều kiện nghiên cứu hiệu qủa SXKD - BCVT một cách toàn diện hơn.
1.3.1.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bộ phận
Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết
quả đầu ra và chi phí đầu vào ta sẽ lập bảng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn những
chỉ tiêu cơ bản nhất sao cho số lượng chỉ tiêu là ít nhất, tổng hợp nhất thuận lợi

Trong đó: T
tt
: Số lao động trực tiếp bình quân sử dụng trong kỳ.
- Chỉ tiêu mức sinh lợi nhuận bình quân trong kỳ của một người lao động.
Lt =
Trong đó:L
n
: lợi nhuận thuần.
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi một lao động của doanh nghiệp tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời kỳ sản xuất kinh doanh
- Mức doanh thu đạt được từ một đơn vị chí phí tiền lương
d
tt
=
- Mức sinh lợi của một đồng chi phí tiền lương
l
tl
=
Hai chỉ tiêu trên phản ánh trong kỳ kinh doanh , doanh nghiệp bỏ ra một
đồng chi phí tiền lương đạt được bao nhiêu đồng doanh thu,lợi nhuận. Do vậy
việc nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương là việc làm cần thiết để nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Ngoài ra, trên thực tế người
ta sử dụng tỷ suất chi phí tiền lương.
b. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề then chốt gắn liền đến sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Bưu chính viễn
thông nói riêng. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng
công tác quản lý vốn, chất lượng công tác sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề
Nguyễn Thành Quang - Lớp: T/c - D2000 - QTKD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status