Luận văn: Luận văn Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty CP chứng khoán Sài Gòn Hà Nội - Pdf 15

Luận văn
Hoàn thiện hệ thống kế toán
trách nhiệm tại Công ty CP
chứng khoán Sài Gòn Hà Nội
1

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG
DOANH NGHIỆP

1.1. Khái quát về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Theo Luật Kế toán Việt Nam, KTQT “ là việc thu thập, xử lý, phân tích và
cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài
chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. [2, trang 13]
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì KTQT “là quá
trình nhận diện, đo lƣờng, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá
trình thực hiện các mục đích của tổ chức. Kế toán quản trị là một bộ phận thống
nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến
lƣợc quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”. [2, trang 13]
Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán quốc gia (Mỹ), “KTQT là quá trình
cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế
hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình
kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong, đếm, thu thập, tích
lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản
lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hƣớng có lợi nhất cho doanh
nghiệp”. [5, trang 26]
Do đó, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa về kế toán quản trị nhƣng qua các

nhiệm. [5, trang 108]
Kế toán trách nhiệm đo lƣờng, đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt
động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
Việc đánh giá này thƣờng đƣợc dựa trên hai tiêu chí đó là hiệu quả và hiệu năng.
Hiệu quả: có đƣợc khi đạt đƣợc mục tiêu đặt ra mà chƣa kể đến việc sử dụng tài
nguyên nhƣ thế nào, nó đƣợc xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt đƣợc và
mục tiêu đặt ra cho trung tâm trách nhiệm đó. Nói cách khác, đó chính là mức độ
3

mà trung tâm trách nhiệm hoàn thành mục tiêu của mình. [5, trang 108]
Hiệu năng: là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm hoặc đó
là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt đƣợc so với nguồn tài nguyên thực tế mà trung tâm
trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó. [5, trang 108]
Nhƣ vậy, để có thể đánh giá đƣợc hiệu quả và hiệu năng của các trung tâm trách
nhiệm, chúng ta phải lƣợng hóa đƣợc đầu vào và đầu ra của các trung tâm trách
nhiệm. Trên cơ sở đó sẽ xác định đƣợc các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt
động của từng trung tâm cụ thể.
1.2.2 Vai trò kế toán trách nhiệm
Hệ thống kế toán trách nhiệm đƣợc thiết lập để ghi nhận, đo lƣờng kết quả hoạt
động của từng bộ phận trong một tổ chức, nhằm giúp các nhà quản lý kiểm soát
đƣợc hoạt động và chi phí của họ, đồng thời qua đó đánh giá đƣợc trách nhiệm của
nhà quản trị ở từng cấp quản lý khác nhau. Do vậy, KTTN đƣợc thực hiện trên
nguyên tắc là nó tập hợp và báo cáo những thông tin kế toán thực tế và đƣợc dự
toán về các đầu vào, đầu ra của các trung tâm trách nhiệm.
1.3 Chức năng và đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm
1.3.1 Chức năng của kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một phƣơng pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức
thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lƣờng biểu hiện của chúng. Nói
cách khác, kế toán trách nhiệm là một “công cụ” để đo lƣờng kết quả hoạt động của
một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá

tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng là tối đa hoá mợi nhuận.
- Đối với nhà quản lý cấp thấp: Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý
hƣớng đến mục tiêu chung của tổ chức. Mục tiêu chiến lƣợc của doanh nghiệp đƣợc
gắn với các trung tâm trách nhiệm. Khi KTTN có thể kiểm soát đƣợc công tác tài
chính và công tác quản lý, sẽ điều chỉnh hoạt động hƣớng đến các mục tiêu chung
của doanh nghiệp. Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm đƣợc
khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp. 5 1.4 Nội dung của kế toán trách nhiệm
Nội dung cơ bản để thực hiện hệ thống Kế toán trách nhiệm bao gồm những vấn đề
cụ thể nhƣ sau:
- Phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm.
- Xác định các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận.
- Xác định trách nhiệm báo cáo của từng trung tâm trách nhiệm.
1.4.1 Sự phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm
1.4.1.1 Sự phân cấp quản lý
Kế toán trách nhiệm là công việc đƣợc thực hiện không thể tách rời các
trung tâm trách nhiệm. Các trung tâm này đƣợc hình thành thông qua việc phân cấp
quản lý. Theo đó, để thực hiện các chức năng quản lý của mình, ngƣời quản lý cấp
cao phải thể hiện đƣợc đúng đắn quyền lực của mình, phải gây đƣợc ảnh hƣởng và
sức thuyết phục đối với nhân viên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho
cấp dƣới nhằm giúp cấp dƣới có thể điều hành các công việc thƣờng xuyên tại bộ
phận mà họ quản lý. [4, trang 10-11]
6

1.4.1.2 Xác định các trung tâm trách nhiệm

cách so sánh chi phí giữa dự toán ngân sách đã định và thực tế thực hiện. Tuy nhiên,
cách so sánh này chỉ cho kết quả tƣơng đối, nên cần phải kết hợp một số chỉ tiêu phi
tài chính về mức độ và chất lƣợng của các dịch vụ mà các trung tâm này cung cấp.
- Trung tâm doanh thu: là trung tâm trách nhiệm mà ngƣời quản lý chỉ có
trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận và vốn
đầu tƣ. Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung
giá cả cho phép để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp. [4, trang 12]
Trung tâm này thƣờng đƣợc gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở,
đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị nhƣ các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu
thụ
- Trung tâm lợi nhuận: là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải
chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm. Trong trƣờng hợp
này nhà quản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất nhƣ
thế nào, mức độ chất lƣợng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng. Nhà quản lý
phải quyết định các nguồn lực sản xuất đƣợc phân bổ nhƣ thế nào giữa các sản
phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt đƣợc sự cân bằng trong việc phối hợp
giữa các yếu tố giá cả, sản lƣợng, chất lƣợng và chi phí. [4, trang 13]
Loại trung tâm trách nhiệm này thƣờng đƣợc gắn với bậc quản lý cấp
trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng
công ty nhƣ các công ty phụ thuộc, các chi nhánh
- Trung tâm đầu tƣ: đây là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý
cấp cao nhƣ Hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập, Đó là sự tổng
quát hóa của các trung tâm lợi nhuận, trong đó khả năng sinh lời gắn với các tài sản
đƣợc sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó. Một trung tâm trách nhiệm đƣợc xem là trung
tâm đầu tƣ khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh
thu mà còn quyết định lƣợng vốn để tiến hành quá trình đó. [4, trang 13]
8

1.4.2 Xác định các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản trị
bộ phận

động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát chi phí mang lại.
Nhà quản trị trung tâm chi phí có trách nhiệm điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh ở trung tâm sao cho đạt đƣợc kế hoạch đƣợc giao, đồng thời đảm bảo chi phí
thực tế phát sinh không vƣợt quá chi phí tiêu chuẩn (hoặc dự toán). Do vậy, khi
đánh giá trách nhiệm quản trị cũng nhƣ đo lƣờng kết quả hoạt động của loại trung
tâm này, chúng ta cần đánh giá hai chỉ tiêu cơ bản sau: [4, trang 14-15]
+ Có hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao về sản lƣợng sản xuất kinh doanh hay
không?
+ Chi phí thực tế phát sinh có vƣợt quá định mức tiêu chuẩn (hoặc dự toán) hay
không?
Trƣờng hợp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh nhƣng chi phí thực tế
vƣợt quá định mức (dự toán), thì sẽ tiến hành phân tích xác định nguyên nhân để
làm cơ sở đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp một cách chính xác hơn.
* Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lƣờng kết quả hoạt động của trung
tâm doanh thu:
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm doanh thu là tổ chức tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ sao cho đạt đƣợc doanh thu trong kỳ nhiều nhất của bộ phận do mình
kiểm soát. Theo đó, chúng ta sẽ đối chiếu doanh thu thực tế đạt đƣợc so với doanh
thu dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ sở đó
phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hƣởng của các nhân tố có liên quan, nhƣ đơn giá
bán, khối lƣợng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ. [4, trang 15]
Do đầu ra của trung tâm doanh thu đƣợc lƣợng hóa bằng tiền, nhƣng đầu vào thì
trung tâm này không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm hay giá vốn hàng bán.
Trong khi đó chi phí phát sinh tại trung tâm thì không thể so sánh đƣợc với doanh
thu của trung tâm, vì vậy để đo lƣờng hiệu năng hoạt động của trung tâm này,
chúng ta sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán của trung tâm.[4, trang
15]
10

* Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lƣờng kết quả hoạt động của tung

Về bản chất có thể xem trung tâm đầu tƣ là một dạng mở rộng của trung tâm lợi
nhuận, trong đó nhà quản trị có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việc
đƣa ra các quyết định ngắn hạn nhƣ xác định cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí sản
phẩm, họ còn có quyền kiểm soát và đƣa ra các quyết định về vốn đầu tƣ của
doanh nghiệp. Vì vậy về mặt hiệu quả hoạt động của trung tâm đầu tƣ có thể đƣợc
đo lƣờng giống nhƣ trung tâm lợi nhuận, nhƣng về hiệu năng hoạt động thì cần có
sự so sánh lợi nhuận đạt đƣợc với tài sản hay giá trị đã đầu tƣ vào trung tâm. Các
chỉ tiêu cơ bản có thể sử dụng để đánh giá hiệu năng hoạt động của trung tâm đầu tƣ
nhƣ: Tỷ suất hoàn vốn đầu tƣ (ROI), lãi thặng dƣ (RI), giá thị trƣờng của tài sản của
doanh nghiệp. [4, trang 16]
(1) Tỷ suất hoàn vốn đầu tƣ (ROI)
ROI là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tƣ đã bỏ ra hay theo Du Pont thì
ROI còn đƣợc phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với vòng quay vốn
đầu tƣ.
Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu tƣ của các
trung tâm đầu tƣ và các doanh nghiệp với quy mô vốn khác nhau, để phân tích xem
nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý; Mục tiêu
thứ hai khi sử dụng ROI để tìm ra nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, nhằm tìm
ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động đƣợc tốt hơn. Đó là các biện pháp cải
thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tƣ. [4, trang 17]
Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh thu
ROI = = x
Vốn đầu tƣ Doanh thu Vốn đầu tƣ

Hay: ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Số vòng quay của vốn đầu tƣ.
Lợi nhuận sử dụng trong công thức là lợi nhuận thuần trƣớc thuế thu nhập. Lý
do sử dụng lợi nhuận thuần là để phù hợp với doanh thu và vốn hoạt động đã tạo ra
12

nó, và để xác định vòng quay vốn. Vốn hoạt động đƣợc sử dụng trong ROI ở điều

nơi có quy mô vốn lớn. [4, trang 18]
Nhƣ vậy, để đánh giá kết quả trung tâm đầu tƣ, nhà quản trị cần sử dụng kết hợp
các chỉ tiêu cơ bản nhƣ ROI, RI, với việc xem xét mức chênh lệch trong việc thực
hiện các chỉ tiêu giữa thực tế so với kế hoạch. [4, trang 18]
1.4.3 Xác định các báo cáo trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm
Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm đƣợc tổng hợp định kỳ trên một báo
cáo kế toán trách nhiệm (gọi tắt là báo cáo trách nhiệm). Báo cáo trách nhiệm của
từng trung tâm sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán,
đồng thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực tế so với dự toán, theo từng chỉ
tiêu đƣợc chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm. Ví
dụ, báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí gồm các khoản mục chi phí thực tế,
chi phí dự toán và các khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế so với dự toán; báo cáo
trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là báo cáo tình hình thực hiện dự toán lợi
nhuận theo hình thức số dƣ đảm phí, báo cáo thu nhập số dƣ bộ phận. Nhƣ vậy báo
cáo trách nhiệm chú trọng vào việc thực hiện các dự toán và phân tích các chênh
lệch, vì thế để so sánh đánh giá các khoản chênh lệch này một cách phù hợp và
đúng đắn, ngƣời ta thƣờng sử dụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức
chuẩn cho việc so sánh, đánh giá tình hình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và
lợi nhuận. [5, trang 114 -115]
Căn cứ vào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm đƣợc chia
thành bốn nhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm sau:
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí.
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu.
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận.
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tƣ.
Sau đây là một số mẫu biểu báo cáo trách nhiệm cụ thể của từng trung tâm
trách nhiệm: 14

thu
thực tế
Doanh
thu dự
toán
Chênh
lệch
Ảnh hƣởng biến động
của các nhân tố
Đơn
giá
bán
Số
lƣợng
tiêu thụ
Cơ cấu
mặt
hàng
tiêu
thụ
Báo cáo cho giám đốc kinh doanh
1. Chi nhánh 1
2. Chi nhánh 2
3. Chi nhánh 3


- Sản xuất
- Lƣu thông và quản lý
3. Số dƣ đảm phí (= 1 – 2)
4. Định phí trực tiếp (kiểm soát đƣợc)
5. Số dƣ bộ phận kiểm soát đƣợc ( = 3 – 4)
6. Định phí không kiểm soát đƣợc
7. Số dƣ bộ phận ( = 5 -6)
8. Chi phí chung của công ty phân bổ


3. Số dƣ đảm phí
4. Định phí bộ phận
5. Số dƣ bộ phận
6. Chi phí chung phân bổ
7. Lợi nhuận trƣớc thuế
8. Chi phí thuế TNDN
9. Lợi nhuận sau thuế
TNDN

cần hoàn thành. Dựa vào hệ thống dự toán, kế toán trách nhiệm có thể đánh giá
đƣợc khả năng quản lý và hoàn thành các công việc của mỗi bộ phận. Ngoài ra,
thông tin dự toán có thể dự báo trƣớc một số vấn đề có thể phát sinh, từ đó ban quản
trị đƣa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo tính khả thi của dự toán.
- Định giá sản phẩm, dịch vụ luân chuyển nội bộ (giá chuyển đổi nội bộ): Khi
các bộ phận trong cùng đơn vị cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ qua lại lẫn nhau sẽ
phát sinh việc tính giá chuyển đổi nội bộ. Giá chuyển đổi có thể xác định theo chi
phí sử dụng, giá thị trƣờng và giá thƣơng lƣợng. Việc xác định giá này sẽ ảnh
hƣởng đến kết quả hoạt động của các trung tâm tham gia chuyển đổi nên cần thiết
định giá một cách phù hợp, có thể chấp nhận đƣợc.
- Phân bổ chi phí cho các trung tâm trách nhiệm: Chi phí phát sinh trực tiếp tại
trung tâm đƣợc đƣa trực tiếp vào tính kết quả, nhƣng chi phí gián tiếp có liên quan
đến nhiều trung tâm thì kế toán cần phân bổ. Kế toán cần lựa chọn tiêu thức phân bổ
hợp lý để đánh giá đúng kết quả và hiệu quả của các trung tâm, và đây cũng là mục
đích của việc kiểm soát trung tâm chi phí, khuyến khích các trung tâm tiết kiệm chi
phí, làm việc hiệu quả hơn.
- Phân tích biến động chi phí, doanh thu, lợi nhuận: Việc phân tích biến động
của các chỉ tiêu đƣợc dựa trên dự toán kế hoạch là chủ yếu. Kế toán trách nhiệm
phân tích sai biệt giữa chỉ tiêu thực hiện với chỉ tiêu dự toán của các trung tâm, rút
ra các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả, hiệu quả của bộ phận đó. Đây là nội dung cần
thiết để đánh giá trách nhiệm quản lý của các trung tâm, kết quả và hiệu quả hoạt
động của nó.
- Mối quan hệ chi phí - khối lƣợng – lợi nhuận (CVP): Đây là việc tính ra số
dƣ đảm phí, tỷ lệ số dƣ đảm phí, đòn bẩy kinh tế, và nó chỉ có ý nghĩa đối với các
trung tâm lợi nhuận cùng cấp. Thông qua việc tính toán các chỉ tiêu về số dƣ đảm
18

phí, kế toán trách nhiệm phân tích các số dƣ của các trung tâm lợi nhuận để lại, tức
phần đóng góp trong doanh số bán hàng để cân đối chi phí hoạt động, phản ánh
đƣợc kết quả, hiệu quả hoạt động của các trung tâm lợi nhuận.


KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, cung cấp cho nhà
quản trị các chỉ tiêu để đánh giá thành quả quản lý của từng bộ phận, trung tâm
trách nhiệm trong một tổ chức. Nhiệm vụ của tổ chức là xây dựng các trung tâm
trách nhiệm phù hợp với cơ cấu tổ chức, đặc điểm kinh doanh của mình, thông qua
đó thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ cho mục tiêu chung của
doanh nghiệp.

Qua Chƣơng 1, luận văn đã giới thiệu tổng quát một số kiến thức cần thiết về
kế toán trách nhiệm quản lý làm cơ sở lý luận nghiên cứu cho các chƣơng sau.
Trong đó, mỗi doanh nghiệp có thể bao gồm bốn trung tâm trách nhiệm là trung tâm
chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tƣ. Mỗi trung
tâm sẽ tƣơng ứng với một cấp quản trị thích hợp, phụ thuộc vào quyền kiểm soát
của nhà quản trị đối với trung tâm đó. Và tùy theo từng trung tâm, kế toán trách
nhiệm sẽ có những công cụ để đánh giá thành quả khác nhau.
20

CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN HÀ NỘI

2.1 Tình hình tổ chức quản lý kinh doanh và công tác kế toán
2.1.1 Tình hình tổ chức quản lý kinh doanh
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

vực chủ yếu là Môi giới chứng khoán, lƣu ký và quản lý sổ cổ đông.
2.1.1.3 Những thuận lợi, khó khăn và phƣơng hƣớng phát triển của công ty
- Mục tiêu:
Tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông.
Luôn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tốt nhất, nhanh nhất, an toàn và với
mức phí hợp lý nhất.
Tạo môi trƣờng làm việc chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo, thu nhập cao và
cơ hội phát triển nghề nghiệp cho cán bộ nhân viên.
Đóng góp, xây dựng và phát triển Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam hiệu quả
và bền vững.
- Thuận lợi:
Cổ đông sáng lập của công ty bao gồm nhiều tập đoàn lớn mạnh nhƣ Tập đoàn
than và khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Công ty Cổ
phần tập đoàn T&T, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội,
Công ty có đội ngũ nhân viên có trình độ và giàu kinh nghiệm.
Cơ sở hạ tầng hiện đại và công nghệ tiên tiến.
Sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú và chất lƣợng: Công ty luôn mang tới
cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú với chất lƣợng hàng
22

đầu nhƣ phần mềm giao dịch trực tuyến SHPro, Shweb.
- Khó khăn:
Công ty là thành viên thứ 69 của UBCK nhà nƣớc, với sự ra đời sau so với các
thành viên khác nên thị phần môi giới của công ty chƣa đƣợc rộng rãi.
Nền kinh tế việt nam trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn nên sự
phát triển của các công ty chứng khoán cũng gặp nhiều trở ngại.
- Định hƣớng phát triển:
 Phát triển đồng bộ các mặt hoạt động trên cơ sở khai thác tối đa các nguồn
lực và lợi thế của SHS đặc biệt là tìm kiếm cơ hội đầu tƣ giá trị do SHS có
một nguồn vốn lớn.

24

Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lý Công ty,
có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi
của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
Ban Kiểm soát
Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, chịu sự quản lý trực tiếp của
Đại hội đồng cổ đông. Ban Kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của
Công ty, giám sát việc tuân thủ chấp hành chế độ hạch toán, kế toán, quy trình, quy
chế quản trị nội bộ Công ty, thẩm định Báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo
ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về Báo cáo tài chính Công ty.
Hội đồng đầu tƣ
Hội đồng đầu tƣ đƣợc thành lập theo quyết định của Hội đồng quản trị, hoạt
động theo Quy chế tổ chức hoạt động của Hội đồng đầu tƣ.
Ban Tổng Giám đốc
Ban Tổng Giám đốc bao gồm Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc.
Tổng Giám đốc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo Điều lệ quy định.
Tổng Giám đốc là ngƣời điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của Công
ty theo Nghị quyết, Quyết định của Đại hội đồng cổ đông và HĐQT; Chịu sự giám
sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trƣớc Hội đồng quản trị và trƣớc pháp
luật về việc thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ đƣợc giao.
Văn phòng Hội đồng quản trị
Văn phòng HĐQT là bộ phận giúp việc cho HĐQT trong công tác quản trị
Công ty, thực hiện chức năng, nhiệm vụ: Thƣ ký Công ty; Chịu trách nhiệm soạn
thảo các quyết định, quy chế, quy định thuộc thẩm quyền ban hành của HĐQT.
Các Phòng Ban
a. Phòng Giao dịch Chứng khoán (Phòng Môi giới )
Phòng Giao dịch chứng khoán thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến giao

Trích đoạn Tổ chức công tác kế toán Hệ thống các trung tâm trách nhiệm tại công ty Về việc sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận Về việc phân bổ doanh thu, chi phí Đối với các Cơ quan chức năng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status