1
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Theo Luật Kế toán Việt Nam, KTQT “ là việc thu thập, xử lý, phân tích và
cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài
chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. [2, trang 13]
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì KTQT “là quá
trình nhận diện, đo lƣờng, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá
trình thực hiện các mục đích của tổ chức. Kế toán quản trị là một bộ phận thống
nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến
lƣợc quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”. [2, trang 13]
Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán quốc gia (Mỹ), “KTQT là quá trình
cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế
hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình
kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong, đếm, thu thập, tích
lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản
lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hƣớng có lợi nhất cho doanh
nghiệp”. [5, trang 26]
Do đó, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa về kế toán quản trị nhƣng qua các
quan điểm và định nghĩa trên chúng ta có thể tóm tắt Kế toán quản trị là một phần
của kế toán phục vụ cho quá trình quản lý nội bộ của doanh nghiệp. Kế toán quản
trị giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình hoạch định, kiểm soát và
ra quyết định.
1.1.2 Vai trò kế toán quản trị
Vai trò của KTQT là cung cấp thông tin giúp nhà quản trị ra các quyết định
2
3
mà trung tâm trách nhiệm hoàn thành mục tiêu của mình. [5, trang 108]
Hiệu năng: là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm hoặc đó
là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt đƣợc so với nguồn tài nguyên thực tế mà trung tâm
trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó. [5, trang 108]
Nhƣ vậy, để có thể đánh giá đƣợc hiệu quả và hiệu năng của các trung tâm trách
nhiệm, chúng ta phải lƣợng hóa đƣợc đầu vào và đầu ra của các trung tâm trách
nhiệm. Trên cơ sở đó sẽ xác định đƣợc các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt
động của từng trung tâm cụ thể.
1.2.2 Vai trò kế toán trách nhiệm
Hệ thống kế toán trách nhiệm đƣợc thiết lập để ghi nhận, đo lƣờng kết quả hoạt
động của từng bộ phận trong một tổ chức, nhằm giúp các nhà quản lý kiểm soát
đƣợc hoạt động và chi phí của họ, đồng thời qua đó đánh giá đƣợc trách nhiệm của
nhà quản trị ở từng cấp quản lý khác nhau. Do vậy, KTTN đƣợc thực hiện trên
nguyên tắc là nó tập hợp và báo cáo những thông tin kế toán thực tế và đƣợc dự
toán về các đầu vào, đầu ra của các trung tâm trách nhiệm.
1.3 Chức năng và đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm
1.3.1 Chức năng của kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một phƣơng pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức
thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lƣờng biểu hiện của chúng. Nói
cách khác, kế toán trách nhiệm là một “công cụ” để đo lƣờng kết quả hoạt động của
một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá
trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau. Chức năng của Kế toán trách
nhiệm đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau đây: [4, trang 9]
- Kế toán trách nhiệm giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào
lợi ích của toàn bộ tổ chức.
- Kế toán trách nhiệm cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng về kết
quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận.
- Kế toán trách nhiệm đƣợc sử dụng để đo lƣờng kết quả hoạt động của các nhà
5 1.4 Nội dung của kế toán trách nhiệm
Nội dung cơ bản để thực hiện hệ thống Kế toán trách nhiệm bao gồm những vấn đề
cụ thể nhƣ sau:
- Phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm.
- Xác định các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận.
- Xác định trách nhiệm báo cáo của từng trung tâm trách nhiệm.
1.4.1 Sự phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm
1.4.1.1 Sự phân cấp quản lý
Kế toán trách nhiệm là công việc đƣợc thực hiện không thể tách rời các
trung tâm trách nhiệm. Các trung tâm này đƣợc hình thành thông qua việc phân cấp
quản lý. Theo đó, để thực hiện các chức năng quản lý của mình, ngƣời quản lý cấp
cao phải thể hiện đƣợc đúng đắn quyền lực của mình, phải gây đƣợc ảnh hƣởng và
sức thuyết phục đối với nhân viên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho
cấp dƣới nhằm giúp cấp dƣới có thể điều hành các công việc thƣờng xuyên tại bộ
phận mà họ quản lý. [4, trang 10-11]
6
1.4.1.2 Xác định các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một chức năng hay một bộ phận trong một tổ
chức, đặt dƣới sự lãnh đạo của một nhà quản trị hoặc một cấp quản lý, chịu trách
nhiệm trực tiếp với kết quả của chức năng hay bộ phận đó. Trong một tổ chức có
thể đƣợc xác lập bởi bốn loại trung tâm trách nhiệm cơ bản sau:
- Trung tâm chi phí: Trung tâm chi phí là một loại trung tâm trách nhiệm
thể hiện phạm vi cơ bản của hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các
hoạt động nhƣ: Lập dự toán chi phí, phân loại chi phí thực tế phát sinh, so sánh chi
Trung tâm này thƣờng đƣợc gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở,
đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị nhƣ các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu
thụ...
- Trung tâm lợi nhuận: là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải
chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm. Trong trƣờng hợp
này nhà quản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất nhƣ
thế nào, mức độ chất lƣợng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng. Nhà quản lý
phải quyết định các nguồn lực sản xuất đƣợc phân bổ nhƣ thế nào giữa các sản
phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt đƣợc sự cân bằng trong việc phối hợp
giữa các yếu tố giá cả, sản lƣợng, chất lƣợng và chi phí. [4, trang 13]
Loại trung tâm trách nhiệm này thƣờng đƣợc gắn với bậc quản lý cấp
trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng
công ty nhƣ các công ty phụ thuộc, các chi nhánh...
- Trung tâm đầu tƣ: đây là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý
cấp cao nhƣ Hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập,... Đó là sự tổng
quát hóa của các trung tâm lợi nhuận, trong đó khả năng sinh lời gắn với các tài sản
đƣợc sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó. Một trung tâm trách nhiệm đƣợc xem là trung
tâm đầu tƣ khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh
thu mà còn quyết định lƣợng vốn để tiến hành quá trình đó. [4, trang 13]
8
1.4.2 Xác định các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản trị
bộ phận
1.4.2.1 Quan điểm đánh giá trách nhiệm quản lý bộ phận
Để đo lƣờng đánh giá các trung tâm trách nhiệm, có hai loại chỉ tiêu cơ bản
thƣờng đƣợc sử dụng là chỉ tiêu hiệu quả và chỉ tiêu hiệu năng.
Chỉ tiêu kết quả (hiệu quả) là mức độ các trung tâm trách nhiệm thực hiện
các nhiệm vụ đề ra, có thể là số tuyệt đối hoặc tƣơng đối. Ví dụ nhƣ nhà quản lý đặt
ra doanh thu cần đạt cho trung tâm doanh thu, mức tỷ lệ hòa vốn của trung tâm lợi
nhuận, mức thực hiện thực tế so với kế hoạch của mỗi bộ phận. [4, trang 14]
không?
+ Chi phí thực tế phát sinh có vƣợt quá định mức tiêu chuẩn (hoặc dự toán) hay
không?
Trƣờng hợp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh nhƣng chi phí thực tế
vƣợt quá định mức (dự toán), thì sẽ tiến hành phân tích xác định nguyên nhân để
làm cơ sở đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp một cách chính xác hơn.
* Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lƣờng kết quả hoạt động của trung
tâm doanh thu:
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm doanh thu là tổ chức tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ sao cho đạt đƣợc doanh thu trong kỳ nhiều nhất của bộ phận do mình
kiểm soát. Theo đó, chúng ta sẽ đối chiếu doanh thu thực tế đạt đƣợc so với doanh
thu dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ sở đó
phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hƣởng của các nhân tố có liên quan, nhƣ đơn giá
bán, khối lƣợng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ. [4, trang 15]
Do đầu ra của trung tâm doanh thu đƣợc lƣợng hóa bằng tiền, nhƣng đầu vào thì
trung tâm này không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm hay giá vốn hàng bán.
Trong khi đó chi phí phát sinh tại trung tâm thì không thể so sánh đƣợc với doanh
thu của trung tâm, vì vậy để đo lƣờng hiệu năng hoạt động của trung tâm này,
chúng ta sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán của trung tâm.[4, trang
15]
10
* Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lƣờng kết quả hoạt động của tung
tâm lợi nhuận:
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động kinh
doanh sao cho lợi nhuận đạt đƣợc là cao nhất. Nhà quản trị trung tâm lợi nhuận
đƣợc giao vốn và quyền quyết định trong việc sử dụng số vốn đó để tạo ra lợi
nhuận. Do vậy, bên cạnh trách nhiệm phải tạo ra lợi nhuận cao, trung tâm lợi nhuận
còn có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh. Chính vì vậy, để đánh giá kết quả
của trung tâm lợi nhuận, chúng ta cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận,
chỉ tiêu cơ bản có thể sử dụng để đánh giá hiệu năng hoạt động của trung tâm đầu tƣ
nhƣ: Tỷ suất hoàn vốn đầu tƣ (ROI), lãi thặng dƣ (RI), giá thị trƣờng của tài sản của
doanh nghiệp. [4, trang 16]
(1) Tỷ suất hoàn vốn đầu tƣ (ROI)
ROI là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tƣ đã bỏ ra hay theo Du Pont thì
ROI còn đƣợc phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với vòng quay vốn
đầu tƣ.
Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu tƣ của các
trung tâm đầu tƣ và các doanh nghiệp với quy mô vốn khác nhau, để phân tích xem
nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý; Mục tiêu
thứ hai khi sử dụng ROI để tìm ra nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, nhằm tìm
ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động đƣợc tốt hơn. Đó là các biện pháp cải
thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tƣ. [4, trang 17]
Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh thu
ROI = = x
Vốn đầu tƣ Doanh thu Vốn đầu tƣ
Hay: ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Số vòng quay của vốn đầu tƣ.
Lợi nhuận sử dụng trong công thức là lợi nhuận thuần trƣớc thuế thu nhập. Lý
do sử dụng lợi nhuận thuần là để phù hợp với doanh thu và vốn hoạt động đã tạo ra
12
nó, và để xác định vòng quay vốn. Vốn hoạt động đƣợc sử dụng trong ROI ở điều
kiện bình thƣờng là vốn bình quân giữa đầu năm và cuối năm. Nếu vốn trong năm
biến động liên tục thì phải tính bình quân từng tháng. [4, trang 17]
(2) Lãi thặng dƣ (RI)
Lãi thặng dƣ (hay lợi tức còn lại) là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh
nghiệp, đƣợc trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi đã đầu tƣ vào bộ phận đó. Chỉ số
này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vƣợt trên chi phí vốn đã đầu tƣ vào một bộ
phận hay toàn doanh nghiệp. [4, trang 17]
từng trung tâm sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán,
đồng thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực tế so với dự toán, theo từng chỉ
tiêu đƣợc chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm. Ví
dụ, báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí gồm các khoản mục chi phí thực tế,
chi phí dự toán và các khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế so với dự toán; báo cáo
trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là báo cáo tình hình thực hiện dự toán lợi
nhuận theo hình thức số dƣ đảm phí, báo cáo thu nhập số dƣ bộ phận. Nhƣ vậy báo
cáo trách nhiệm chú trọng vào việc thực hiện các dự toán và phân tích các chênh
lệch, vì thế để so sánh đánh giá các khoản chênh lệch này một cách phù hợp và
đúng đắn, ngƣời ta thƣờng sử dụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức
chuẩn cho việc so sánh, đánh giá tình hình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và
lợi nhuận. [5, trang 114 -115]
Căn cứ vào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm đƣợc chia
thành bốn nhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm sau:
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí.
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu.
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận.
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tƣ.
Sau đây là một số mẫu biểu báo cáo trách nhiệm cụ thể của từng trung tâm
trách nhiệm: 14
BÁO CÁO TRÁCH NHIỆM CỦA TRUNG TÂM CHI PHÍ ĐỊNH MỨC
Tháng, quý, năm...
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm
chi phí định mức
Dự toán Thực tế Chênh lệch
Báo cáo cho giám đốc nhà máy
tiêu thụ
Cơ cấu
mặt
hàng
tiêu
thụ
Báo cáo cho giám đốc kinh doanh
1. Chi nhánh 1
2. Chi nhánh 2
3. Chi nhánh 3
15
Cộng toàn công ty
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu là báo cáo nhằm đánh giá trách
nhiệm và thành quả hoạt động, dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu thực tế so với
doanh thu dự toán ban đầu, đồng thời kèm theo phân tích ảnh hƣởng của các nhân
tố nhƣ giá bán, sản lƣơng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ, đến sự biến động của
doanh thu của trung tâm. Và cũng tƣơng tự nhƣ trung tâm chi phí, mức độ chi tiết
theo các cấp độ quản lý sẽ tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức của công ty.
BÁO CÁO TRÁCH NHIỆM CỦA TRUNG TÂM LỢI NHUẬN
Tháng, quý, năm...
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận Dự toán Thực tế Biến động
1. Doanh số
2. Biến phí
- Sản xuất
- Lƣu thông và quản lý
3. Số dƣ đảm phí (= 1 – 2)
TNDN
10. Vốn đầu tƣ
11. Tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ
(ROI)
12. Thu nhập thặng dƣ
(RI) Để đánh giá trách nhiệm của trung tâm đầu tƣ, nhà quản trị thƣờng sử dụng
báo cáo thông qua các chỉ tiêu cơ bản nhƣ Tỷ suất hoàn vốn đầu tƣ (ROI), lãi thặng
dƣ (RI).
1.4.4 Một số nội dung liên quan đến kế toán trách nhiệm
Song song với quá trình xác định các trung tâm trách nhiệm, chỉ tiêu đánh giá
kết quả và hiệu quả của các trung tâm và lập nên hệ thống báo cáo, kế toán trách
nhiệm còn kết hợp với một số công việc khác để đánh giá các trung tâm. Các công
việc có liên quan là cơ sở phân tích, đánh giá các trung tâm một cách chính xác hơn.
Đó là một số nội dung sau:
17
- Hệ thống dự toán cho các trung tâm trách nhiệm: Khi xây dựng các mục tiêu
chiến lƣợc cho doanh nghiệp, dự toán tổng hợp đƣợc đề ra để hoàn thành mục tiêu
đó. Đồng thời nó đƣợc phân chia nhỏ thành các dự toán trách nhiệm. Việc phân chia
này sẽ giúp cho mỗi ngƣời quản lý biết rõ đƣợc các chỉ tiêu và phần việc của mình
cần hoàn thành. Dựa vào hệ thống dự toán, kế toán trách nhiệm có thể đánh giá
đƣợc khả năng quản lý và hoàn thành các công việc của mỗi bộ phận. Ngoài ra,
thông tin dự toán có thể dự báo trƣớc một số vấn đề có thể phát sinh, từ đó ban quản
trị đƣa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo tính khả thi của dự toán.
19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, cung cấp cho nhà
15/02/2008 Trở thành thành viên chính thức của Sở giao dịch chứng khoán Tp.
Hồ Chí Minh (Hose) và TTGD Chứng khoán Hà Nội (HNX).
05/5/2008 Thành lập Chi nhánh SHS Tp. Hồ Chí Minh: Quyết định số
320/QĐ-UBCK ngày 05/5/2008.
06/05/2009 Công ty tăng vốn điều lệ từ 350.000.000.000 VNĐ lên
410.629.960.000 VNĐ thông qua hình thức phát hành cổ phiếu
thƣởng từ nguồn thặng dƣ vốn cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ chia
thƣởng 1000:174.
25/06/2009 Chính thức giao dịch 41.062.996 cổ phiếu trên Sở giao dịch Chứng
khoán Hà Nội.
12/02/2010 Chốt danh sách chào bán cổ phiếu với tỷ lệ 1:1 cho cổ đông hiện hữu
với giá 10.000 đồng/CP và chào bán cho cổ đông chiến lƣợc nhằm
tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng.
21
2.1.1.2 Quy mô hoạt động kinh doanh
Hiện tại, công ty có trụ sở chính tại số 09 Đào Duy Anh đống Đa Hà Nội có
hơn 150 cán bộ nhân viên. Với các hoạt động kinh doanh chủ yếu nhƣ môi giới
chứng khoán, tƣ vấn tài chính doanh nghiệp, bảo lãnh và đại lý phát hành chứng
khoán, nghiên cứu phân tích và đầu tƣ chứng khoán, lƣu ký và quản lý sổ cổ đông,
đầu tƣ chứng khoán. Công ty có 02 chi nhánh:
(1) Chi nhánh TP. HCM: đƣợc thành lập năm 2008, có 28 cán bộ nhân viên.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu: Môi giới chứng khoán, lƣu ký và quản lý sổ cổ đông,
tƣ vấn tài chính doanh nghiệp.
(2) Chi nhánh Đà Nẵng: đƣợc thành lập vào năm 2009, có 15 cán bộ nhân
viên. Cũng nhƣ CN TP. HCM, chi nhánh Đà Nẵng cũng chỉ hoạt động trong hai lĩnh
vực chủ yếu là Môi giới chứng khoán, lƣu ký và quản lý sổ cổ đông.
2.1.1.3 Những thuận lợi, khó khăn và phƣơng hƣớng phát triển của công ty
- Mục tiêu:
Tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông.
lƣơng thƣởng phù hợp để thu hút nguồn nhân lực có chất lƣợng cao về với
SHS;
23
2.1.1.4 Tổ chức bộ máy hoạt động của công ty
Hình 2.1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn Hà Nội
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
có thẩm quyền cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề đƣợc Luật pháp và
Điều lệ Công ty quy định.
Hội đồng quản trị
24
Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lý Công ty,
có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi
Bộ phận Phân tích
Mảng Back Office. Gồm 4 chuyên viên, thực hiện các nhiệm vụ: Tập hợp,
xây dựng và duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cho hoạt động nghiên
cứu, phân tích, chọn lọc chứng khoán.
Mảng Front Office. Gồm 4 chuyên viên, sử dụng các báo cáo phân tích
mảng Back Office và và kinh nghiệm tìm hiểu thị trƣờng để thực hiện sau: Phân
tích đánh giá thị trƣờng, thuyết trình trƣớc nhà đầu tƣ về nhận định thị trƣờng hàng
ngày, tuần.
c. Phòng Tự doanh
Gồm 5 cán bộ dày dạn kinh nghiệm, am hiểu thị trƣờng tài chính Việt Nam.
Bộ phận tự doanh có chức năng quản lý tổ chức thực hiện các hoạt động đầu tƣ tự
doanh của Công ty.
d. Phòng Tư vấn Tài chính và Bảo lãnh Phát hành
Phòng Tƣ vấn tài chính và Bảo lãnh phát hành có chức năng cung cấp các dịch
vụ tƣ vấn tài chính cho khách hàng là các doanh nghiệp và thực hiện nghiệp vụ bảo
lãnh phát hành.
e. Phòng Kế toán tài chính
Phòng kế toán tài chính thực hiện các công việc sau: Xây dựng và kiểm tra chế
độ báo cáo tài chính kế toán toàn hệ thống; Thực hiện kế toán quản trị, kế toán tổng
hợp; Thực hiện chức năng kế toán, thống kê phản ánh đầy đủ, chính xác, trung thực,
kịp thời, liên tục, có hệ thống các hoạt động tài chính, tiền vốn, tài sản, chứng khoán
của Công ty và nhà đầu tƣ theo đúng chế độ quy định của pháp luật; Lập Báo cáo