1
Luận Văn
“ Quản lý giá của mặt hàng xăng dầu trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế”
2
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, xăng dầu là một hàng hóa của thị trường, hình
thành và phát triển như thị trường các hàng hóa khác. Các quan hệ cung -
cầu và giá cả là yếu tố quyết định thị trường xăng dầu. Là một trong
những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và là năng lượng để phục vụ
dân sinh, quốc phòng và an ninh, xăng dầu có một vai trò đặc biệt do
được coi là một loại năng lượng quan trọng chưa thể thay thế được. Do
tính chất đặc biệt của hàng hóa xăng dầu, các quốc gia đều có chính
sách, qui hoạch, chiến lược về sản xuất tiêu thụ và dự trữ xăng dầu nhằm
ổn định sản xuất và tiêu thụ, chống lại các cơn sốt xăng dầu của thế giới.
Giá dầu tăng cao và diễn biến phức tạp của giá dầu trong những năm
gần đây đã trở thành tâm điểm nghiên cứu và thảo luận chính sách trên
phạm vi toàn cầu và của riêng rất nhiều quốc gia. Đó là hai lý do chính
dẫn đến việc chọn lựa của em viết về đề tài “ Quản lý giá của mặt hàng
xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Có ba vấn đề thường được đặt ra, một là nguyên nhân của biến động
giá dầu và dự báo giá dầu, cả trong so sánh với giá cả các nguyên nhiên
liệu khác. Hai là tác động của việc giá dầu tăng đối với nền kinh tế toàn
2.2. Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam 19
2.2.1. Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới: 19
2.2.2. Tác động của tăng giá xăng dầu ở Việt Nam: 20
CHƯƠNG III : QUẢN LÝ KINH DOANH XĂNG DẦU VÀ GIẢI PHÁP 28
1. Tính cấp thiết của quản lý Nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu 28
2. Các cơ chế quản lý xăng dầu trên thế giới 29
2.1. Cơ chế thả nổi giá xăng dầu: 29
2.2. Cơ chế quản lý của Nhà nước có phụ thu hoặc bù giá: 30
4
2.3. Cơ chế dự trữ dầu mỏ và các sản phẩm dầu: 33
2.4. Cơ chế quản lý hỗn hợp: 33
3. Giải pháp, định hướng về quản lý kinh doanh xăng dầu trước yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế. 33
3.1. Dự báo điều kiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới: 34
3.1.1. Dự báo xu hướng xăng dầu thế giới: 34
3.1.2. Dự báo nhu cầu xăng dầu trong nước trong 2008-2010: 34
3.1.3. Những khó khăn, thách thức và cơ hội: 34
3.2. Quan điểm quản lý điều hành thị trường xăng dầu trong nước: 35
3.3. Những giải pháp định hướng: 36
3.3.1. Cơ chế định giá và điều hành giá 36
3.3.2. Cơ chế điều hành giá thuế 37
3.3.3. Các giải pháp đồng bộ khác 38
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
+ Vì sự trung thành của người ủng hộ của giới bán lại hoặc để
tránh sự can thiệp của chính phủ.
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc định giá
- Thị trường và nhu cầu: tỉ lệ cung cầu thị trường
6
- Cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh có hay không, mạnh hay yếu…
- Các yếu tố khác: Tình hình kinh tế như lạm phát, tăng trưởng, suy
thoái, lãi xuất…
1.2 . Hoạt động quản lý giá
Hoạt động quản lý giá là hoạt động quản lý để nhằm ngăn chặn các
biến động của giá cả và các tác động liên quan đến sự biến động giá cả
của mặt hàng đó.
Hay xét về một khía cạnh thì là độc quyền tuyệt đối, thị trường chỉ có
một người bán. Đó có thể là một tổ chức Nhà nước, một tổ chức độc
quyền tư nhân có điều tiết hoặc tổ chức độc quyền tư nhân không có sự
điều tiết. Trong từng trường hợp sự hình thành giá cả diễn ra khác nhau.
Tổ chức độc quyền Nhà nước có thể sử dụng chính sách giá cả để đạt
được những mục tiêu khác nhau.
Nhà nước có thể định giá thấp hơn giá thành nếu hàng hóa có ý nghĩa
quan trọng đối với người mua không đủ khả năng mua nó với giá đầy đủ.
Giá cả có thể được xác định với ý đồ bù đắp chi phí hay có được thu
nhập khác, cũng có thể giá cả được xác định rất cao để giảm tối đa mức
tiêu dùng. Trong trường hợp tổ chức độc quyền có điều tiết Nhà nước
cho phép công ty xây dựng định giá đảm bảo “mức lợi nhuận công
bằng”, để doanh nghiệp có khả năng duy trì sản xuất và trong trường hợp
cần thiết thì mở rộng sản xuất.
Ngược lại, trường hợp tổ chức độc quyền không điều tiết doanh
nghiệp tự ý xác định giá miễn là giữ được thị trường. Tuy nhiên do một
Ngoài việc có thể bảo vệ nền kinh tế quốc dân, sự quản lý của Nhà
nước trong một số mặt hàng, lĩnh vực quan trọng cũng chính là sự bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng, xét về góc độ vĩ mô, còn hơn cả sự thiệt
thòi mà độc quyền hay quản lý của Nhà nước mang lại.
9
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ GIÁ CỦA
MẶT HÀNG XĂNG DẦU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Tình hình biến động giá xăng dầu trên thế giới
1.1.Diễn biến giá xăng dầu và nguyên nhân:
Nhìn lại thị trường dầu mỏ trong 4 thập niên qua, chúng ta dễ dàng
nhận thấy giá dầu có những diễn biến phức tạp. Trong suốt 10 năm từ
1960 đến 1970, giá dầu thô trên thị trường thế giới được duy trì ở mức
thấp, không thay đổi với giá 1,8 USD/ thùng. Khi cuộc khủng hoảng dầu
mỏ lần thứ nhất xảy ra vào đầu thập niên 70, giá dầu mỏ đã tăng từ 3,2
USD/thùng lên 11,56 USD/thùng tăng 3,61 lần. Tháng 2 năm 1982, khi
cuộc xung đột giữa Iran và Irac xảy ra, Iran đột ngột ngừng xuất khẩu 2
triệu thùng dầu mỗi ngày gây ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ 2 đẩy
giá dầu tăng lên 34 -35 USD/thùng, có thời điểm lên tới 40USD/thùng.
BQ
(1995
-
1999)
BQ
(2000-
2004)
BQ
năm
2005
BQ 4
tháng
năm
2006
BQ
(2000-
2004)/
BQ
(1995-
1999)
%
BQ
2005/
bq
(2000-
2004)
%
BQ 4
tháng
2006/
95,77 158,98 264,1 324,97 166,00 166,12 123,05
5
WTI USD/thùng
18,98 31,06 56,55 63,51 163,65 182,07 112,31
6
brent USD/thùng
17,73 29,11 55,03 62,74 164,18 189,04 114,01
Giá dầu đã tăng mạnh trong năm 2005, lên đến mức kỉ lục gần 70
USD/thùng vào tháng 8, trước khi giảm xuống còn hơn 60 USD/thùng
11
vào cuối năm. Quá trình này diễn ra tiếp theo đợt tăng giá dầu vào năm
2003, sau một thời gian dài giá dầu bình ổn mức hơn 20 USD/thùng.
Tính trung bình giá dầu danh nghĩa trong năm 2005 cao hơn gấp đôi so
với năm 2004 và gần gấp 3 so với năm 2002. Giá dầu thực cũng cao hơn
so với các năm 1974 và 1985, và xấp xỉ so với mức của năm 1980, năm
đỉnh điểm của khủng hoảng giá dầu. Theo nhiều đánh giá, giá dầu còn
tiếp tục có những biến động đáng kể và đứng ở mức cao do tác động của
các nhân tố ở cả phía cung và cầu.
Cung dầu mỏ năm 2005 sụt giảm do tác động của cơn bão Katrina và
Rita.Theo UNESCAP (2005), công suất khai thác dầu tới hạn lại thấp,
làm giảm khả năng phản ứng của tổng cung dầu mỏ khi giá dầu và cầu
dầu mỏ tăng mạnh. Trên thực tế, lượng dầu mỏ cung ứng ra thị trường đã
tăng đáng kể vào năm 2004, nhưng chững lại vào năm 2005. Cung dầu
mỏ cũng thiếu ổn định do bất ổn chính trị ở các nước xuất khẩu dầu.
Trong khi đó nhu cầu dầu mỏ liên tục tăng do kinh tế thế giới tiếp tục đà
tăng trưởng và có lẽ có nhiều ảnh hưởng đến giá dầu hơn (so với cung)
bởi sự lũng đoạn và thao túng của một số nước lớn vẫn nuôi ý đồ khống
chế nguồn cung, đầu cơ để trục lợi.
1.2. Phản ứng của các nước đối với vấn đề tăng giá dầu thô:
13
Như một nguyên tắc chung, chính phủ nên đảm bảo rằng những phần
thu từ khai thác dầu thô là nguồn tài nguyên chung ít nhất giữ được giá
trị như khi nó nằm trong lòng đất. Điều này đòi hỏi các khoản thu từ dầu
thô nên được đầu tư theo hướng đảm bảo lợi xuất tối thiểu nhất định với
sự cân nhắc thích đáng về khả năng hấp thu của quốc gia nếu đầu tư
trong nước. Do đó tăng giá dầu hiện tại tương đối với giá kỳ vọng trong
tương lai dẫn tới việc khai thác nhanh hơn và có sự cân nhắc về tính hiệu
quả. Tất nhiên, trên thực tế, tốc độ khai thác còn tùy thuộc vào những
hiệp định toàn cầu và những hiệp định khu vực khác nhau cũng như năng
lực sản xuất.
Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, phản ứng của các nước nhập khẩu dầu trước
việc tăng giá dầu thô sẽ tùy thuộc vào việc giá tăng là tạm thời hay lâu
dài. Nếu giá tăng tạm thời, phản hồi chính sách ít gây ảnh hưởng đột
ngột nên được áp dụng để giá trên thị trường biến động nhẹ. Tuy nhiên,
nếu giá biến động lâu dài, phản hồi chính sách nên cho phép sự chuyển
tải hoàn toàn (của sự tăng giá dần) nhằm đưa tín hiệu sớm để thị trường
trong nước điều chỉnh theo sự thay đổi về giá tương đối giữa dầu và các
sản phẩm phi dầu.
Hai phản hồi chính sách khác cũng cần được áp dụng. Đầu tiên, chính
phủ nên cố gắng giảm chi phí điều chỉnh băng cách trợn giá cho các
nhóm đối tượng mục tiêu dễ bị tổn thương thay vì cho tất cả các đối
tượng. Thứ hai, để giảm thiểu việc những thay đổi tương đối về giá biến
chuyển thành vòng xoáy chi phí đẩy, các chính sách kinh tế vĩ mô cần
phải được thắt chặt.
tiếp diễn mà không biết chắc là khi nào sẽ ngừng thì thặng dư cán cân
vãng lai của các nước sản xuất dầu vẫn tiếp tục tăng.
2. Tình hình quản lý giá của mặt hàng xăng dầu trong điều kiện hội
nhập
2.1. Cơ chế quản lý điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu qua
các thời kỳ:
Nhất quán với các nguyên tắc trên, thị trường xăng dầu trong nước
được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của
mỗi thời kỳ, cơ chế quản lý của Nhà nước được điều chỉnh cho phù hợp
với tình hình cụ thể.
2.1.1. Giai đoạn trước năm 2000:
- Cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cơ chế quản lý đối với
mặt hàng xăng dầu cũng từng bước chuyển đổi từ cơ chế phân phối theo
chỉ tiêu định mức sang cơ chế tự bảo đảm kinh doanh, được chiết khấu
bán hàng theo tỷ lệ phần trăm xác định trên doanh thu.
- Từ năm 1993, Nhà nước áp dụng cơ chế “ giá trần” (giá bán lẻ),
doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự quyết định giá nhập khẩu và
hưởng lãi gộp. Tùy theo những biến động của thị trường dầu thế giới,
Nhà nước điều chỉnh giá trần, hoặc điều chỉnh tăng – giảm thuế nhập
khẩu, hoặc bù lỗ cho doanh nghiệp kinh doang xăng dầu để thực hiện
mục tiêu điều tiết lợi ích giữa Nhà nước – người tiêu dùng doanh nghiệp
theo phương thức sau:
+ Ban vật giá chính phủ (nay là cục quản lý giá của cục bộ tài chính)
chủ trì cùng các bộ ngành có liên quan, xác định mặt bằng giá tối đa trên
cơ sở tương quan với giá các vật tư, nguyên liệu khác trên thị trường,
16
đảm bảo giá xăng dầu không tác động đột biến đến sản xuất và được
- Tư tưởng chủ đạo và nội dung của cơ chế quản lý theo các quyết
định trên được xem như một sự điều chỉnh cần thiết và tích cực trong
giai đoạn vừa qua. Cụ thể là:
+ Với cơ chế “ giá định hướng” (được xây dựng trên cơ sở giá nhập
khẩu dự báo cho một thời kỳ nhất định) và doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu được điều chỉnh giá bán trong phạm vi 10% đối với xăng và
5% đối với dầu nhằm tạo ra mặt bằng giá “ tiếp cận” với giá thế giới,
giảm dần sự bảo hộ của Nhà nước đối với người tiêu dùng. Doanh
nghiệp kinh doanh xăng dầu đủ bù đắp chi phí và có lãi hợp lý.
+ Trong điều kiện thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động bất
lợi cả về giá và nguồn, song các doanh nghiệp vẫn bảo đảm ổn định
được thị trường do được Nhà nước bảo đảm bằng cơ chế cấp bù.
+ Hệ thống phân phối xăng dầu được phát triển nhanh, mạnh và từng
bước được xác lập tương đối ổn định và có sự chuyển biến cả về nội
dung và phương thức kinh doanh. Người tiêu dùng và xã hội bắt đầu có
những nhận thức mới trước sự điều chỉnh giá của chính phủ.
2.1.3. Thực trạng và những tồn tại:
Bên cạnh những kết quả tích cực của cơ chế quản lý Nhà nước trong
giai đoạn vừa qua trong điều hành thực tiễn và trước những biến động
của thị trường trong và ngoài nước, cơ chế hiện hành còn chứa đựng
những bất cập cần được xem xét và giải quyết bằng các phương pháp vĩ
mô trong giai đoạn tới, trong đó có thể xét đến:
18
Thứ nhất, với chính sách bảo hộ được duy trì quá dài, giá thường
được giữ ổn định trong một chu kỳ dài hoặc chỉ điều chỉnh theo một
chiều thông qua việc điều chỉnh thuế hoặc bù giá đã khiến người tiêu
dùng có tâm lý trông chờ, ỷ lại và thường có phản ứng khi Nhà nước
điều chỉnh giá tăng. Điều quan trọng hơn, một khi giá xăng dầu được bảo
hộ sẽ tạo giá thành có tính cạnh tranh ảo, lợi nhuận ảo, khiến các nhà sản
2.2. Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Tác động của tăng giá xăng dầu trên thế giới:
a. Tác động tiêu cực
- Có tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế và các cân đối vĩ mô
của nhiều nước;
- Làm nguồn thu ngân sách giảm;
- Ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh
doanh xăng dầu;
b. Tác động tích cực
- Việc tiêu dùng xăng dầu sẽ trở nên hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn;
- Thúc đẩy ngành công nghiệp khai thác, lọc hóa dầu phát triển nhằm
bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận các ngành sản xuất trong xã hội;
- Thúc đẩy công tác nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm thay thế xăng dầu;
Điều đáng lý giải là việc giá dầu tăng mạnh trong hai năm lại đây đã
không gây ra tình trạng suy thoái nền kinh tế thế giới như trong những
năm 1970 và đầu 1980. Thực tế cho thấy ảnh hưởng vượt trội của các
20
dầu mỏ lên giá dầu trong thời gian gần đây có tác động tiêu cực ở mức
độ thấp hơn và ngắn hơn so với trường hợp có sự sụt giảm cung dầu mỏ
(UNESCAP 2005). Trong khi đó, tỷ trọng của dầu trong sản xuất và tiêu
dùng, đặc biệt là ở các nước phát triển, dã giảm tương đối. Hơn nữa, các
nước tiêu thụ dầu lớn như Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tập trung
đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng.
Mặc dù vậy, giá dầu tăng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất
định tới sự ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và việc giảm nghèo ở các
nước trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế năm 2005 của nhiều nước có lẽ cao hơn nếu giá dầu không ở mức quá
cao. Theo đánh giá của UNESCAP (2005), nếu giá dầu ổn định ở mức
cao hơn hiện tại 10 USD\thùng, tăng trưởng kinh tế của nhiều nước, đặc
2% tổng nhu cầu trong nước. Do đó, nhu cầu xăng dầu trong nước chủ
yếu được đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu.
Từ đầu năm 2004 đến nay giá xăng dầu trên thị trường thế giới tăng
cao gây áp lực lớn đối với kinh doanh xăng dầu và đối với thu chi của
nền kinh tế nên Nhà nước phải điều chỉnh giá bán xăng dầu nhiều lần và
thực hiện phương châm chia sẻ khó khăn giữa Nhà nước, doanh nghiệp
và người tiêu dùng. Nhà nước giảm thuế nhập khẩu xăng dầu xuống 0%
và thực hiện bù lỗ đối với kinh doanh dầu để bao cấp qua giá dầu cho
nền kinh tế.
Các lo
ạ
i th
u
ế
Tài s
ả
n
chính ph
ủnhà nước
Thu t
ừ
d
ầ
u
(tùy loại); tháng7 khi giá xăng dầu thế giới tăng từ 11-55% so với giá
bình quân năm 2003 thì Nhà nước chỉ điều chỉnh giá các loại dầu tăng 4-
5% xăng tăng 17% đồng thời thực hiện cơ chế giá đảm bảo kinh doanh
đối với xăng, Nhà nước không bù lỗ từ 01/7/2004; tháng 11 tiếp tục điều
chỉnh tăng giá xăng lên khoảng 7%
Năm 2005, nước ta đã 4 lần điều chỉnh giá (trong đó có 3 lần điều
chỉnh tăng giá xăng dầu và một lần điều chỉnh giảm giá xăng); cụ thể:
đầu tháng 3, giá xăng dầu thế giới tăng mạnh, cao hơn mức bình quân
năm 2004 từ 20-40%, do đó ngày 29/3/2005, tiếp tục thực hiện cơ chế
giá bảo đảm kinh doanh, không bù lỗ đối với xăng nên Nhà nước đã tăng
giá xăng lên 6,6%, các loại dầu 2-12% và thực hiện bù lỗ cho các loại
dầu. Ngày 03/7 tăng giá xăng khoảng 10%, diezel 18%, dầu hỏa 32%,
madut 17,5%. Ngày 17/8 tăng giá xăng dầu lên khoảng 10,6-15,4% tùy
loại xăng dầu.
Cùng với việc tăng giá xăng dầu ở các thời điểm trên, Nhà nước vẫn
thực hiện giảm thuế nhập khẩu xăng dầu xuống 0% và bù lỗ đối với các
loại dầu. Ngày 22/11, giá dầu thô trên thế giới giảm, Nhà nước đã giảm
giá xăng 500 đồng/lít, tăng thuế nhập khẩu xăng từ 0% lên 5% và đầu
tháng 12 điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu lên 10%. Đối với các loại dầu,
Nhà nước vẫn giữ thuế suất nhập khẩu 0% và bù lỗ cho các đầu mối
nhập khẩu xăng dầu. Tháng 4/2006, giá dầu thô trên thế giới tăng mạnh,
Nhà nước lại buộc phải điều chỉnh giá xăng dầu trong nước tăng lên và
vẫn áp dụng nguyên tắc không bù lỗ đối với xăng, tiếp tục bù lỗ đối với
các loại dầu, giữ thuế nhập khẩu xăng dầu bằng 0%.
Bảng 3: Diễn biến giá xăng dầu năm 2005-2006, đồng/lít
23
2005 2006
Chủng
(công ty thương mại kỹ thuật và đầu tư), Petechim và Saigon Petro là có
mạng lưới bán lẻ sản phẩm trên thị trường.
Hơn nữa, hệ thống công ty con của Petrolimex và Saigon Petro,
những doanh nghiệp Nhà nước hầu như chi phối thị trường xăng dầu
trong nước. Trong khi các đầu mối nhập khẩu và phân phối sản phẩm
xăng dầu khác được quyền lựa chọn địa điểm, Petrolimex lại phải đảm
bảo một mạng lưới bán lẻ rộng khắp cả nước (đều với mức giá theo quy
định của Nhà nước). Đây chính là một kênh quan trọng nhằm đảm bảo
24
chính sách quản lý xăng dầu của chính phủ được thực thi một cách có
hiệu lực. Tuy nhiên, trong trường hợp các cơ quan hữu trách chậm phản
ứng trước diễn biến giá dầu, hậu quả kinh tế đối với những doanh nghiệp
này, cũng như gánh nặng trợ giá cho Ngân sách có thể rất tốn kém.
Bản thân nhiều đại lý bán lẻ xăng dầu lại có năng lực yếu, chưa đủ
điều kiện kinh doanh. Thực tế, không ít các doanh nghiệp đã tiếp tay cho
buôn lậu xăng dầu, hay gian lận thương mại. Chẳng hạn pha thêm vào
sản phẩm xăng dầu trở thành một cách kiếm lời, vì chỉ cần pha dầu vào
xăng A92 rồi bán theo giá xăng A92 thì có thể kiếm lời lớn (Lao động
2006). Thực trạng hoạt động của các đại lý kinh doanh xăng dầu lại rất
khó kiểm soát và điều chỉnh do số đại lý quá lớn.
Trong khi đó, sự hiện diện của các công ty nước ngoài trong thị
trường phân phối và bán lẻ xăng dầu trong nước còn rất hạn chế. Ngoại
trừ việc tham gia thị trường nhựa đường, dầu nhờn, khí hóa lỏng, các
công ty này còn chưa được phép tham gia thị trường bán lẻ các sản phẩm
xăng dầu khác. Điều này phần nào đã hạn chế cạnh tranh trên thị trường
xăng dầu Việt Nam, mặc dù quan điểm của Chính phủ vẫn là kiểm soát
thị trường này nhằm bình ổn giá cả và hạn chế tác động tiêu cực có thể
có đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kéo theo đó là sự tăng giá cả tiêu dùng của người dân và Nhà nước
+ Nhóm hàng nhà ở, vật liệu
xây dựng
+ Phương tiện đi lại, bưu
điện 33,9%
5,4%
7,4%
5,9% 33,0%
54,0%
9,8%
9,1% 41,8%
66,0%
9,02%
8,43%