* * * * *
Luận văn
Thực trạng và một số biện pháp huy
động vốn đổi mới máy móc thiết bị
công nghệ nhằm nâng cao chất
lượng sản xuất sản phẩm, giải pháp
tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm may tại công ty May Chiến
Thắng
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, Công nghiệp
hoá- Hiện đại hoá đất nước đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng khích lệ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì nền kinh tế nói chung,
các doanh nghiệp nói riêng đã và đang gặp phải những trở lực trong quá trình
phát triển trong đó hiện tượng thiếu vốn cho đầu tư phát triển là một trong
những vấn đề nổi cộm. Một cán bộ cao cấp của Đảng ta đã từng phát biểu về
tình trạng thiếu vốn tại các doanh nghiệp như sau:“ Vốn là nguồn lực đầu tiên
và cơ bản của sự phát triển và hiện đại hoá đất nước, cái mà các doanh nghiệp
cần hiện nay là vốn, v.v. và vốn, nếu không có vốn tất cả dự định của chúng
ta chỉ là mơ ước mà thôi “ .
tình của thầy giáo: GS-TS Phan Kim Chiến và các thầy cô giáo trong Bộ môn
Quản lý kinh tế cùng sự giúp đỡ quí báu của các cán bộ, công nhân viên Công
ty May Chiến Thắng đã giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn này. Hà nội, ngày 10 tháng 2 năm 2002
3 CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỔI MỚI MÁY
MÓC THIẾT BỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY
1.1 TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ VỐN CỐ ĐỊNH
1.1.1 Tài sản cố định
Nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước ở Việt Nam đã trải
qua hơn 10 năm hình thành, củng cố, từng bước hoàn thiện. Song song với
quá trình đó là sự xuất hiện và tác động ngày càng sâu sắc của hệ thống các
khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý TSCĐ doanh nghiệp cần tiến
hành phân loại TSCĐ một cách khoa học. Thông thường có các phương pháp
phân loại TSCĐ như sau:
Phương pháp thứ nhất: Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện. Theo
phương pháp này TSCĐ của doanh nghiệp được phân làm những loại sau:
+ TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất
+ TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất
Phương pháp thứ hai: Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng. Theo
phương pháp này TSCĐ của doanh nghiệp được phân làm những loại sau:
+ TSCĐ dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh: là những TSCĐ dùng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh, quốc phòng: là
những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi,
sự nghiệp an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
5
+ TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ: là các TSCĐ doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ
hộ Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác có quan hệ với doanh nghiệp.
Phương pháp thứ ba: Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế. Theo
phương pháp này TSCĐ của doanh nghiệp được phân làm những loại sau:
+ Nhà cửa, vật kiến trúc: là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình
thành sau quá trình thi công xây dựng như: nhà xưởng, trụ sở làm việc, nhà
kho,
+ Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải
như phương tiện đường sắt, đường bộ, đường ống,
+ Thiết bị dụng cụ quản lý: là những thiết bị dụng cụ dùng trong công tác
quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất và sau nhiều chu kỳ sản xuất VCĐ
mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Trong các doanh nghiệp VCĐ chiếm
vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó là là một bộ phận của vốn đầu tư nói riêng
và vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Việc xác định quy mô VCĐ, mức
trang bị TSCĐ hợp lý là cần thiết song điều quan trọng nhất là phải có biện
pháp quản lý sử dụng tốt VCĐ tránh thất thoát vốn đảm bảo năng lực sản xuất
và hiệu quả hoạt động của TSCĐ.
Trong công tác quản lý VCĐ, một yêu cầu được đặt ra đối với các doanh
nghiệp là phải bảo toàn VCĐ. Bảo toàn vốn có thể hiểu là việc giữ nguyên
vẹn sức mua của đồng vốn ban đầu và không ngừng làm cho nó phát triển lên
để sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn vốn, với số vốn thu hồi được doanh
nghiệp ít nhất cũng có thể mua được một khối lượng TSCĐ có quy mô và tính
năng kỹ thuật như cũ với thời giá hiện tại. Trong quy chế quản lý tài chính và
7
hạch toán kinh doanh đối với DNNN ban hành kèm theo Nghị định 59/CP
ngày 03/10/1996 và sau này là Nghị định 27/1999/NĐ-CP ngày 20/04/1999
có quy định rõ: “ Doanh nghiệp có nghĩa vụ nhận, quản lý và sử dụng có
hiệu quả vốn và các nguồn lực được Nhà nước giao, không ngừng nâng cao
hiệu quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn, ”
Tại các doanh nghiệp việc bảo toàn VCĐ phải xem xét trên cả hai mặt :
hiện vật và giá trị. Bảo toàn VCĐ về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ
nguyên hình thái vật chất và đặc tinh sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan
trọng hơn là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó. Bảo toàn
VCĐ về mặt giá trị là phải duy trì sức mua của VCĐ ở thời điểm hiện tại so
với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể sự biến động của giá cả, sự thay
đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Việc bảo
toàn vốn cụ thể như thế nào còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của bản thân
TSCĐ tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, có thể áp dụng các phương pháp bảo toàn
+ Hao mòn vô hình loại 3: TSCĐ bị mất giá hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ
sống của sản phẩm tất yếu dẫn đến những TSCĐ sử dụng để sản xuất những
sản phẩm này cũng bị lạc hậu, mất tác dụng.
Tóm lại, trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình. Bộ phận giá trị hao mòn đó được chuyển dịch dần vào giá thành sản
phẩm gọi là khấu hao TSCĐ. Bộ phận giá trị này được cấu thành trong giá
thành sản phẩm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao.
Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, số tiền khấu hao sẽ được tích luỹ
lại hình thành quỹ khấu hao TSCĐ. Việc trích lập quỹ khấu hao có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp bởi nó là một trong những nguồn
vốn cơ bản để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng TSCĐ.
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI MÁY MÓC THIẾT BỊ CÔNG
NGHỆ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH ĐẦU
9
TƯ ĐỔI MỚI MÁY MÓC THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ TẠI DOANH
NGHIỆP.
1.2.1 Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là đòi hỏi khách quan tại các
doanh nghiệp
Nền kinh tế thị trường đã tạo cho các doanh nghiệp nhiều điều kiện thuận
lợi để phát triển. Tuy nhiên, gắn chặt với nó là một hệ thống các quy luật kinh
tế trong đó quy luật cạnh tranh giữ một vị trí chủ chốt. Mỗi doanh nghiệp khi
hoạt động đều phải chấp nhận cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nếu
doanh nghiệp nào chiến thắng được trong cạnh tranh thì sẽ tiếp tục phát triển,
còn nếu không thua lỗ phá sản là khó tránh khỏi. Do đó, các doanh nghiệp
luôn tìm kiếm các giải pháp nhằm chiếm lợi thế trong cạnh tranh. Trong số rất
nhiều giải pháp thường được áp dụng thì đầu tư đổi mới máy móc thiết bị ,
hiện đại hoá công nghệ sản xuất là giải pháp quan trọng. Bởi nếu doanh
nghiệp thường xuyên đổi mới máy móc thiết bị công nghệ sản xuất, thường
dụng được nữa. Theo tính toán chung, số hàng hoá trong nước hiện bị ứ đọng
thì 40% là do giá thành cao và chất lượng kém, 20% đã lạc hậu lỗi mốt, 30%
do không cạnh tranh nổi với hàng ngoại. Công nghệ cũ còn gây ra tình trạng ô
nhiễm môi trường trầm trọng tại nhiều khu vực khác nhau.
Tóm lại, việc đổi mới máy móc thiết bị là đòi hỏi khách quan đối với các
doanh nghiệp nếu muốn chiến thắng trong cạnh tranh, củng cố và mở rộng
chỗ đứng của mình trên thị trường cả trong hiện tại và tương lai.
1.2.2 Các yêu cầu cơ bản đối với máy móc thiết bị công nghệ khi tiến
hành quá trình đầu tư đổi mới tại các doanh nghiệp hiện nay.
Đổi mới máy móc thiết bị là cần thiết đối với các doanh nghiệp song việc
đổi mới hoàn toàn không đơn giản, nó phải đảm bảo được một loạt các yêu
cầu sau:
11
Đổi mới phải bắt kịp tiến bộ khoa học công nghệ: Mục đích của việc đổi
mới thiết bị công nghệ trong doanh nghiệp là thay thế, khắc phục những tồn
tại, hạn chế của công nghệ cũ bằng những công nghệ mới tiên tiến hơn, ưu
việt hơn, có khả năng tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị
trường. Chính vì thế, khi thực hiện hoạt động đầu tư đổi mới doanh nghiệp
cần tiến hành điều tra, nghiên cứu kỹ tính năng kỹ thuật cũng như mức độ tối
tân của công nghệ sắp đầu tư. Việc điều tra, nghiên cứu này sẽ giúp doanh
nghiệp tránh việc đầu tư vào những công nghệ lạc hậu, làm giảm sút hiệu quả
của hoạt động đầu tư.
Đổi mới phải đồng bộ , có trọng điểm: Tính đồng bộ trong đổi mới là rất
quan trọng bởi một sản phẩm tạo ra nếu muốn được thị trường chấp nhận thì
cần phải đáp ứng được nhiều mặt như chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, nếu
đổi mới một cách“ khập khiễng ” chẳng hạn như sản phẩm vẫn giữ nguyên
kiểu dáng, mẫu mã, chỉ thay đổi chất lượng, chất liệu cấu thành sản phẩm thì
rất khó cho người tiêu dùng nhận ra được những ưu điểm mới của sản phẩm
hiện dự án đầu tư.
Hai là: Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ luôn
luôn thay đổi, nó có thể là thời cơ cũng có thể là nguy cơ đe doạ đối với tất cả
các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trước khi thực hiện dự án đầu tư cần
phải tính đến những tiến bộ trong tương lai của khoa học công nghệ đối với
những thiết bị mình sẽ đầu tư, từ đó có thể xác định chính xác trọng tâm cũng
như cách thức đầu tư đổi mới trang thiết bị. Nếu thiết bị máy móc luôn tiên
tiến, ít nhất ngang bằng với công nghệ của các doanh nghiệp cùng ngành
trong nước cũng như khu vực thì doanh nghiệp mới có khả năng sản xuất ra
những sản phẩm có lợi thế trên thị trường, có khả năng cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại.
13
Ba là: Thị trường và sự cạnh tranh: Một dự án đầu tư chỉ có thể được chấp
nhận khi nó có khả năng tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, có
khả năng sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng
phong phú và khắt khe của thị trường. Vì vậy , khi đưa ra một quyết định đầu
tư không thể thiếu được sự phân tích kỹ tình hình hiện tại của bản thân doanh
nghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng như dự đoán diễn
biến tình hình thị trường trong tương lai.
Bốn là: Khả năng tài chính của doanh nghiệp: doanh nghiệp không thể tiến
hành các dự án đầu tư nằm ngoài khả năng tài chính của mình. Hoạt động đầu
tư đổi mới máy móc thiết bị luôn mang tính hai mặt. Một mặt, nó đem lại diện
mạo mới, tạo ra lợi thế trong cạnh tranh và uy tín cho doanh nghiệp. Mặt
khác, đó là hoạt động đầu tư cho tương lai, luôn chứa đựng những rủi ro và
mạo hiểm. Một cơ cấu tài chính vững chắc sẽ là điều kiện tiên quyết đến sự
tồn tại của doanh nghiệp. Chính vì vậy công tác đầu tư đổi mới máy móc thiết
bị phải quan tâm tới tình hình tài chính tại thời điểm đầu tư, trong quá trình
đầu tư, hiệu quả của hoạt động đầu tư. Có như vậy doanh nghiệp mới tránh
doanh nghiệp cần nghên cứu kỹ các vấn đề đã được đề cập ở phần trên. Đó
chính là các cơ sở quan trọng để đưa ra những quyết định đầu tư đúng hướng,
đảm bảo sự thành công của hoạt động đầu tư.
1.3 PHƯƠNG HƯỚNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỔI MỚI MÁY MÓC
THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam trong những năm 1997,1998,1999 và
những tháng đầu năm 2000 là một hồi chuông cảnh tỉnh với các nhà quản lý
về nguy cơ trì trệ của nền kinh tế. Sự phát triển mạnh và ổn định của nền kinh
tế luôn gắn liền với sự phát triển ổn định và có hiệu quả của các doanh
nghiệp. Đặc biệt là khi sự phát triển của các doanh nghiệp có ảnh hưởng rất
lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá-
15
Hiện đại hoá. Xuất phát từ thực trạng về vốn trong các doanh nghiệp hiện nay
thì vấn đề giải quyết các khó khăn về vốn là một vấn đề cấp bách cần được
giải quyết không thể trì hoãn.
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn tới tình trạng thiếu vốn tại các doanh nghiệp
nói chung, DNNN nói riêng ?
+ Nguồn vốn NSNN cấp cho các DNNN còn hạn hẹp. Việt Nam đang trong
quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường. Mặc dù trong những
năm gần đây thu NSNN không ngừng tăng nhưng cùng với nó rất nhiều khoản
chi NSNN cũng phát sinh và đòi hỏi một lượng vốn lớn từ NSNN. Hiện tượng
bội chi NSNN diễn ra thường xuyên trong các năm tài khoá. Chính vì vậy,
nguồn vốn NSNN cấp cho các doanh nghiệp rất hạn hẹp, phân tán, không đáp
ứng đủ nhu cầu vốn để đổi mới tài sản tại các DNNN. Khu vực kinh tế tư
nhân thì lại càng khó khăn hơn, các doanh nghiệp này quy mô vốn chủ sở hữu
thường nhỏ, khả năng vay vốn từ ngân hàng cũng khó khăn do phải chịu
nhiều sức ép như vay vốn phải có tài sản thế chấp, lãi suất vay vốn thường ít
được ưu đãi hơn lãi suất vay vốn ở các DNNN,
thuỷ của việc trích lập quỹ khấu hao là nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng TSCĐ. Trước năm 1994, số tiền khấu hao được giữ lại tại các
DNNN rất nhỏ bé, doanh nghiệp không có quyền sử dụng số tiền khấu hao
TSCĐ có nguồn gốc từ NSNN. Tuy nhiên, từ năm 1994 trở lại đây Nhà nước
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị cho các
DNNN bằng cách giao toàn bộ số tiền khấu hao cho doanh nghiệp. Đây là
một thay đổi hoàn toàn phù hợp đặc biệt trong điều kiện hiện nay việc đổi mới
máy móc thiết bị có thể coi là một trong những giải pháp quan trọng để các
doanh nghiệp đảm bảo sự phát triển của mình trên thị trường.
Ngoài quỹ khấu hao cơ bản, lợi nhuận để lại từ hoạt động sản xuất kinh
doanh tại quỹ đầu tư phát triển cũng là một nguồn vốn quan trọng để tái đầu
17
tư đổi mới TSCĐ. Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa chi phí bỏ ra và thu
nhập trong một thời kỳ nhất định. Số lợi nhuận để lại tại doanh nghiệp là phần
còn lại của lợi nhuận trước thuế thu nhập sau khi đã trừ đi một số khoản khác
như : thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thu sử dụng vốn, Theo tinh thần của
Nghị định 27/1999/NĐ-CP ngày 20/04/1999 thì phần lợi nhuận để lại này
được doanh nghiệp sử dụng để bù đắp, bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và
trích lập các quỹ như: quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc
làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, với tỷ lệ trích lập được quy định rất chi
tiết. Trong số các quỹ trên thì doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ đầu tư phát
triển phục vụ cho hoạt động đầu tư đổi mới hiện đại hoá TSCĐ.
Hoạt động tài chính tại các doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, trên
thực tế ngoài một số nguồn vốn kể trên doanh nghiệp còn có thể khai thác một
số nguồn vốn nữa nhưng chỉ mang tính chất tạm thời như : nguồn vốn do
thanh lý nhượng bán TSCĐ, do chênh lệch đánh giá lại tài sản, do kiểm kê tài
sản phát hiện thừa,
Trong công tác huy động vốn doanh nghiệp đặc biệt coi trọng nguồn vốn
phát triển. Việc sử dụng trái phiếu để tài trợ dài hạn cho nhu cầu đầu tư sẽ tạo
ra sự linh hoạt hơn cho doanh nghiệp trong quá trình sử dụng vốn bởi doanh
nghiệp có thể tiến hành hoạt động đầu tư mà không phải tuân thủ một loạt các
quy chế tín dụng như sử dụng vốn vay ngân hàng, nó có huy động đủ vốn cho
doanh nghiệp để thực hiện quá trình đầu tư trong một khoảng thời gian ngắn,
quyền kiểm soát và lãnh đạo doanh nghiệp không bị xáo trộn, Do đó, phát
hành trái phiếu để tài trợ vốn dài hạn cho hoạt động đầu tư là một hướng đi
quan trọng
Phát hành cổ phiếu: Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể tăng vốn
chủ sở hữu bằng việc phát hành cổ phiếu. Mặc dù phát hành cổ phiếu còn là
một hình thức huy động vốn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam
19
nhưng đây là một hướng đi rất có triển vọng bởi trong thời gian gần đây
Chính phủ đang khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá để huy
động vốn và nhiều doanh nghiệp đã thực hiện theo hướng này, sở giao dịch
chứng khoán tại Việt Nam đã được thành lập và trong một tương lai gần sẽ
chính thức đi vào hoạt động. Hệ thống pháp luật về trái phiếu, cổ phiếu đang
được hoàn thiện, trình độ hiểu biết của công chúng về cổ phiếu và trái phiếu
dần được nâng cao Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành cổ
phiếu, trái phiếu để huy động vốn tại doanh nghiệp.
Liên doanh liên kết: Sự cạnh tranh gay gắt buộc các doanh nghiệp thay vì
tìm cách vượt qua lẫn nhau, loại bỏ nhau thì liên doanh liên kết, sát nhập lại
để cùng nhau phát triển được coi là một xu thế mới mẻ và có nhiều triển vọng.
Việc chuyển từ đối đầu sang đối thoại hợp tác cùng phát triển không những
không làm cho doanh nghiệp suy yếu đi mà còn đem lại nhiều ưu thế. Khi tiến
hành liên doanh liên kết thì doanh nghiệp có thể huy động được một lượng
vốn chủ sở hữu đủ lớn để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển. Liên doanh
vừa tạo điều kiện tăng nguồn lực tài chính, nâng cao trình độ quản lý và sử
động vốn kể trên còn khá mới mẻ đối với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam.
Nếu thực hiện tài trợ theo phương pháp này doanh nghiệp phải hoàn trả vốn
gốc và lãi vay sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải thế chấp tài sản,
phải thực hiện nghiêm túc hàng loạt những yêu cầu khắt khe của ngân hàng
trong thời gian đầu tư, Bên cạnh vay ngân hàng, doanh nghiệp cũng có thể
vay từ CB-CNV trong doanh nghiệp. So với vay ngân hàng thì vay vốn từ
CB-CNV có hạn chế là số vốn vay thường không lớn nhưng bù lại có thể vay
trong một thời gian dài, không cần phải thế chấp tài sản lại tạo ra sự gắn bó
mật thiết giữa CB-CNV và doanh nghiệp, thúc đẩy họ tích cực hơn trong lao
động, có ý thức hơn trong việc giữ gìn bảo quản tài sản,
21
Trên đây là một số nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có thể
huy động để phù hợp cho công tác đầu tư đổi mới máy móc thiết bị. Với nhu
cầu vốn đó, doanh nghiệp nên linh hoạt trong việc lựa chọn các phương thức
huy động sao cho phù hợp với tình hình thực tế tại doanh nghiệp, tốt nhất nên
kết hợp cùng lúc nhiều phương thức huy động. Trong huy động vốn một điều
cần chú ý là mặc dù cả hai nguồn vốn đều được coi trọng song nguồn vốn
bên trong luôn giữ vai trò quyết định, nguồn vốn bên ngoài giữ vai trò quan
trọng bổ sung cho nguồn vốn bên trong nhằm đảm bảo đủ vốn cho hoạt động
đầu tư . Việc huy động vốn từ bên ngoài phải cân đối với khả năng tài chính
của doanh nghiệp để đảm bảo một sự phát triển vững chắc trong tương lai.
chức sản xuất kinh doanh, hàng năm ngoài phần kế hoạch Nhà nước giao, xí
nghiệp được phép tự tổ chức sản xuất thêm để đảm bảo việc làm và tăng thu
nhập cho người lao động. Năm 1992, xí nghiệp thành lập thêm một cơ sở mới
tại số 10 Thành công .
Ngày 25/8/1992 Bộ Công nghiệp nhẹ ban hành quyết định số 730/CNn-
TCLĐ chuyển xí nghiệp May Chiến Thắng thành công ty May Chiến Thắng.
Ngày 25/3/1994 xí nghiệp thảm len xuất khẩu Đống Đa thuộc Tổng công ty
Dệt Việt Nam được sát nhập vào công ty May Chiến Thắng theo quyết định
290/QĐ-TCLĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ .
23
Năm 1997 công trình đầu tư ở cơ sở 10 Thành công hoàn thành bao gồm 3
đơn nguyên 5 tầng với diện tích 13000 m2 , bao gồm: 6 phân xưởng may,1
phân xưởng da, 1 phân xưởng thêu-in , 50% khu vực sản xuất được trang bị
hệ thống điều hòa không khí với hơn 1560 loại thiết bị các loại, v.v.
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ công nghiệp và Tổng công ty Dệt-May
Việt Nam, trên cơ sở thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết theo
hướng dẫn, công ty đã hoàn thành việc chuyển xưởng may Lê Trực thuộc
công ty May Chiến Thắng thành công ty may cổ phần Lê Trực. Công ty này
sẽ chính thức đi vào hoạt động từ 1/1/2000 với số vốn điều lệ 4,2 tỷ đồng.
2.1.2 Nhiệm vụ của Công ty trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh
Là một DNNN, trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ nay là Bộ Công nghiệp,
Công ty có đầy đủ tư cách pháp nhân trong sản xuất kinh doanh và hạch toán
kinh tế độc lập. Khi mới thành lập công ty có nhiệm vụ tổ chức sản xuất các
loại quần áo, mũ vải, găng tay, theo chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước. Từ
năm 1975 trở lại đây, nhiệm vụ sản xuất của công ty ngày càng nặng nề hơn,
hàng năm ngoài phần kế hoạch Nhà nước giao, công ty còn phải tự chủ trong
việc tìm kiếm nguồn hàng, tổ chức sản xuất gia công các sản phẩm may mặc
xuất là một dây truyền khép kín phải tiến hành toàn bộ các công việc từ làm
mẫu cứng, giác mẫu, khớp mẫu rồi đưa đến tổ cắt. Tổ cắt sẽ nhận vật liệu cắt
theo mẫu đã giác và đưa đến từng tổ may. Các tổ may cũng được chuyên môn
hóa , mỗi người may một công đoạn: may thân, tay, vào chun, khóa, thùa
khuyết, đính cúc, Kết thúc quy trình công nghệ may mỗi tổ sẽ có một thợ
cả đi kiểm tra về mặt kỹ thuật và một thu hóa làm nhiệm vụ thu thành phẩm
tại cuối chuyền sau đó chuyển sang cho thợ là. Cuối cùng sản phẩm sẽ được
đưa sang bộ phận KCS của phân xưởng để kiểm tra , đóng gói, chuyển đến
kho.