530Các giải pháp huy động vốn đổi mới máy móc thiết bị công nghệ may tại Công ty Cổ Phần Thương mại và Xuất nhập khẩu Quế Võ (72 tr) - Pdf 24

Lời mở đầu
Lãi suất là giá cả của tiền tệ, là công cụ điều hành kinh tế vĩ mô. lãi suất tác
động đến cung- cầu vốn thị trờng, tạo động lực kích thích tiết kiệm, phân bổ các
nguồn vốn tài chính, chống lạm phát thông qua kích thích hoặc hạn chế đầu t.
Thực tiễn hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới vừa qua cho thấy lãi suất vừa
là tín hiệu thị trờng hết sức quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời lại
là công cụ trong tay Ngân hàng Nhà nớc để điều chỉnh các luồng vốn và khối lợng
tiền nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ. Trong thời gian qua, Ngân hàng
Nhà nớc đã hoạch định và điều hành chính sách lãi suất một cách chủ động, nới lỏng
dần sự kiểm soát lãi suất theo hớng tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế xã
hội. Đối với Việt Nam hiện nay, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu. Sự di chuyển
vốn giữa các quốc gia là tự do, lãi suất hoàn toàn đợc xác định theo quan hệ cung
cầu, giá vốn vì vậy cũng phải đợc tự do hoá, mà Việt Nam không nằm ngoài quy luật
đó.
Từ chỗ lãi suất đợc quy định các mức cụ thể, thứ đến là quy định sàn lãi suất
tiền gửi, trần lãi suất cho vay, rồi tự do hoá hầu hết lãi suất tiền gửi, chỉ khống chế
trần lãi suất cho vay. Từ tháng 8/ 2000, Ngân hàng Nhà nớc đã áp dụng lãi suất cơ
bản, và đến tháng 6/ 2002 là cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận, một bớc tiến quan
trọng trong tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam. Đây là một trong những vấn đề
thu hút sự quan tâm chú ý thờng xuyên của nhiều ngời, nhiều ngành, đặc biệt là
ngành Ngân hàng. Là một sinh viên khoa Ngân hàng- Tài chính, em mong muốn đợc
nghiên cứu vấn đề này để đợc hiểu sâu về cơ chế lãi suất ngân hàng mà hiện nay là
cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận đang đợc áp dụng cho hệ thống các NHTM Việt
Nam. Vì vậy tên luận văn em thực hiện là : Giải pháp áp dụng cơ chế lãi suất cho
vay thoả thuận tại các NHTM Việt Nam (cụ thể tại Sở Giao dịch I- Ngân hàng
Công Thơng Việt Nam).
Bố cục của luận văn:
1
Lời mở đầu
Nội dung của luận văn đợc chia ra 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề chung về lãi suất cho vay của NHTM

Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại hình tiền gửi khác nhau, có thể phân loại
nh sau:
Tiền gửi giao dịch ( tiền gửi thanh toán ): bao gồm
3
Tiền gửi giao dịch không hởng lãi
Tiền gửi giao dịch hởng lãi :
-Tài khoản NOW- negotiable order of withdrawal- tài khoản lệnh rút tiền có
thể thơng lợng.
-Tài khoản tiền gửi trên thị trờng tiền tệ (MMDA): là tài khoản tiền gửi có thời
hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài tháng. Lãi suất của loại này cao
nhất trong 3 loại tiền gửi giao dịch không hởng lãi.
-Tài khoản Super NOW (SNOW) : là tài khoản có thể đợc phát sec thờng
xuyên nên lãi suất của SNOW thấp hơn của MMDA.
Tiền gửi phi giao dịch ( tiền gửi tiết kiệm):
Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch.
Các loại tiền gửi có các mức lãi suất khác nhau, và đợc tuân theo nguyên tắc :
Lãi suất bình quân thực dơng, tơng quan về an toàn và sinh lợi với các
hoạt động đầu t khác nh mua vàng, bất động sản, chứng khoán;
Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất cho vay với cùng kỳ hạn;
Lãi suất tỷ lệ thuận với kì hạn;
Lãi suất tỷ lệ thuận với quy mô;
Lãi suất tỷ lệ nghịch với tính thanh khoản;
Lãi suất tỷ lệ thuận với khả năng sử dụng của tiền gửi;
Lãi suất tỷ lệ nghịch với độ an toàn của ngân hàng và các tiện ích mà
ngân hàng cung cấp.
Mỗi loại tiền gửi nói trên đều mang một mức lãi suất khác nhau. Nói chung,
theo lý thuyết giá trị của tiền theo thời gian và theo mối quan hệ tỷ lệ thuận trong đ-
ờng cong thu nhập thì tiền gửi có kỳ hạn thanh toán càng dài sẽ tạo ra mức lãi càng
4
cao cho ngời gửi tiền. Ví dụ, tài khoản NOW và tài khoản tiết kiệm đều có thể đợc

dịch vụ tiền gửi
=
Chi phí hoạt động
cho một đơn vị
dịch vụ tiền gửi
+
Chi phí quản lý
chung dự tính phân
bổ cho bộ phận nhận
tiền gửi
+
Định mức lợi
nhuận từ một
đơn vị dịch
vụ tiền gửi
Việc định giá theo phơng pháp này đòi hỏi ngân hàng phải tính toán chính xác
chi phí cho mỗi dịch vụ tiền gửi, khuyến khích các ngân hàng đặt giá sát hơn với chi
phí.
1.1.1.2. Định giá xâm nhập thị trờng:
Xâm nhập thị trờng là một phơng pháp định giá không nhấn mạnh tới vấn đề
lợi nhuận, ít nhất là trong ngắn hạn. ý tởng ở đây là nâng cao lãi suất , thờng là cao
hơn hẳn mặt bằng lãi suất thị trờng hoặc thu phí dịch vụ thấp hơn mức phí thị trờng
để có thể thu hút đợc nhiều khách hàng. Ngân hàng hy vọng rằng sự gia tăng nhanh
chóng tiền gửi và những khoản tín dụng sẽ bù đắp một phần sự giảm sút trong lợi
nhuận cận biên. Với chiến lợc này, ngân hàng muốn tối đa hoá thị phần trong một thị
trờng đang tăng trởng nhanh chóng.
1.1.1.3. Định giá có điều kiện (Thiết lập bảng giá đối với các nhóm khách
hàng gửi tiền)
Theo phơng pháp này, khách hàng sẽ phải trả một khoản lệ phí rất nhỏ thậm
chí là không phải trả lệ phí nếu số d tiền gửi bình quân của họ cao hơn một mức nhất

nhạy cảm hơn với lãi suất tiền gửi của đối thủ cạnh tranh.
Trong các phơng pháp định giá trên, phơng pháp định giá phổ biến nhất hiện
nay là lập bảng định giá hay định giá có điều kiện, theo đó phí dịch vụ phụ thuộc vào
mức độ sử dụng từng loại dịch vụ tiền gửi. Phơng pháp này cho phép khách hàng dễ
dàng lựa chọn kế hoạch tiền gửi để tối thiểu hoá chi phí, qua đó ngân hàng cũng nhận
đợc các thông tin về thói quen sử dụng tiền của khách hàng.
7
Lãi suất cho vay:
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và truyền thống của ngân hàng. Khi
cạnh tranh trên thị trờng cho vay càng cao, ngân hàng càng phải cố gằng duy trì giá
của các khoản tín dụng tại mức hợp lý, phù hợp với mặt bằng chung của thị trờng tài
chính. Trong một thị trờng có tính cạnh tranh cao, ngân hàng chỉ có thể đóng vai trò
là ngời chấp nhận giá, ngân hàng không thể là ngời đặt giá. Cùng với quá trình tự do
hoá hoạt động ngân hàng tại nhiều quốc gia, sự gia tăng trong cạnh tranh đã thu hẹp
đáng kể khả năng sinh lời của ngân hàng từ các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay.
Chính vì vậy, việc định giá chính xác các khoản cho vay ngày càng trở thành vấn đề
cấp thiết đối với ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.
Lãi suất cho vay là tỷ lệ số tiền lãi so với số tiền gốc khách hàng vay phải trả
cho ngân hàng thơng mại.
Lãi suất
cho vay
=
Lãi suất
tiền gửi
+
Chi phí nghiệp vụ
Ngân hàng
Nhiều yếu tố cần đợc xem xét khi định giá những khoản cho vay bao gồm:
Phí tổn lãi suất trực tiếp của các quỹ
Chi phí quản lý ngân hàng

Phần bù
rủi ro
+
Mức lợi nhuận
cận biên dự
tính
Trong đó :
Chi phí hoạt động : bao gồm tiền công, lơng cho nhân viên và chi phí về trang
thiết bị cho việc giải quyết các thủ tục cho vay.
Phơng pháp định giá theo lãi suất cơ sở:
Do những hạn chế của phơng pháp tổng hợp chi phí nêu trên, ngời ta đã đa ra
mô hình định giá theo lãi suất cơ sở. Lãi suất cơ sở đợc xem nh là lãi suất thấp nhất
mà ngân hàng áp dụng trên các khoản cho vay ngắn hạn ( vốn lu động) đối với các
9
khách hàng có chất lợng tín dụng cao nhất. Lãi suất đối với từng món vay cụ thể đợc
xác định bằng công thức sau:
Lãi suất
cho vay
=
Lãi suất cơ sở ( gồm lợi
nhuận cận biên, chi phí
quản lý và hoạt động)
+
Phần bù
rủi ro tín
dụng
+
Phần bù rủi
ro kỳ hạn
=

hàng cho nhau vay. Lãi suất trên thị trờng liên ngân hàng nổi tiếng nh LIBOR,
SIBOR thờng trở thành lãi suất cơ bản của nhiều ngân hàng thơng mại. Lãi suất này
thờng xuyên thay đổi. Do đó, nếu ngân hàng áp dụng cho vay với lãi suất thả nổi th-
ờng chọn lãi suất trên thị trờng liên ngân hàng hình thành lãi suất cơ bản.
Lãi suất
cơ bản
=
Lãi suất trên thị trờng
liên ngân hàng
+
Thuế
+
Thu nhập
dự tính
Phơng pháp định giá dới cơ sở:
10
Lãi suất
cho vay
=
Chi phí vay vốn trên thị
trờng tiền tệ
+
Phần bù cho rủi ro và
lợi nhuận
Hiện nay, hoạt động cho vay quy mô lớn chủ yếu dựa vào các lãi suất cơ bản
trên thị trờng tiền tệ với một tỷ lệ lợi nhuận hạn chế. Điều này phản ánh sự cạnh tranh
quyết liệt giữa các ngân hàng nhằm thu hút những khách hàng tốt nhất và lớn nhất.
Tuy nhiên xu hớng định giá cho vay kinh doanh trên cơ sở tổng thể mối quan hệ giữa
ngân hàng và khách hàng, tính tới mọi khoản thu nhập và chi phí của việc cung cấp
các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng xin vay vốn đang đợc chú ý thay vì chỉ căn cứ

de Paris (Pháp), Chi nhánh Ngân hàng Deutsche Bank ( CHLB Đức ), và Chi nhánh
Ngân hàng Bank of Tokyo Misubishi ( Nhật Bản). LIBOR áp dụng các khoản tiền gửi
bằng ngoại tệ tự do, tức là ngoại tệ không thuộc sự quản lý của Nhà nớc hữu quan, th-
ờng đợc gọi là ngoại tệ Châu Âu ( Eurocurrency), nh Euro USD, Euro GBP, Euro
JPY v.v...Mỗi loại ngoại tệ đợc chào mời với một lãi suất riêng biệt, chủ yếu với thời
hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng vào thời điểm khoảng 11 giờ (giờ London) khi mà tình
hình cung cầu đã rõ nét trên thị trờng vốn quốc tế. Các khoản lớn và có tính quốc tế
thờng áp dụng LIBOR, trừ khi có thoả thuận riêng vì rằng London là trung tâm tài
chính truyền thống lớn nhất và sôi động nhất thế giới và những ngân hàng thuộc
nhóm đề ra LIBOR là những ngân hàng có nhiều hoạt động và kinh nghiệm trên thị
trờng vốn quốc tế.
Ngày nay, với sự xuất hiện các con rồng Châu á và sự hình thành khối kinh tế
ASEAN đầy tiềm năng, Singapore đã trở thành một trung tâm tài chính tầm cỡ ở
Đông á và SIBOR ( Singapore InterBank offered Rate) đã đợc nhiều ngân hàng sử
dụng trong nhiều quan hệ tín dụng lẫn nhau.
12
Từ những năm 90 ( thế kỷ 20) trở về trớc, chúng ta chỉ sử dụng LIBOR trong
quan hệ vay mợn với các ngân hàng nớc ngoài, còn bây giờ, việc sử dụng LIBOR hay
SIBOR tuỳ thuộc vào sự lựa chọn và thoả thuận của cả hai bên cho vay và vay nợ, và
thờng do bên cho vay đề xuất.
1.2. Cơ chế lãi suất cho vay của ngân hàng:
1.2.1. Lãi suất cố định:
Lãi suất cố định là mức lãi suất cho vay đợc ấn định ngay khi cho vay vốn và
không thay đổi trong một thời khoảng, thời hạn nhất định. Đây là cách làm cổ điển
nhất ( vì nó có từ trớc thời đại Hy- La). Các ngân hàng đa ra các thang lãi suất đã lập
sẵn để thông báo cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn từ ngân hàng, khách hàng
chỉ có việc chấp nhận mức lãi suất ấy nếu muốn vay tiền. Cách làm này có những mặt
tích cực:
-Giúp ngân hàng ớc tính khá chính xác đợc lợi nhuận từ mỗi khoản cho vay,
-Chủ động tính đợc lãi suất cần đa ra để huy động tiền gửi và các loại tài sản

ngân hàng quan tâm đến khách hàng và lợi nhuận trong những mục tiêu dài hạn.
Cách làm đơn giản của các ngân hàng thơng mại Âu- Mỹ là nó đa ra những mục tiêu
về tài sản có cho tơng lai rồi vận động vốn cấp và lãi suất theo từng tình huống.
1.2.3.Khung lãi suất ( lãi suất cơ bản)
Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín
dụng ấn định lãi suất kinh doanh của mình. Lãi suất cơ bản mà NHTW công bố đợc
dựa trên việc tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thờng của các NHTM áp
14
dụng đối với khách hàng có uy tín. Mức lãi suất cơ bản đợc cộng thêm một biên độ
bằng số phần trăm (%) tuyệt đối sẽ là giới hạn lãi suất tối đa cho các TCTD đợc phép
cho vay. Việc điều chỉnh các mức lãi suất cơ bản hàng tháng một cách linh hoạt đã
tạo điều kiện bám sát tín hiêụ thị trờng, cung cầu vốn tín dụng, đáp ứng mục tiêu của
chính sách tiền tệ, đảm bảo sự kiểm soát của NHNN trên thị trờng tiền tệ.
1.3. Lãi suất cho vay thoả thuận
Nghị quyết Hội nghị lãi suấtần thứ năm BCHTW Đảng Khoá IX về đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 đã đề ra
chủ trơng: Các tổ chức tín dụng ( ngân hàng thơng mại quốc doanh, ngân hàng cổ
phần...) hoạt động dới nhiều hình thức đa dạng ở nông thôn với lãi suất thoả thuận....
Chủ trơng này đặt ra yêu cầu bỏ cơ chế điều hành lãi suất cơ bản hiện nay, chuyển
sang cơ chế lãi suất thoả thuận hay còn gọi lãi suấtà cơ chế lãi suất thị trờng. Đây lãi
suấtà vấn đề lãi suấtớn , mang dấu ấn có tính bớc ngoặt trong điều hành chính sách
tiền tệ, tác động đến thị trờng tài chính-tiền tệ.
Có thể nói thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận lãi suấtà bớc tiến quan
trọng về điều hành lãi suất trên con đờng tiến tới tự do hoá lãi suất . Tự do hoá lãi
suất đợc hiểu là lãi suất đợc hình thành và biến động theo cung cầu vốn trên thị trờng.
Sự can thiệp của Nhà nớc lúc này chỉ bằng công cụ gián tiếp tác động lên cung-cầu
vốn nhằm hớng lãi suất thị trờng biến động, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền
tệ.
Trong điều hành chính sách lãi suất , NHTW chỉ công bố các mức lãi suất áp
dụng đối với các khoản cho vay, tái chiết khấu của mình đối với các NHTM. Khi đó,

lãi suất huy động và cho vay. Vốn đầu t sẽ dẫn về khu vực có lợi nhuận giả tạo ( thí
dụ kinh tế bong bóng, hoặc kinh doanh lừa đảo...) trong khi các khu vực sản xuất
16
kinh doanh lành mạnh không hấp thụ đợc vốn vì : Lãi suất cho vay cao hơn lợi nhuận
thu đợc.
Hệ quả của hai điều kiện trên sẽ dẫn tới đổ vỡ từng tổ chức hoặc thậm chí cả
hệ thống tín dụng, bởi vì khu vực kinh tế bong bóng đơng nhiên sẽ phá sản, không trả
đợc nợ Ngân hàng. Chúng ta đã có kinh nghiệm thực tế trong các thời kỳ 1989-1990,
1997-1998...
Tuy vậy, khi các điều kiện thực tế đã có mà vẫn duy trì một cơ chế quản lý cũ
thì sẽ hạn chế sự phát triển kinh tế.
Có thể nói, cho tới nay cơ chế lãi suất cơ bản cộng biên độ đợc phép đối với
cho vay VNĐ đã bộc lộ hạn chế. Do lãi suất cơ bản đợc xác định qua tham khảo một
số khách hàng tốt nhất và lớn nhất mà số khách hàng này thờng là các doanh nghiệp,
Tổng công ty lớn ở các Ngân hàng lớn nên không đại diện cho toàn bộ khách hàng,
nhất là hộ nông dân, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khu vực nông thôn có đặc điểm là
nhu cầu vốn có tính thời vụ, cấp bách. Những vùng kinh tế hàng hóa phát triển, nh
Đồng bằng Sông Cửu Long, nhu cầu vốn lớn, thờng xuyên hơn, và sẵn sàng chấp
nhận lãi suất cao hơn. Trong khi lãi suất cho vay các doanh nghiệp lớn hiện nay
khoảng 0.6%-0.7%/tháng, thì từ nhiều năm nay hầu hết các chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp ở khu vực nông thôn cho vay hộ nông dân, doanh nghiệp nhỏ lãi suất
biên độ tối đa ( ngắn hạn 0.9%/tháng, trung hạn 1.1%/tháng ), và nhu cầu vốn vẫn rất
lớn. Ngân hàng có thể tạo vốn để mở rộng cho vay thêm bằng cách nâng lãi suất huy
động và điều vốn từ các khu vực khác nhng điều này sẽ làm tăng chi phí, trong khi
không tăng đợc lãi suất cho vay sẽ dẫn đến không lãi hoặc lỗ.
Tỷ trọng nguồn vốn / d nợ của các vùng tại NHN
0
&PTNT cuối năm 2001 nh
sau:
- Miền núi trung du Bắc bộ 129%

hình thành trên quan hệ cung cầu.
1.3.2.1. Tác động ảnh hởng tích cực
Thực hiện cho vay theo lãi suất thị trờng, cung cầu về vốn sẽ quyết định mức
lãi suất thị trờng. Đây là bớc tiến lớn của cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong
tiến trình phát triển của hệ thống tài chính, tiến tới tự do hoá lãi suất hoàn toàn. Kinh
nghiệm của các nớc cho thấy việc tự do hoá lãi suất sẽ có tác động tích cực tới sự
phát triển của hệ thống tài chính trong nớc. Sau mỗi giai đoạn tiến hành cải tiến cơ
chế lãi suất , việc mở rộng cho vay của tổ chức tín dụng đợc nới lỏng hơn, dòng vốn
đổ về khu vực nông thôn phục vụ phát triển khu vực này tăng cao
Việc áp dụng cơ chế lãi suất mới ngày càng tạo cơ hội cho NHNN thực hiện
các công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hớng gián tiếp, hạn chế dần các công
cụ trực tiếp, tiến tới việc điều hành chính sách tiền tệ theo một hệ thống các công cụ
hiện đại, chỉ can thiệp vào các nguyên tắc thị trờng mà không phá vỡ các nguyên tắc
hoạt động của thị trờng.
Cạnh tranh trên thị trờng tín dụng mạnh hơn, có lợi cho nền kinh tế. Cạnh
tranh lành mạnh sẽ thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện thị trờng. Chu chuyển vốn sẽ
đến đợc nơi có hiệu quả kinh tế cao.
Tạo khả năng cho thị trờng tài chính Việt Nam phát triển theo chiều sâu hơn,
thể hiện trong biểu đồ biến động tăng chỉ tiêu M2/GDP:
Từ đó tạo môi trờng thuận lợi cho các cơ chế chính sách của NHNN lan truyền nhanh
chóng và tác động tích cực tới nền kinh tế.
Sự thay đổi của chính sách lãi suất là phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, nh-
ng cũng chính yêu cầu phát triển nền kinh tế, tiền tệ hóa các mối quan hệ kinh tế và
sự hình thành các nhân tố kinh tế thị trờng đã buộc chính sách lãi suất phải có sự nới
lỏng để chuyển sang cơ chế lãi suất thỏa thuận nhằm tạo điều kiện cho việc huy
động tối đa nguồn lực trong nớc phục vụ cho đầu t phát triển và đồng bộ với tổng thể
19
chính sách kinh tế- tài chính- đối ngoại ( vốn huy động và tín dụng đối với nền kinh
tế tăng trởng trên 20%/năm; vốn tín dụng cung ứng cho nền kinh tế tuy tăng trởng
mức cao, năm 1991 tơng đơng 21% GDP, năm 2001 là 40% ).

dịch vụ nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của nền kinh tế, của xã hội và của ngời
dân. Song dù là hoạt động nh thế nào, dịch vụ ra sao, thì hoạt động cho vay vẫn là
một hoạt động khởi thuỷ, cơ bản mà các NHTM luôn coi là nghiệp vụ hàng đầu, và
cũng là một nghiệp vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng cho đầu t phát triển nền kinh
tế.
Nói là khởi thuỷ vì vốn xa nghiệp vụ cho vay là hoạt động đầu tiên của cái
gọi là hoạt động ngân hàng. Ngay từ lúc đầu nó đã mang tính thơng mại, bởi mục
đích của cho vay là để lấy lời. Nói một cách khác, những ngời có tiền muốn cho ngời
khác vay, sau một khoảng thời gian nào đó thu về với một khoản tiền lớn hơn khoản
gốc ban đầu và thế là họ có một khoản lãi. Khoản lãi có đợc đó là do họ đã bán với
giá cao hơn vốn gốc của họ và việc bán mua đợc thoả thuận giữa ngời bán và ngời
mua ngay từ đầu. Khoản lãi đợc tính theo phần trăm đó là lãi suất . Nh vậy lãi suất ra
đời từ hoạt động thơng mại. Vậy lãi suất tín dụng thực sự mang trong nó ý nghĩa th-
ơng mại.
1.3.2.3.1.2. ý nghĩa xã hội:
Thực ra mà nói hoạt động cho vay không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa thơng
mại, mà ngay từ thời xa xa hoạt động này đã mang ý nghĩa xã hội. Trong thực tế
không phải bao giờ ngời cho vay cũng chỉ với mục đích lấy lãi, họ cho vay đôi khi
với ý định hỗ trợ ngời vay trong lúc thiếu thốn mà không đặt đến vấn đề lấy lãi. Sự
21
trợ giúp hoàn toàn hay một phần lãi suất cho vay vì lợi ích của ngời vay chính là ý
nghĩa xã hội của hoạt động tín dụng. Thời bao cấp, cái thời mà đem tiền Chính phủ
cho bản làng vay ... đã nói lên hoạt động cho vay thấm đợm tình nhân đạo xã hội.
Thời bao cấp, các tổ chức tín dụng ( thực sự là chỉ có ngân hàng thơng mại quốc
doanh và hợp tác xã tín dụng ) cho vay trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ và cũng chỉ
cho vay chủ yếu các doanh nghiệp nhà nớc. Tín dụng mang tính bao cấp. Các tổ chức
tín dụng ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế của việc cho vay, quan tâm đến bảo toàn
vốn, đến đầu t phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho đất nớc.
1.3.2.3.1.3. ý nghĩa thực tiễn
Lãi suất tín dụng có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt, ta đã biết lãi suất mang ý nghĩa

quan trọng. Thực tế là bao cấp tín dụng và đơng nhiên chính sách lãi suất là chính
sách hỗ trợ.
Một thời gian rất dài trong điều hành chính sách tiền tệ, NHNN không quan
tâm mấy đến công cụ lãi suất , không vận dụng nó mà áp đặt nó trong quản lý.
1.3.2.3.2.2. Trong thời kỳ đổi mới:
Cùng với sự đổi mới của đất nớc, hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời rồi Luật ngân
hàng đợc thực hiện. Hoạt động ngân hàng đã có đợc một môi trờng pháp lý tơng đối
hoàn chỉnh. Chính sách tiền tệ đợc điều hành một cách bài bản, khoa học và từng bớc
phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà
nớc. Chính sách lãi suất đợc NHNN chú trọng và vận dụng nó một cách sáng tạo linh
hoạt. Chính sách lãi suất thực dơng đã tạo cho các NHTM ý thức kinh doanh tín
dụng. Nhng để thể hiện sự quản lý Nhà nớc, giữ cho sự tự do kinh doanh trong khuôn
khổ, chính sách lãi suất sàn, trần là một cách điều tiết tích cực, tạo sự chủ động của
23
các NHTM. Song đã là khuôn thì khó mà có đợc sự tự do, sáng tạo, vận dụng linh
hoạt.
Từ tháng 8 năm 2000, NHNN Việt Nam điều hành lãi suất cho vay của các
NHTM bằng lãi suất cơ bản có cộng trừ biên độ 0.3%/tháng đối với cho vay ngắn hạn
và 0.5%/tháng đối với cho vay trung và dài hạn. Chính sách lãi suất này áp dụng
chung cho cả khu vực thành thị cũng nh khu vực nông thôn.
Điều hành bằng lãi suất cơ bản là đã một bớc nới rộng đối với các tổ chức tín
dụng. Họ đã có thể vận dụng vào từng trờng hợp cụ thể, vào tình hình nguồn vốn của
từng ngân hàng trong từng giai đoạn. Tóm lại các tổ chức tín dụng đã có đợc quyền
tự quyết, đã có chỗ dựa pháp lý để vận dụng sáng tạo trong kinh doanh.
1.3.2.3.3. Thực hiện lãi suất cho vay thỏa thuận bằng VNĐ:
1.3.2.3.3.1. Xuất phát từ thực tế:
NHNN thờng xuyên phải công bố lãi suất cơ bản để các TCTD căn cứ vào đó
mà vận dụng vào trờng hợp khả năng nguồn vốn, nhu cầu tín dụng, lợng khách hàng
của đơn vị mình để quyết định mức lãi suất cho vay cụ thể.
Từ khi áp dụng chính sách lãi suất này, NHNN đã 4 lần công bố thay đổi mức

Trong thực tế, chúng ta đã áp dụng lãi suất cho vay bằng ngoại tệ qua việc bỏ
cơ chế khống chế theo biên độ ( lãi suất SIBOR 3 tháng cộng 1% năm đối với cho
vay ngắn hạn, lãi suất SIBOR 6 tháng cộng 2.5% năm đối với cho vay trung và dài
hạn) thực sự là đã chuyển sang tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ. Với chính sách
này, các tổ chức tín dụng đã có quyền tự quyết rất lớn trong việc cung cấp tín dụng
ngoại tệ trong nớc, và nó phù hợp kịp thời với xu hớng lãi suất trên thị trờng quốc tế.
1.3.2.3.3.2. Các yếu tố khách quan
Nền kinh tế Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, liên tục tăng trởng khá. Đặc biệt
cả ngay khi khủng hoảng khu vực Đông Nam á xảy ra, GDP Việt Nam vẫn tăng ở
mức hơn 6% năm ( năm 2000 là 7.1%, năm 2001 là 6.8%). Có thể nói nền kinh tế-
25

Trích đoạn Việc thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận tại SGD I Định hớng, mục tiêu của SGDI NHCTVN với quá trình thực hiện cơ chế lã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status