Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta các doanh nghiệp Nhà nước đã và đang đóng vai trò to lớn gần
như tuyệt đối trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Nhất là trong những
năm nhân dân ta vừa phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm, vừa xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đến nay trước yêu cầu của quá trình chuyển đổi đất
nước sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước tất yếu phải đổi mới căn bản doanh nghiệp Nhà nước.
Xuất phát từ đường lối chung các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi
mới kinh tế ở Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường một trong những chủ
trương lớn là: cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước đủ điều kiện- có
nghĩa là một số doanh nghiệp Nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một hình thức sản xuất tiến bộ trong nền kinh tế thị
trường. ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc sắp xếp, chuyển đổi một số doanh
nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần tiến lên thành các tập đoàn công ty đa quốc
gia đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị trường trong nước và vươn ra thị trường
quốc tế là con đường hữu hiệu để đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước. Cổ phần hoá
ở các quốc gia tuy có những thành công và vướng mắc khác nhau nhưng đều có
những điểm chung về mục tiêu, hình thức và đều phải có sự trợ giúp của Chính phủ
để đẩy mạnh qúa trình chuyển đổi sở hữu, đặc biệt là hệ thống cơ chế chính sách tài
chính.
Để hiểu rõ hơn, em xin phép được chọn đề tài “Giải pháp tài chính nhằm
thúc đẩy hoạt động ở Công ty Cổ phần Cung ứng và Xuất nhập khẩu Lao động
Hàng không” bởi qua đây, em muốn vận dụng những kiến thức đã được học và kết
quả thực tế đã thu được sau thời gian thực tập tại cơ sở để làm rõ hơn vấn đề đang
được coi là nóng bỏng hiện nay.
Chuyên đề được trình bày trong 03 phần:
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà
nước.
Vốn điều lệ của công ty được chia đều thành nhiều phần bằng nhau
gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có
thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cổ phiếu phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu của
sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên.
Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu có ghi
tên chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của Hội động quản trị, trừ trường
hợp được quy định ở điều 39 của luật này, số cổ phiếu này( Cổ phiếu của Hội đồng
quản trị) tác giả phải ghi tên, không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại
chức và trong thời hạn hai năm, kể từ ngày thôi giữ chức thành viên Hội đồng quản
trị.
1.1.2. Đặc điểm Công ty Cổ phần
1.1.2.1 Về mặt pháp lý
- Loại công ty này có tư cách pháp nhân độc lập, được hưởng quy chế pháp
lý độc lập, tách rời với các thành viên, có tư cách là bên nguyên để kiện các pháp
nhân khác, đồng thời cũng có thể bị các pháp nhân khác kiện. Đây là dấu hiệu để
phân biệt với các loại công ty không được hưởng quy chế pháp nhân.
- Chế độ chịu trách nhiệm của công ty cổ phần là chế độ chịu trách nhiệm
hữu hạn. Các cổ động chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty theo tỷ lệ
phần vốn góp của họ. Công ty chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của công ty.
Đây là dấu hiệu chung của loại công ty trách nhiệm hữu hạn.
1.1.2.2 Về mặt tài chính
- Vốn của công ty được chia thành các cổ phần là đặc trưng có tính quyết
định để phân biệt giữa Công ty Cổ phần với các loại tổ chức kinh tế khác. Cổ phần
là phần vốn cơ bản của công ty thể hiện một khoản giá trị thực tế tính bằng tiền gọi
là mệnh giá cổ phần. Cổ phần chứng minh rằng tư cách thành viên của các cổ đông-
Cổ phần được biểu hịên bằng hình thức cổ phiếu. Có loại cổ phiếu ghi tên và cổ
phiếu không ghi tên. Các cổ phiếu không ghi tên được tự do mua bán một cách dễ
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lý chuyên nghiệp, điều đó có rất nhiều ưu điểm, song cũng cần tránh việc lợi dụng
đa số để gây thiệt hại cho công ty làm lợi cho riêng mình.
1.1.2.4 Về tổ chức
Do tính chất nhiều chủ sở hữu của Công ty Cổ phần nên các cổ đông không
thể thực hiện trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại
diện làm nhiệm vụ trực tiếp quản lý công ty bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội
đồng quản trị, giám đốc điều hành và các kiểm soát viên.
Hệ thống tổ chức của Công ty Cổ phần như sau:
- Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Đại hội
đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông
qua các điều lệ của công ty. Đại hội thành lập phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít
nhất số vốn điều lệ của công ty và biểu quyết đa số quá bán.
- Hội đồng quản trị ( HĐQT) là cơ quan quản lý công ty gồm từ 3 đến 12
thành viên. HĐQT có toàn quyền và nhân danh công ty quyết định mọi vấn đề liên
quan đến mục đích và quyền lợi của công ty.
1.1.2.5 Về tính chất dân chủ trong quản lý
Công ty Cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất dân chủ
rất cao, tuy rằng tính dân chủ ở đây là có điều kiện, nó phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp
6
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
CHỦ TỊCH HĐQT KIỂM SOÁT VIÊN
GIÁM ĐỐC
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của các cổ đông chứ không phải hoàn toàn bình đẳng đối với mọi người. Do số
lượng cổ đông trong công ty thường rất lớn nên cơ cấu tổ chức và chức năng của
từng bộ phận phải vừa đảm bảo được vai trò của chủ sở hữu vừa đảm bảo cho công
ty hoạt động có hiệu quả.
xuất đến giám đốc DN đều trở thành người chủ thực sự đồng vốn của mình. Đều
được tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của DN với quyết tâm và ý chí
chung là gặt hái được hiệu quả cao nhất.
Cổ phần hoá còn có tác dụng tích cực đến việc cải tiến quản lý hiệu
quả hơn. Cổ phần hoá các DNNN hình thành các Công ty Cổ phần cũng có nghĩa là
xác định vai trò làm chủ thực sự của DN, cụ thể là Hội đồng quản trị thay mặt và
chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh với tất cả
các cổ đông góp vốn. Hội đồng quản trị là ông chủ thực sự thay mặt cho các cổ
động chứ không phải ai khác và hoạt động tích cực, không ngừng sáng tạo cải tiến
kỹ thuật, phương pháp công nghệ và cả thủ thuật, biện pháp kinh doanh có hiệu quả
nhất. Đây cũng là biện pháp hạn chế các chỉ đạo từ trên xuống vốn có ở một
DNNN. Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho việc tách rời chức năng quản lý
sản xuất kinh doanh và chức năng quản lý Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế, tạo
thế chủ động cho người bỏ vốn đầu tư, củng cố động lực cạnh tranh của nền kinh
tế.
Bên cạnh đó cổ phần hoá các DNNN còn tạo điều kiện thuận lợi để cơ
cấu lại nền kinh tế. Với việc cổ phần hoá các DNNN, mở rộng đa dạng hoá sở hữu,
sẽ có thêm điều kiện mới cho việc cơ cấu lại nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
dựa trên hai vế hết sức quan trọng: Động lực sở hữu của nhiều thành phần kinh tế
và việc phân công lao động toàn xã hội theo các tác động của thị trường cạnh tranh.
Đây cũng là cơ sở để điều chỉnh và đổi mới quan điểm lãnh đạo, quản lý của Nhà
nước, xác định vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế quốc doanh. Xác định mũi nhọn
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chiến lược, ngành chủ lực để thực hiện vai trò điều tiết ngăn chặn khủng hoảng
kinh tế hơn là bao sâu rộng rãi quá nhiều ngành nghề, đầu tư vốn đưa đến nhiều bấp
bênh lỗ lãi. Đây chĩnh là quá trình cân bằng lại giữa sự can thiệp của Nhà nước và
sự điều tiết của thị trường nhằm tận dụng những ưu điểm của cơ chế thị trường.
Cổ phần hoá sẽ cởi bỏ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo dựng và củng
cố nguồn lực của Nhà nước do việc nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của
sổ kế toán, phân tích rõ nguyên nhân thừa, thiếu.
* Phân loại tài sản đã kiểm kê theo các nhóm sau:
- Tài sản DN có nhu cầu sử dụng.
- Tài sản DN không cần dùng, tài sản ứ đọng, chờ thanh lý theo quyết định
của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại DN.
- Tài sản hình thành từ Quỹ khen thưởng, phúc lợi ( nếu có).
- Tài sản thuê ngoài, vật tư hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, nhận đại lý,
nhận ký gửi.
Đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi
tiết đối với từng loại công nợ như sau:
* Nợ phải trả:
Phân tích rõ các khoản nợ trong hạn, nợ quá hạn, nợ gốc, nợ lãi, nợ phải trả
nhưng không phải thanh toán.
Nợ phải trả nhưng không phải thanh toán là khoản nợ mà chủ nợ không còn
tồn tại ( DN đã giải thể, phá sản, chủ nợ đã chết) hoặc chủ nợ không đến đối chiếu
đòi nợ mặc dù đã quá hạn.
* Nợ phải thu
- Phân tích rõ nợ phải thu có khả năng thu hồi, nợ phải thu không có khả
năng thu hồi.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi phải có đủ tài liệu chứng
minh là không thu hồi được theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn
đọng.
- Rà soát các hợp đồng kinh tế để xác định các khoản đã trả trước cho người
cung cấp hàng hoá dịch vụ nhưng đã hạch toán hết vào chi phí kinh doanh như: tiền
thuê nhà, tiền thuê đất, tiền mua hàng, tiền mua bảo hiểm dài hạn, tiền lương, tiền
công... để tính vào giá trị DN cổ phần hoá theo khoản 3 Điều 11 Nghị định
187/2004/NĐ- CP.
Tổ chức đánh giá và xác dịnh giá trị tài sản của DN có nhu cầu sử
tục xử lý số tài sản này trước khi có quyết định giá trị DN. Đến thời điểm có quyết
định giá trị DN, nếu còn tài sản chưa xử lý, DN có trách nhiệm bảo quản, chuyển
giao cho công ty mua bán nợ và tài sản của DN để xử lý theo quy định hiện hành.
Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN không bán lại tài sản này cho DN.
- Tài sản là công trình phúc lợi trước đây được đầu tư bằng nguồn quỹ phúc
lợi, khen thưởng được xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định
187/2004/NĐ- CP.
- Việc xác định giá trị và chia cổ phần cho người lao động đối với tài sản
dùng trong sản xuất kinh doanh đầu tư bằng nguồn quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi
được xử lý theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định 187/2004/NĐ- CP. Cổ
phần chia cho người lao động được xác định theo giá đấu thành công bình quân.
- Tài sản phúc lợi được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc có nguồn gốc
từ ngân sách, nếu DN cổ phần hoá tiếp tục sử dụng được tính vào giá trị DN cổ
phần hoá.
* Nợ phải thu
Các khoản nợ phải thu được xử lý theo quy định, trong đó:
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đối với những khoản nợ phải thu có đủ tài liệu chứng minh không có khả
năng thu hồi theo quy định hiện hành của nhà nước về xử lý nợ tồn đọng thì xác
định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cá nhân, tổ chức để xử lý bồi thường theo quy
định của pháp luật hiện hành. Phần tổn thất sau khi xử lý DN dùng nguồn dự phòng
nợ phải thu khó đòi để bù đắp, nếu thiếu thì hạch toán vào chi phí kinh doanh của
DN.
- Đối với các khoản nợ phải thu quá hạn khác DN phải tiếp tục đòi nợ hoặc
bán nợ cho công ty mua bán nợ và tài tồn đọng của DN theo giá thoả thuận, không
được trực tiếp bán nợ cho khách nợ. Khoản tổn thất từ việc bán nợ được hạch toán
vào chi phí kinh doanh.
- Đối với các khoản DN đã trả trước cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ
như: thiền thuê nhà, thiền thuê đất, tiền mua hàng, tiền công... nếu đã hạch toán hết
bố giá trị DN mà vẫn chưa nhận được ý kiến xử lý của bên cho vay, DN được tạm
loại khoản nợ lãi vay đề nghị xoá khỏi giá trị DN để cổ phần hoá. Khi có quyết
định xoá nợ, nếu có chênh lệch so với số đã tạm loại ra khỏi giá trị, DN hạch toán
điều chỉnh báo cáo tài chính trước khi chính thức chuyển thành công ty cổ phần.
+ Khoản nợ gốc quá hạn không được xoá xử lý như sau:
DN làm thủ tục để chuyển giao cho công ty cổ phần kế thừa để trả nợ.
Thoả thuận với ngân hàng thương mại cho vay để chuyển nợ thành vốn cổ
phần.
Phối hợp với ngân hàng thương mại cho vay và Quỹ hỗ trợ phát triển thực
hiện xử lý nợ theo phương thức bán nợ cho công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng
của DN theo giá thoả thuận.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đối với các khoản nợ vay nước ngoài quá hạn có bảo lãnh , DN và người
bảo lãnh phải đàm phán với chủ nợ để có phương án xử lý theo quy định của pháp
luật về quản lý vay nợ và trả nợ vay nước ngoài.
- Đối với khoản nợ bảo hiểm xã hội, nợ cán bộ công nhân viên, DN có trách
nhiệm thanh toán dứt điểm trước khi chuyển thành công ty cổ phần để đảm bảo
quyền lợi cho người lao động.
- Việc chuyển nợ phải trả ( bao gồm cả nợ phải trả người lao động) thành
vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần phải tuân thủ các quy định của Nhà nước về
quyền mua cổ phần lần đầu và quyền nắm giữ cổ phần chi phối của Nhà nước tại
DN, giá cổ phần phải xác định thông qua đấu giá.
* Các khoản dự phòng, lỗ và lãi
Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi,
dự phòng giảm giá chứng khoán, chênh lệch tỷ giá, dự phòng trợ cấp mất việc làm,
dự phòng tài chính... và các khoản lỗ, lãi được xử lý theo quy định, trong đó:
- Số dư dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dùng để bù đắp khoản chênh lệch
giảm giá hàng tồn kho ( kể cả khoản giảm giá do đánh giá lại hàng tồn kho ở thời
điểm xác định giá trị DN), phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh.
* Vốn đầu tư dài hạn vào các DN khác như góp vốn liên doanh, liên kết, góp
vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và các hình thức đầu
tư dài hạn khác được xử lý theo quy định, trong đó:
- Trường hợp DN có kế thừa liên doanh, phải tính giá trị vốn góp liên doanh
vào giá trị DN theo quy định.
- Trường hợp các DN không kế thừa liên doanh thì cơ quan có thẩm quyền
quyết định cổ phần hoá xem xét, xử lý như sau:
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Bán lại khoản vốn góp của DN cho đối tác hoặc nhà đầu tư khác. Giá bán
phải sát với giá thị trường, nhưng không thấp hơn giá thị phần vốn góp theo báo
cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất với thời điểm bán.
+ Chuyển giao cho DN khác làm đối tác sau khi thoả thuận, thống nhất với
đối tác liên doanh.
+ Trường hợp DN và đối tác liên doanh thống nhất chấm dứt hợp đồng liên
doanh xử lý theo pháp luật hiện hành về xử lý tài chính đối với công ty nhà nước
khi DN liên doanh chấm dứt hợp đồng.
* Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi:
- Số dư bằng tiền của Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi được chia cho ngườ
lao động có tên trong danh sách thường xuyên của DN tại thời điểm quyết định cổ
phần hoá để mua cổ phần. Giám đốc DN quyết định việc phân chia sau khi thoả
thuận với tổ chức công đoàn.
- Trường hợp DN đã chi quá nguồn khen thưởng, phúc lợi được giảm trừ vào
giá trị thực tế cuả tài sản đang sử dụng cho sản xuất kinh doanh được đầu tư bằng
nguồn quỹ khen thưởng, phúc lợi. Nếu còn xử lý như sau:
+ Đối với khoản đã chi trực tiếp cho người lao động có tên trong danh sách
thường xuyên tại thời điểm quyết định cổ phần hoá thì DN phải thu hồi trước khi
thực hiện bán cổ phần ưu đãi.
+ Đối với các khoản còn lại như: khoản bị xuất toán, chi biếu tặng; chi cho
người lao động đã nghỉ mất việc, thôi việc trước thời điểm quyết định cổ phần hoá
xử lý, trong đó:
- Chênh lệch giảm do nguyên nhân khách quan là các khoản tồn thất do thiên
tai, địch hoạ; do Nhà nước thay đổi chính sách hoặc do biến động của thị trường
quốc tế và các nguyên nhân bất khả kháng khác.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Các trường hợp còn lại được xác định là nguyên nhân chủ quan. Cơ quan
quyết định cổ phần hoá không lựa chọn các cá nhân có trách nhiệm đến khoản
chênh lệch giảm làm đại diện phần vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần.
Bàn giao tài sản, vốn
Căn cứ quyết định điều chỉnh giá trị DN tại thời điểm đăng kí kinh doanh
chuyển thành công ty cổ phần, Ban chỉ đạo cổ phần hoá chỉ đạo DN điều chỉnh sổ
kế toán, lập hồ sơ bàn giao và tổ chức bàn giao giữa DN và công ty cổ phần.
* Hồ sơ bàn giao gồm:
- Hồ sơ xác định giá trị DN và quyết định công bố giá trị DN.
- Báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán thuế tại thời điểm chính thức
chuyển thành công ty cổ phần.
- Quyết định giá trị DN tại thời điểm chuyển thành công ty cổ phần của cơ
quan có thẩm quyền.
- Biên bản bàn giao tài sản,tiền vốn được lập tại thời điểm bàn giao.
* Thành phần bàn giao gồm:
- Đại diện Bộ quản lý ngành hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và đại diện Bộ Tài chính ( trường hợp cổ phần hoá toàn bộ tổng
công ty).
- Đại diện tổng công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị ( trường hợp cổ phần hoá
DN thành viên tổng công ty), giám đốc, kế toán trưởng công ty nhà nước đại diện
cho bên giao.
- Chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc, kế toán trưởng và đại diện tổ chức
công đoàn công ty cổ phần đại diện cho bên nhận.
* Biên bản bàn giao phải có đầy đủ chữ ký thành phần bàn giao và phải ghi
đạo cổ phần hoá quyết định lựa chọn tổ chức định giá và chịu trách nhiệm về việc
lựa chọn của mình.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Căn cứ quyết định của Ban chỉ đạo, Giám đốc DN ký hợp đồng thuê tổ
chức định giá. Trong đó phải cam kết các nội dung sau:
- Phương pháp định giá.
- Thời gian hoàn thành: tối đa không quá 60 ngày đối với cổ phần hoá toàn
bộ tổng công ty; không quá 30 ngày đối với các trường hợp còn lại.
- Trách nhiệm của DN trong việc thực hiện các công việc có liên quan đến
việc định giá như: kiểm kê, phân loại tài sản, xử lý tài chính, lập phương án sản
xuất kinh doanh, cung cấp tài liệu có liên quan... và chịu trách nhiệm về số liệu và
tài liệu cung cấp.
- Trách nhiệm của tổ chức định giá trong việc thực hiện đúng các quy định
về giá; hoàn thành đúng thời hạn theo đúng hợp đồng đã ký và kết quả định giá
theo quy định của pháp luật.Việc thanh toán chi phí định giá được thực hiện sau khi
có quyết định công bố giá.
* Trong quá trình thực hiện phương án cổ phần hoá, tổ chức định giá có
trách nhiệm phối hợp với DN để giải trình các nội dung có liên quan đến việc định
giá.
1.3 Thực trạng về cổ phần hoá của một số DNNN việt nam và bàI học kinh
nghiệm rút ra từ quá trình cổ phần hoá DNNN trên thế giới
1.3.1 Mục tiêu cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam
Như chúng ta đã biết, mục tiêu cổ phần hoá DNNN là một vấn đề luôn được
Đảng và Chính phủ quan tâm nghiên cứu xác định. Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm
1996 chủ trương: “ Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá DNNN để
huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy DN làm ăn có hiệu quả, làm cho
tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá”.
1.3.2 Tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trên phạm vi cả nước.
Từ năm 1996 đến năm 1998 là giai đoạn mở rộng thí điểm. Sau bốn năm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có gì mới, không tạo ra động lực phát triển, trong khi mục tiêu của việc sắp xếp lại
DNNN chủ yếu là để đạt điều này.
Việc xác định giá trị tài sản khi cổ phần hóa cũng là mối quan tâm của các
DN. Các tài sản như đất đai, nhà cửa biến thiên không ngừng, đặc biệt những phạm
trù khác như uy tín của DN, giá trị độc quyền của thương hiệu... là những tài sản vô
hình, không biết tính bằng cách nào. Người ta mua cổ phiếu là mua giá trị DN,
nhưng nhà nước lại chưa có một quy định nào xác định giá trị của thương hiệu, tính
độc quyền của sản phẩm để tính vào giá trị tài sản, là một thiệt thòi cho DN khi cổ
phần hóa.
Đến nay, vẫn còn nhiều DN băn khoăn về sự phân biệt đối xử với công ty cổ
phần, đặc biệt là trong các hoạt động như vay vốn ngân hàng, khoanh nợ, giãn nợ,
miễn giảm thuế, đầu tư xây dựng, giao đất, thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất,
xuất nhập cảnh... khiến cho DNNN không nhiệt tình cổ phần hóa. Trong khi đó, về
hậu cổ phần hóa, công nợ rất khó đòi, nhưng DN lại không có sự hỗ trợ nào từ phía
nhà nước như trước đây. Các vẫn đề khác như nâng lương, chế độ thôi việc một lần
cho 3 chức danh như giám đốc, phó giám đốc và kế toán trưởng hiện vẫn còn
vướng mắc, vì không thể giải quyết theo diện cán bộ công chức nghỉ việc như Nghị
định 16 hay 41.
Chính những băn khoăn do vướng mắc trên đây khiến cho rất nhiều DN đắn
đo trong việc tham gia sắp xếp lại DNNN. Nhiều DN vẫn muốn giữ lại DN quốc
doanh. Tuy nhiên một số vướng mắc có thể thiếu cơ chế giải quyết, nhưng việc sắp
xếp lại DNNN là mục tiêu hoàn toàn đúng đắn. Nhiều DN sau khi cổ phần hóa đã
phát huy hiệu quả, có DN sau vài năm đã thu hồi vốn, giải quyết việc làm cho
người lao động. Sắp tới đây, sẽ có yếu cầu về tiến độ thực hiện, cho địa phương,
DN.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một kết quả cụ thể nhất là cổ phần hoá giúp DN tăng doanh thu 2 lần, các
DNNN thực hiện cổ phần hoá có cổ tức đạt 2%/tháng, vốn tăng trung bình gấp 2,5
của các sản phẩm quan trọng của đất nước trên thị trường thế giới.
- Thực hiện phân phối có lợi cho những người có thu nhập thấp, tạo lập ổn
định về xã hội trong giai đoạn nên kinh tế đang lâm vào tình trạng trì trệ, khủng
hoảng.
ở nhóm các nước đang phát triển, ngoài hai mục tiêu trên còn bổ sung thêm
một số mục tiêu mang tính đặc thù là:
- Giảm các khoản nợ nước ngoài đang ngày càng tăng do phải bù đắp các
khoản thâm hụt ngân sách để trợ cấp cho các DNNN.
-Thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, đổi mới kỹ thuật và học tập quản lý,
tạo ra nền kinh tế mở cửa, tăng sức cạnh tranh của các DNNN, nâng cao chất lượng
hàng hoá và dịch vụ trong nước.
- Tạo dựng và phát triển một thị trường tài chính trong nước hoàn chỉnh, bao
gồm thị trường tư bản, tài chính chứng khoán và tài chính tiền tệ.
ở nhóm các nước Đông Âu dưới chính thể mới, ngoài hai mục tiêu trên còn
thêm ba mục tiêu sau:
- Giảm nhanh tỷ trọng kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế, xoá bỏ hệ thống kế
hoạch tập trung cao độ đang gây ra tình trạng kém hiệu quả của toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh và đẩy nền kinh tế đến chỗ khủng hoảng.
- Tạo lập hệ thống kinh tế thị trường và tăng nhanh kinh tế cổ phần hoá trong
nền kinh tế thị trường hỗn hợp có điều tiết của Nhà nước.
- Xoá bỏ can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp,
chuyển DNNN thành đơn vị sản xuất hàng hoá có quyền tự chủ kinh doanh, đặc
biệt là tự chủ về tài chính.
25