ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đ
Đ
I
I
N
N
H
HQ
Q
U
U
A
A
N
N
G
GT
T
H
C
C
H
H
Ủ
ỦY
Y
Ế
Ế
U
UN
N
H
H
Ằ
Ằ
M
MĐ
Đ
V
V
I
I
Ệ
Ệ
C
CL
L
À
À
M
MC
C
Ủ
Ủ
A
AL
L
A
A
N
NH
H
U
U
Y
Y
Ệ
Ệ
N
NĐ
Đ
Ồ
Ồ
N
N
G
GH
H
Ỷ
Ỷ
Ê
Ê
N
NCHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.31.10
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
Thái Nguyên, 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đ
Đ
I
I
N
N
H
HQ
Q
U
I
IP
P
H
H
Á
Á
P
PC
C
H
H
Ủ
ỦY
Y
Ế
Ế
U
U
U
UC
C
Ầ
Ầ
U
UV
V
I
I
Ệ
Ệ
C
CL
L
À
À
M
M
N
N
G
GT
T
H
H
Ô
Ô
N
NH
H
U
U
Y
Y
Ệ
Ệ
N
NĐ
Đ
I
IN
N
G
G
U
U
Y
Y
Ê
Ê
N
NCHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.31.10 L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
N
N
N
H
HT
T
Ế
Ế
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ NGÔ XUÂN HOÀNG
Thái Nguyên, 2008
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội có tính
toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, quan
điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn
và bệnh nghề nghiệp cho ngƣời lao động. Khôi phục và phát triển các làng
nghề… sớm xây dựng và thực hiện chính sách trợ cấp cho ngƣời lao động
thất nghiệp” [dt 16,tr.140,150]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho
nông dân và cho lao động nông thôn, nhất là các vùng nhà nƣớc thu hồi đất để
xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở phi nông nghiệp. Đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỉ trọng lao động làm
nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. Tạo điều
kiện cho lao động nông thôn có việc làm…” [dt 14,tr.195]
Trong thời gian qua tỉnh Thái Nguyên đã có một số biện pháp nhằm
giải quyết vấn đề việc làm trong lao động nông thôn, nhƣng qua thực tiễn cho
thấy cũng chỉ giải quyết đƣợc một số vấn đề nhỏ.
Huyện Đồng Hỷ là một huyện phần lớn là sản xuất nông nghiệp, trình
độ sản xuất nông nghiệp còn thấp và là nơi tập trung các dân tộc thiểu số, tình
hình kinh tế - xã hội chƣa thực sự phát triển, vấn đề lao động nông thôn dƣ
thừa đang còn là những bất cập cần đƣợc giúp đỡ và giải quyết.
Xã hội ngày càng phát triển mạnh nhƣng ở Đồng Hỷ vẫn chƣa có giải
pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề việc làm nông thôn, xuất phát từ những lí
do trên tác giả lựa chọn đề tài: "Giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu
việc làm của lao động nông thôn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên" làm
đề tài luận văn thạc sĩ.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về việc làm của lao động nông thôn
huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, sẽ thấy có những ƣu điểm, những tồn tại
và tiềm năng về lao động và việc làm, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
giải quyết nhu cầu việc làm để nâng cao chất lƣợng cuộc sống con ngƣời lao
nông thôn và phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 2: Thực trạng việc làm của ngƣời lao động nông thôn huyện
Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm
cho lao động nông thôn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƢỜI LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1.1. Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu việc làm cho ngƣời lao động
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về lao động và việc làm
* Khái niệm về lao động và lao động nông thôn
+ Lực lƣợng lao động: Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về
lực lƣợng lao động.
Theo từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô (cũ),
(Matxcơva 1997, tiếng Nga) lực lƣợng lao động là khái niệm định lƣợng của
lao động .
Theo từ điển thuật ngữ Pháp (1997-1985) lực lƣợng lao động là số
lƣợng và chất lƣợng những ngƣời lao động đƣợc quy đổi theo các tiêu chuẩn
trung bình về khả năng lao động có thể sử dụng.
Nhà kinh tế học David Begg cho rằng : Lực lƣợng lao động có đăng ký
bao gồm số ngƣời có công ăn việc làm cộng với số ngƣời thất nghiệp có đăng ký.
Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lƣợng lao động là một bộ phận
dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những ngƣời
không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
6
Không có việc làm
Muốn làm việc
Không muốn làm việc
viẹc
- Chủ động tìm việc
- Sẵn sàng làm việc
Không chủ động tìm
việc
Lực lƣợng lao động
Không thuộc lực lƣợng
lao động
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Lao động: Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau
nhƣng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con ngƣời, phân biệt
con ngƣời với con vật và xã hội loài ngƣời và xã hội loài vật, bởi vì: Khác với
con vật, lao động của con ngƣời là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động
vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục
vụ cho nhu cầu đời sống của con ngƣời. Theo C.Mác “Lao động trƣớc hết là
một quá trình diễn ra giữa con ngƣời và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng
hoạt động của chính mình, con ngƣời làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự
trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [dt 37,tr.230,321].
Ph.Ăng ghen viết: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động
đúng là nhƣ vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho
lao động đem biến thành của cải. Nhƣng lao động còn là một cái gì vô cùng
lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời
sống loài ngƣời, và nhƣ thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng
ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài ngƣời” [dt 38,tr.641].
Nhƣ vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của
con ngƣời, trong quá trình lao động con ngƣời vận dụng sức lực tiềm tàng
và những ngƣời thất nghiệp.
Theo giáo trình Kinh tế phát triển, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
Nội (2005), ở nƣớc ta hiện nay thƣờng sử dụng khái niệm sau: “Lực lƣợng lao
động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những ngƣời thất
nghiệp” [dt 5,tr.168]. Lực lƣợng lao động theo quan niệm nhƣ trên là đồng
nghĩa với dân số hoạt động kinh tế (tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế
về cung ứng lao động của xã hội.
+ Thị trƣờng lao động
Nƣớc ta, từ khi chuyển sang vận hành theo nền kinh tế thị trƣờng, thì
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thuật ngữ “Thị trƣờng lao động” đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với
nhiều khái niệm khác nhau. Mỗi định nghĩa nhấn mạnh vào một phƣơng diện
nào đó của thị trƣờng này.
Đề tài cấp nƣớc KX 04-04 cho rằng: Thị trƣờng lao động là toàn bộ các
quan hệ lao động đƣợc xác lập trong lĩnh vực thuê mƣớn lao động (bao gồm
các mối quan hệ lao động cơ bản nhƣ: Tiền lƣơng, tiền công, bảo hiểm xã hội,
tranh chấp lao động ) ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là
ngƣời lao động tự do và một bên là ngƣời sử dụng lao động.
Tổng quan khoa học đề tài cấp bộ (2003-2004), Thị trường lao động
Việt Nam thực trạng và giải pháp, của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, đƣa ra khái niệm “Thị trƣờng lao động là một bộ phận của hệ thống thị
trƣờng, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là ngƣời lao động tự
do và một bên là ngƣời có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi này đƣợc
thoả thuận trên cơ sở các mối quan hệ lao động nhƣ tiền công, tiền lƣơng,
điều kiện việc làm, bảo hiểm xã hội thông qua một hợp đồng lao động bằng
văn bản hoặc bằng miệng” [dt 52,tr.5].
Giáo trình của Khoa kinh tế lao động, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc
dân Hà Nội cũng đƣa ra một số khái niệm về thị trƣờng lao động nhƣ sau:
Là một không gian trao đổi tiến tới thoả thuận giữa ngƣời sở hữu sức
Số lƣợng cung lao động có thể xem xét qua 2 khía cạnh:
Cung thực tế lao động: Bao gồm tất cả những ngƣời trong độ tuổi lao
động đang làm việc và những ngƣời thất nghiệp, cung thực tế về lao động
chính là lực lƣợng lao động xã hội hay dân số hoạt động kinh tế.
Cung tiềm năng về lao động: Bao gồm tất cả những ngƣời trong độ tuổi
lao động và những ngƣời thất nghiệp, những ngƣời trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
mình hoặc không có nhu cầu làm việc.
+ Cầu về lao động: Là khả năng thuê mƣớn lao động trên thị trƣờng lao
động với các mức tiền lƣơng, tiền công tƣơng ứng.
Cầu cũng nhƣ cung, cầu về lao động cũng phải đƣợc xem xét trên hai
khía cạnh: Cầu thực tế và cầu tiềm năng.
Cầu thực tế về lao động: “Là nhu cầu thực tế cần sử dụng lao động tại
một thời điểm nhất định” [ dt 52,tr.8].
Cầu thực tế
về lao động
=
Chỗ việc làm cũ
đƣợc duy trì
+
Chỗ việc làm
bị trống
+
Chỗ việc
làm mới
Chỗ làm việc trống: Là chỗ làm việc đã từng sử dụng lao động, nay
không có lao động làm việc và đang có nhu cầu sử dụng lao động.
Chỗ làm việc mới: Là chỗ làm việc mới xuất hiện và đang có nhu cầu
2
D
2
là sự thiếu hụt về lao động.
Nhƣ vậy, theo quy luật của thị trƣờng lao động thì giá cả tiền công luôn có xu
hƣớng trở về U
0
P
0
để cung và cầu về lao động đƣợc cân bằng.
UP
S
L
U
1
P
1
U
0
P
0
U
2
P
2
S
1
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Sơ đồ 1.2 Tƣơng quan cầu cung lao động và các nhân tố tác động
+ Lao động nông thôn
Lao động nông thôn là những ngƣời thuộc lực lƣợng lao động và hoạt
động trong hệ thống kinh tế nông thôn [5.5].
- Đặc điểm của lao động nông thôn
việc
làm
Các chính sách (dân
số , y t ế , giáo dục,
di dân, k ế
hoạch hóa gia
đình….)
Hệ thống đòn bẩy kinh
tế kích thích lao động
(tiền lƣơng, thuế,giá….)
Luật lệ, quy chế lao
động
Bảo trợ xã hội đối với
ng ƣời lao động
Giáo dục hƣớng
nghiệp, đào tạo lại
chuyờn mụn, kỷ luật
Điều kiện lao động
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau: Trình độ thể lực
hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều này ảnh hƣởng đến
năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế. Trình độ văn hoá, khoa học
kỹ thuật cũng nhƣ trình độ tiếp cận thị trƣờng thấp. Đặc điểm này cũng ảnh
hƣởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động. Lao động nông thôn nƣớc
ta còn mang nặng tƣ tƣởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi
nên thƣờng bảo thủ và thiếu năng động.
Tất cả những hạn chế trên cần đƣợc xem xét kỹ khi đƣa ra giải pháp tạo
việc làm cho lao động nông thôn.
+ Năng suất lao động:
- Khái niệm về việc làm
Việc làm là mối quan tâm số một của ngƣời lao động và giải quyết việc
làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân
và gia đình ngƣời lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự tồn tại
và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách
giải quyết việc làm. Với tầm quan trọng nhƣ vậy, việc làm đƣợc nghiên cứu
dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ kinh tế, xã hội học, lịch sử Khi nghiên
cứu dƣới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phƣơng thức lao động kiếm
sống của con ngƣời và xã hội loài ngƣời. Các nhà kinh tế coi sức lao động
thông qua quá trình thực hiện việc làm của ngƣời lao động là yếu tố quan
trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập của ngƣời lao động từ
việc làm.
Ở Việt Nam trƣớc đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao
cấp, ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm và đƣợc xã hội thừa nhận, trân
trọng là ngƣời làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (Quốc
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp
Ngày nay các quan niệm về việc làm đã đƣợc hiểu rộng hơn, đúng đắn
và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con ngƣời nhằm tạo ra thu nhập, mà
không bị pháp luật cấm. Điều 13, chƣơng II Bộ luật Lao động Nƣớc cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn
thu nhập không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm” [43,tr.42].
Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động đƣợc hiểu nhƣ sau:
Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng hoặc hiện vật cho
công việc đó.
Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu
nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không đƣợc trả
công bằng hiện vật.
ILO cũng khuyến nghị các nƣớc dùng khái niệm ngƣời thiếu việc làm
hữu hình (Dạng nhìn thấy đƣợc) và dạng ngƣời thiếu việc làm vô hình (khó
xác định).
Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tƣợng ngƣời lao
động làm việc có thời gian ít hơn thƣờng lệ, họ không đủ việc làm đang tìm
kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc.
Tình trạng việc làm hữu hình đƣợc biểu thị bởi hàm số sử dụng thời
gian lao động nhƣ sau:
Số giờ làm việc thực tế
K = X 100% (Tính theo ngày, tháng, năm)
Số giờ quy định
Thiếu việc làm vô hình: Là những ngƣời có đủ việc làm, làm đủ thời
gian thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thƣờng nhƣng thu nhập thấp,
nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của ngƣời lao
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi,
tổ chức lao động kém. Thƣớc đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu
nhập thấp hơn mức lƣơng tối thiểu.
Nguyên nhân thiếu việc làm:
Do nền kinh tế chậm phát triển, diện tích đất nông nghiệp bình quân
đầu ngƣời thấp và giảm dần do đô thị hoá.
Do lực lƣợng lao động tăng quá nhanh, trong khi đó số chỗ làm việc
mới tạo ra quá ít, do trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề của ngƣời lao
động còn thấp kém.
Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tƣ chƣa hợp
lý, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ đƣợc
* Khái niệm về thất nghiệp
Theo khái niệm của tổ chức lao động Quốc Tế (ILO), thất nghiệp (Theo
nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số ngƣời trong độ tuổi lao động
giữa cầu-cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng
sản lƣợng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh,
tổng giá trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lƣợng cầu
đối với các đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp này, những
chính sách nhằm khuyến khích tăng cầu thƣờng mang lại kết quả tích cực.
Xét về tính chủ động của ngƣời lao động, thất nghiệp có thể chia
thành:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó
ngƣời lao động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh
con) thất nghiệp loại này thƣờng gắn với thất nghiệp tạm thời.
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công
nào đó ngƣời lao động chấp nhận nhƣng vẫn không đƣợc làm việc do kinh tế
suy thoái, cung về lao động lớn hơn cầu về lao động.
Ngoài thất nghiệp hữu hình bao gồm thất nghiệp tự nguyện và không tự
nguyện còn tồn tại thất nghiệp trá hình:
Thất nghiệp trá hình: Là hiện tƣợng xuất hiện khi ngƣời lao động đƣợc
sử dụng ở dƣới mức khả năng mà bình thƣờng ngƣời lao động sẵn sàng làm
việc. Hiện tƣợng này xẩy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó
thấp. Thất nghiệp loại này thƣờng gắn với việc sử dụng không hết thời gian
lao động.
Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành :
Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của lao động nam (hoặc nữ).
Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào
đó trong tổng số lực lƣợng lao động.
Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tƣợng thất nghiệp xẩy ra
thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi ).
Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xẩy ra ở một
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào
cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản, đó là sức lao động, tƣ liệu lao
động và đối tƣợng lao động, là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động
diễn ra. Thực vậy, tƣ liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục
vụ cho nhu cầu cần thiết của con ngƣời và xã hội, nếu nhƣ không có sự kết
hợp của sức lao động.
C.Mac và P.Ăng Ghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các
yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài ngƣời và là hoạt động cơ bản nhất
trong tất cả các hoạt động của con ngƣời.
Ngày nay, con ngƣời với trình độ khoa học công nghệ cao là một thành
tố quan trọng của lực lƣợng sản xuất cũng nhƣ trong công cuộc xây dựng đổi
mới đất nƣớc, các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta là chăm sóc, bồi
dƣỡng và phát huy nhân tố con ngƣời với tƣ cách vừa là động lực, vừa là mục
tiêu chung của cách mạng. Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con ngƣời nhƣ
là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nƣớc. Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào cần
chăm sóc để phát triển. Đầu tƣ vào con ngƣời và phát huy nguồn lực con
ngƣời là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững.
- Việc làm đối với ngƣời lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là
yếu tố khách quan của ngƣời lao động. Con ngƣời tồn tại phải đƣợc tiêu dùng
một lƣợng tƣ liệu sinh hoạt nhất định nhƣ: Thức ăn, đồ mặc, nhà ở, học tập,
phƣơng tiện đi lại Để có những thứ đó con ngƣời phải sản xuất và tái sản
xuất với quy mô ngày càng mở rộng. Nhƣ vậy, để tồn tại và phát triển con
ngƣời bằng sức lao động của mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực
lƣợng sản xuất cơ bản nhất tạo ra giá trị hàng hoá dịch vụ.
Sự phát triển kinh tế, xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ
con ngƣời làm cho cuộc sống mỗi ngƣời ngày càng tốt đẹp hơn, xã hội ngày
ngƣời, chiếm 80% lao động nông thôn; năm 2005 tăng lên gần 27 triệu ngƣời.
Nhƣ vậy, trung bình mỗi năm lao động nông nghiệp tăng thêm khoảng 45 vạn
ngƣời trong khi đó diện tích đất nông nghiệp lại giảm xuống kéo theo giảm
việc làm cho nông dân. Ruộng đất ít, lao động thừa, việc làm thiếu và thu
nhập thấp, đời sống nông dân còn nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn
và thành thị có xu hƣớng gia tăng. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế