Luận văn: Luận văn Nghiên cứu sử dụng hợp lý phân hữu cơ kết hợp phân khoáng đối với cây lúa trên đất bạc màu Bắc Giang - Pdf 15


Luận văn
Nghiên cứu sử dụng hợp lý phân
hữu cơ kết hợp phân khoáng
đối với cây lúa trên đất bạc màu
Bắc Giang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác từ trước tới nay.
Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luân văn này đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả

TrÇn ThÞ Thu Trang

MC LC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3

Trang phụ bìa
Trang
Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục………………………………………………………………

Danh mục, các ký hiệu, chữ viết tắt…………………………………

Danh mục các bảng…………………………………………………

Danh mục các đồ thị…………………………………………………

MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. Cơ sở khoa học…………………………………………………
4

42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
3.4. Kết quả sử dụng phối hợp phân hữu cơ và phân khoáng ………
44
3.4.1. Ảnh hưởng của bón phối hợp phân hữu cơ và phân khoáng đến
sinh trưởng, phát triển ………………………………………….
44
3.4.2. Ảnh hưởng của bón phối hợp phân hữu cơ và phân khoáng đến
các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ……………………….
53
3.4.3. Hiệu suất sử dụng phân chuồng đối với cây lúa………….
65
3.4.4. Hiệu quả nông học của việc bón phối hợp ……………………
68
3.4.5. Ảnh hưởng của bón kết hợp phân khoáng và phân hữu cơ đến
một số tính chất đất sau thí nghiệm………………………
73
3.4.5. Ảnh hưởng của bón kết hợp phân khoáng và phân hữu cơ đến
cân bằng dinh dưỡng ………………
76
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
79
4.1. Kết luận
79
4.2. Đề nghị
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
PHỤ LỤC

Kg
Kil«gam
6
N
§¹m tæng sè
7
NS h¹t
N¨ng suÊt h¹t
8
NSLT
N¨ng suÊt lý thuyÕt
9
NSTL
Năng suất thân lá
10
NSSVH
N¨ng suÊt sinh vËt häc
11
P c.khô
Trọng lượng chất khô
13
P1000 h¹t
Träng l-îng trªn ngh×n h¹t
14
P
2
O
5
L©n tæng sè
15

6
Bảng 2.1: Một số tính chất lý, hoá học đất trước thí nghiệm
Bảng 2.2: Hàm lượng N, P
2
O
5
và K
2
O tổng số trong phân chuồng
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2006 và dự kiến
đến năm 2010 của tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.2: Kết quả điều tra lượng phân bón và năng suất lúa xuân
năm 2007 tại huyện Tân Yên và Hiệp Hoà, Bắc Giang.
Bảng 3.3: Kết quả điều tra lượng phân bón và năng suất lúa mùa năm
2007 tại huyện Tân Yên và Hiệp Hoà, Bắc Giang.
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chiều cao cây lúa
Khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khả năng đẻ
nhánh của cây lúa Khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến trọng lượng
chất khô của cây lúa Khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến yếu tố cấu thành
năng suất lúa khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang.
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến năng suất hạt và
năng suất thân lá lúa khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang vụ xuân
năm 2008.
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến năng suất hạt và
năng suất thân lá lúa khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang vụ mùa
2008.
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của bón phối hợp phân hữu cơ và phân

67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
đất bạc màu Bắc Giang
3.12.a: Hiệu suất của bón phân chuồng trên nền bón 100%NPK
3.12.b: Hiệu suất của bón phân chuồng trên nền không bón phân
3.13: Hiệu quả kinh tế của các mức đầu tư phân bón cho cây lúa
khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang vụ xuân 2008
3.13.a: Hiệu quả kinh tế trên nền không bón phân khoáng và bón đơn
phân chuồng
3.13.b: Hiệu quả kinh tế trên nền NPK và NPK phối hợp với phân
chuồng.
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của công thức phân bón đến một số tính chất
hoá học đất.
Bảng 3.15: Vai trò của phân hữu cơ trong cân bằng dinh dưỡng 67
67
69

69

70

74

77
71
75 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Më ®Çu
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza Sativa L) có vai trò quan trọng trong đời sống con người
và là cây lương thực chính cho 1/2 dân số trên thế giới. Có nguồn gốc từ
Đông Nam Á, hiện nay cây lúa đã lan truyền ra nhiều nơi.
Ở Việt Nam, sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển nông nghiệp. Kinh

và cải tạo độ phì nhiêu đất là một vấn đề cần được quan tâm. Việc đầu tư
phân bón là một trong những biện pháp quan trọng để giải quyết vấn đề này.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học trong nước và
thế giới, người nông dân chủ yếu sử dụng phân hoá học với liều lượng cao mà
quên đi vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp. Tính tiện lợi và
hiệu lực nhanh chóng đối với cây trồng của phân khoáng đã làm lu mờ dần
vai trò của phân hữu cơ trên đồng ruộng dẫn đến hàm lượng mùn trong đất
không được cải thiện. Việc sử dụng phân khoáng cao trong điều kiện mùn
thấp dẫn đến sự mất đạm, rửa trôi lân và kali diễn ra nhiều hơn. Do đó sử
dụng hợp lý giữa phân khoáng và phân hữu cơ để tiết kiệm mức đầu tư phân
bón, không làm ô nhiễm môi trường, đảm bảo năng suất và thu được hiệu
quả kinh tế cao, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất, đảm bảo sức sản xuất lâu
bền, tiến tới một nền nông nghiệp bền vững trên đất bạc màu Bắc Giang
chính là vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, nhằm bổ sung để hoàn thiện hơn qui trình
kỹ thuật canh tác cho cây lúa trên đất bạc màu, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài:
“Nghiên cứu sử dụng hợp lý phân hữu cơ kết hợp phân khoáng
đối với cây lúa trên đất bạc màu Bắc Giang”.
2. Mục đích của đề tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Xác định được ảnh hưởng của việc bón kết hợp giữa phân hữu cơ và
phân khoáng đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa trên đất bạc màu
Bắc Giang.
- Nâng cao hiệu lực phân bón, tiết kiệm phân hoá học nhằm giảm ô nhiễm
đối với môi trường và tăng hiệu quả kinh tế của cây trồng.
- Kết hợp sử dụng phân hữu cơ và phân khoáng nhằm nâng cao năng suất
lúa trên đất bạc màu Bắc Giang và đảm bảo môi trường bền vững trong sản
xuất nông nghiệp.

chủ yếu vào phân khoáng mà ít chú ý đến phân hữu cơ (một yếu tố đặc biệt
cần thiết trên đất bạc màu để nâng cao hàm lượng mùn trong đất và tăng khả
năng hấp thu dinh dưỡng của cây trồng). Lượng phân khoáng sử dụng trong
nhiều năm mà không có chế độ bổ sung lượng phân hữu cơ hợp lý nên đã gây
hậu quả là làm giảm hàm lượng chất hữu cơ của đất, rửa trôi các chất kiềm
dẫn đến đất bị chua nhanh chóng và làm sụt giảm nghiêm trọng chất dinh
dưỡng dẫn đến các yếu tố dinh dưỡng trong đất bị thiếu hụt so với nhu cầu đòi
hỏi của cây trồng. Năng suất cây trồng kém xa so với tiềm năng của chúng. Vì
vậy, để đảm bảo an toàn lương thực và nâng cao năng suất lúa trên đất bạc
màu, yếu tố cơ bản là tạo được cho đất một nền hữu cơ - khoáng để có thể bảo
toàn chất dinh dưỡng có sẵn, tiếp nhận có hiệu quả phân bón đưa vào cũng
như cải thiện năng suất lâu dài. Nghiên cứu chiến lược mới trong việc sử dụng
chất hữu cơ như là phân bón trong sản xuất lúa trên đất bạc màu, tác giả Phạm
Tiến Hoàng [18] đã kết luận:
Dùng chất hữu cơ như nguồn phân bón trong sản xuất lúa trên phạm vi
rộng đối với đất bạc màu là điều rất cần thiết.
Trên đất bạc màu nếu không bón phân hữu cơ (phân chuồng) thì không
thể cho năng suất lúa cao dù bón lượng phân khoáng cao, tăng lượng phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
chuồng bón cho lúa có thể tiết kiệm được phân khoáng.
Trần Thúc Sơn, Đặng văn Hiến (1995) [29] đã kết luận trên đất bạc màu
sử dụng phối hợp phân chuồng với phân hoá học cho hiệu quả rất cao đối với
cây lúa. Bón cân đối giữa phân khoáng và phân chuồng không những giúp cây
sinh trưởng phát triển tốt mà còn nâng cao năng suất cây trồng, nâng cao hiệu
quả sử dụng dinh dưỡng của cây.
Những công trình nghiên cứu

nêu trên đã chỉ ra được vai trò cũng như mối
quan hệ giữa phân hữu cơ và phân khoáng đối với cây lúa. Tuy nhiên trong thực

khác với 3 phương thức trên như: cấy mạ non, gieo vãi đều trực tiếp trên
ruộng vẫn cho năng suất cao nếu có biện pháp kỹ thuật thâm canh tốt.
* Thời gian cấy
Thời gian cấy là một yếu tố vô cùng quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất lúa (Nguyễn Thị Lẫm, 2003 [21]). Tuỳ theo vùng, miền, nhiệt
đô, ánh sáng lượng mưa và đất đai mà chúng ta bố trí thời gian gieo cÊy khác
nhau để tận dụng những cơ hội cho lúa đẻ nhánh, phân hoá đòng, trỗ bông và
chín trong điều kiện tối ưu. Ở miền núi phía Bắc và Trung du Bắc Bộ, đồng
bằng sông Hồng nên áp dụng các khung thời vụ như sau:
Vụ lúa xuân sớm (giống dài ngày): Gieo tháng 11, cấy tháng 12, thu
hoạch tháng 5, 6.
Vụ lúa xuân chính vụ (giống trung bình): Gieo tháng 12, cấy tháng 1,
thu hoạch tháng 5, 6.
Vụ lúa xuân muộn (giống ngắn ngày): Gieo tháng 1, cấy tháng 2, 3 thu
hoạch tháng 5, 6.
Vụ lúa mùa sớm (giống ngắn ngày): Gieo tháng 5, 6; cấy tháng 6,7 thu
hoạch tháng 9,10.
Vụ lúa mùa chính vụ (giống dài ngày): Gieo tháng 6, cấy tháng 7, thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
hoạch tháng 11.
* Mật độ cấy
Mật độ cấy là số cây, số khóm được gieo, trồng trên 1 đơn vị diện tích.
Với lúa cấy thì mật độ được đo bằng số khóm/m
2
, còn với lúa gieo thẳng thì
mật độ được đo bằng số hạt mọc/m
2
. Đối với lúa lai cũng như lúa thuần năng
suất được quyết định bởi số bông/m

16
nghiệp và Sinh lý thực vật” (Trích dẫn theo Vũ Hữu Yêm, 1995) [41]. Với
tác phẩm này ông đã khẳng định, tất cả các cây trồng đều cần được nuôi
dưỡng bằng các nguyên tố ở dạng khoáng (vô cơ), từ kết quả nghiên cứu của
ông mà ngành nông nghiệp đã có một bước tiến kỳ diệu.
Hàng năm, sản lượng cây trồng tăng trên thế giới theo tính toán của
IFPRI (1996) là có 80% nhờ vào việc tăng năng suất, trong đó có phần đóng
góp không nhỏ của phân bón (Trích dẫn theo Nguyễn Văn Bộ. 2003) [2]. Rõ
ràng phân hoá học đã thực sự có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho
cây trồng những chất dinh dưỡng cần thiết mà đất không đủ khả năng đáp
ứng, đồng thời góp phần vào việc duy trì độ phì nhiêu đất trong quá trình canh
tác.
Sự ra đời của các giống lúa mới, cao sản, đặc biệt là các giống lúa lai
có tiềm năng năng suất cao đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng là rất cao, gấp 3 lần
các giống lúa cũ (De Dattail, 1984[46]). Sự bón phân mất cân đối là nguyên
nhân chính dẫn đến không phát huy hết tiềm năng năng suất của giống.
Những giống lúa năng suất cao phổ biến hiện nay với năng suất 5 tấn/ha và
lượng rơm rạ tương đương trên 1ha sẽ lấy đi 110 kg N; 105kg P
2
O
5
; 130kg
K
2
O; 14kg Ca; 12kg Mg; 5kg S; 1kg Fe; 2kg Mn; 0,2kg Zn; 0,15kg Cu;
0,15kg, Bo; 250kg Si và 25kg Cl từ đất (Pillai K.G, 1996[54]).
1.3. Tổng quan về đất bạc màu trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới tổng diện tích đất bạc màu khoảng 800 triệu ha (chiếm
gần 8% diện tích đất bề mặt của trái đất) và tập trung phần lớn ở vùng nhiệt
đới như: Đông Nam Á, Tây Phi, Trung Nam Mỹ Điều kiện hình thành do

2
0
5
và K
2
0 dễ tiêu thấp
4-6mg/100g đất và 1-4mg/100g đất, dung tích hấp thu thấp và có chiều hướng
tăng ở tầng tích tụ (60- 70 cm), khả năng trao đổi cation kém. Đây là loại đất
có chủng loại vi sinh vật cũng như số lượng vi sinh vật sống trong đất thấp
hơn nhiều so với các loại đất khác (Thái Phiên, 1998; Mai Văn Quyền, 1990
[24 ;27]). Loại đất này thường tập trung ở các tỉnh Trung du miền núi phía
Bắc có mùa hè nóng ẩm mưa nhiều cho nên thường bị tác động của nhiều quá
trình, điển hình là quá trình rửa trôi do mưa lũ cho nên hàm lượng dinh dưỡng
trong đất sẽ ngày càng nghèo kiệt nếu không có biện pháp bón phân cân đối
và hợp lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Tỉnh Bắc Giang có 42.897,84ha đất bạc màu (chiếm 11,22% tổng diện
tích đất tự nhiên) nhưng có tới 38.369ha đất bạc màu nằm trong diện tích đất
nông nghiệp (chiếm 38,9% diện tích đất sản xuất nông nghiệp) và phân bố
chủ yếu ở các huyện Lục Nam, Tân Yên, Lạng Giang, Việt Yên và Hiệp Hoà.
Đây là các huyện Trung du đồi núi thấp, phần lớn là ruộng bậc thang có độ
dốc từ 3 -8
0
, trước đây người dân chủ yếu độc canh cây trồng lại không có
biện pháp sử dụng đất hợp lý nên độ phì nhiêu của đất ngày càng bị suy giảm
[26 ]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sức, (1995) [31] về tính chất đất bạc màu
ở vùng Bắc Giang đã cho thấy đây là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, thành
phần cơ giới nhẹ, hàm lượng hữu cơ: 0,93%, N: 0,05% ; P
2

dinh dưỡng thường được cây lấy từ một số nguồn như: từ phân khoáng và
phân hữu cơ bón vào, từ phế phụ phẩm nông nghiệp vùi lại, từ môi trường, từ
đất, nước tưới…

Dinh dưỡng cho lúa cũng được chia ra làm 3 nhóm chính: đa lượng, trung
lượng và vi lượng. Tuy nhiên lượng dinh dưỡng mà cây lúa sử dụng nhiều và
có vai trò quan trọng nhất là các yếu tố dinh dưỡng đa lượng như: đạm, lân,
kali. Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng đối với
cây lúa các nhà khoa học trên thế giới đã tổng kết như sau:
1.4.1.1. Những nghiên cứu về đạm đối với cây lúa
Đạm là một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng hàng đầu của cây
lúa, bón phân đạm ít năng suất thấp, bón quá nhiều chẳng những lãng phí mà
còn tác động xấu tới sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Đạm không chỉ là
nguồn nitơ mà còn là chất hoạt động sinh lý, nhu cầu đạm của cây lúa có tính
chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch.
Theo Yoshida.S, (1976) [59] lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết
N:P:K
bãn
Ph©n bãn
M«i tr-êng
N-íc t-íi
Ph©n chuång
PhÕ phô phÈm
§Êt
Một số nguồn cung cấp dinh dƣỡng cho cây lúa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20

năng về suất lúa trong mùa khô ở các trại nghiên cứu của IRRI từ năm 1968 –
1991 ở mức bón đạm 150kg/ha. Tuy nhiên. khi mức đạm bón tăng đến 190kg/ha
năm 1992 và 216kg/ha năm 1993, năng suất cao nhất từ các công thức này cao
hơn mức năng suất đạt được vào năm 1989 – 1991 là 40% [47].
Theo Yoshida. S, (1976) [59] thì cây lúa có hai thời kỳ khủng hoảng đạm:
thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ phân hoá đòng (PI). Nếu thiếu đạm ở thời kỳ đẻ
nhánh sẽ ảnh hưởng số dảnh, số bông/m
2
. Thiếu đạm ở thời kỳ PI ảnh hưởng đến
số hạt/bông. Tuy vậy việc cung cấp đạm cho cây lúa còn phụ thuộc vào khả năng
cung cấp đạm từ đất, từ nguồn nước tưới, khả năng cố định đạm của vi sinh vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
trong đất, của môi trường và phân chuồng. Mức độ cung cấp đạm lại tuỳ thuộc
vào mùa vụ, vụ xuân nhiệt độ thấp khả năng khoáng hoá kém hơn vụ mùa.
1.4.1.2. Những nghiên cứu về lân cho lúa
Lân là loại phân đa lượng rất cần thiết cho cây trồng nói chung và cây lúa
nói riêng. Lân ở trong đất tồn tại dưới dạng hợp chất hữu cơ và hợp chất
khoáng, lân là một loại phân khó tiêu phải có thời gian mới phân huỷ hết và ít
bị rửa trôi.
Qua nghiên cứu Suichi Yoshida, (1976) [59] cho rằng thiếu lân là
nguyên nhân chủ yếu làm giới hạn đỉnh cao năng suất của các giống lúa mới
hiện nay. Khi các giống lúa mới chưa ra đời, ở nhiều nước trên thế giới thấy
bón lân cho lúa làm tăng năng suất không nhiều.
Nhóm tác giả Lafitan, Lafeve Coyouda, Malyc cho rằng ở đất nhiệt đới
do giầu sắt và nhôm nên khi bón lân vào đất, phần lớn lân chuyển sang dạng
khó tan cây lúa không sử dụng được (dẫn Đỗ Ánh 1996 [1]).
Theo Katyal, (1978) các giống lúa mới như IR36 có năng suất 9,8
tấn/ha lấy đi từ đất 31 kg P/ha trong khi đó đất chỉ đáp ứng được 3-11 kgP/ha.
Đồng thời thì hiệu lực của lân phụ thuộc vào giống, tính chất đất đai, hàm

nhau trên thế giới dao động từ 35 – 50 kg K
2
O, trung bình là 44kg K
2
O trong
đó chỉ khoảng 20% tổng lượng kali cây hút là được vận chuyển vào hạt, lượng
còn lại được tích luỹ trong các bộ phận khác của cây (trong rơm rạ).
Nghiên cứu của H.M. Trung (1994) 60 cho thấy K làm giảm tính mẫn
cảm và mức độ nhiễm của nhiều loại bệnh ở một số loại cây trồng. Tổng kết
1.549 quan sát bệnh nấm, 144 bệnh vi khuẩn và 186 bệnh virus trên nhiều
loại cây trồng ở các điều kiện khác nhau thấy K làm giảm mức độ nhiễm bệnh
của 70 % số bệnh nấm, 69% số bệnh vi khuẩn và 41% bệnh virus.
1.4.1.4. Những nghiên cứu về vài trò của chất hữu cơ đối với độ phì nhiêu đất
Phân hữu cơ ngoài khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng do trong
thành phần có chứa các yếu tố dinh dưỡng từ đa đến vi lượng, đồng thời phân
hữu cơ còn có vai trò điều hoà dinh dưỡng trong đất, khắc phục các yếu tố
hạn chế trong đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm canh lúa và duy trì độ
phì nhiêu đất.
Nghiên cứu của F. J. Stevenson, (1982) [58] cho thấy hàm lượng lân dễ
tiêu của đất tăng khi bón hữu cơ vào đất bởi quá trình "chelat" của cation đa
hoá trị với axit hữu cơ và các sản phẩm thối rữa hữu cơ. Chất hữu cơ có vai
trò trong việc điều hoà dinh dưỡng không chỉ đối với lân mà ngay cả với sắt.
Các hợp chất hữu cơ có đặc tính "chelat" đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp cho thực vật Fe và các nguyên tố vi lượng khác.
Theo K. W. Smilde, (1983)[57] chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
việc giữ nguồn dinh dưỡng, giảm rửa trôi, phân giải mùn, giải phóng dinh
dưỡng dễ tiêu cho cây trồng, tăng lân dễ tiêu, tăng các hợp chất hữu cơ với N,
P, Fe

- Dùng chất hữu cơ như nguồn phân bón trong sản xuất lúa trên phạm vi
rộng là điều rất cần thiết.
- Muốn đạt được năng suất lúa tối đa cần kết hợp phân khoáng với phân hữu
cơ.
- Cần tuyên truyền rộng rãi việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất lúa.
Sử dụng cân đối tỉ lệ dinh dưỡng hữu cơ - vô cơ đối với cây trồng trong
sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết trên mọi loại đất, nhất là trên đất bạc mầu
nơi mà hệ số sử dụng đất rất cao, lượng phân hữu cơ cần rất lớn trong khi
phân hoá học lại có hiệu suất sử dụng thấp
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đối với sản xuất nông nghiệp Việt Nam, phân bón đóng một vai trò quan
trọng trong việc tăng năng suất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam
đã sử dụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ. Đặc biệt
trong những năm gần đây, nhiều giống lúa có tiềm năng năng suất cao, có khả
năng chịu phân rất tốt được đưa vào sản xuất. Hiện nay, Việt Nam là nước sử
dụng phân bón cho lúa tương đối cao so với những năm trước đây do người
dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh.
1.4.2.1. Những nghiên cứu về phân đạm cho lúa.
Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam đối với cây lúa, đạm là yếu tố hạn
chế năng suất trên tất cả các loại đất. Trong sản xuất nếu bón đạm ít năng suất
thấp, song bón quá nhiều không những lãng phí mà nó còn ảnh hưởng xấu
đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa dẫn đến là giảm năng suất và hiệu quả
kinh tế. Đối với cây lúa đạm có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy
nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng
năng suất lúa. Do vậy, đạm thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh (chiều cao, số

Trích đoạn Nội dung nghiờn cứu Kết quả điều tra tỡnh hỡnh sử dụng phõn bún và năng suất lỳa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status