Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác từ trước tới nay.
Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luân văn này đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
TrÇn ThÞ Thu Trang
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
2
Li cm n
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục………………………………………………………………
Danh mục, các ký hiệu, chữ viết tắt…………………………………
Danh mục các bảng…………………………………………………
Danh mục các đồ thị…………………………………………………
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. Cơ sở khoa học………………………………………………… 4
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thâm canh lúa………… 5
1.3. Tổng quan về đất bạc màu…………………………………… 8
1.3. Những nghiên cứu về phân bón cho lúa ………………………… 10
1.3.1. Những nghiên cứu về phân bón cho lúa trên thế giới………… 10
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam…………………………….. 16
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
28
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………… 28
2.2. Địa điểm và thời gian thực hiện………………………………… 29
2.3. Nội dung nghiên cứu…………………………………………… 29
2.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………… 30
2.5. Phạm vi nghiên cứu....................................................................... 36
PHỤ LỤC
89 Danh môc c¸c ký hiÖu, c¸c ch÷ viÕt t¾t
1
Chiều c.cây Chiều cao cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
2 §/C
Đối chứng
3 ha HÐcta
4 K
2
O Kali tæng sè
5 Kg Kil«gam
6 N §¹m tæng sè
7 NS h¹t N¨ng suÊt h¹t
8 NSLT N¨ng suÊt lý thuyÕt
9 NSTL Năng suất thân lá
10
DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Bảng 2.1: Một số tính chất lý, hoá học đất trước thí nghiệm
Bảng 2.2: Hàm lượng N, P
2
O
5
và K
2
O tổng số trong phân chuồng
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2006 và dự kiến
đến năm 2010 của tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.2: Kết quả điều tra lượng phân bón và năng suất lúa xuân
năm 2007 tại huyện Tân Yên và Hiệp Hoà, Bắc Giang.
Bảng 3.3: Kết quả điều tra lượng phân bón và năng suất lúa mùa năm
2007 tại huyện Tân Yên và Hiệp Hoà, Bắc Giang.
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chiều cao cây lúa
Khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khả năng đẻ
nhánh của cây lúa Khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến trọng lượng
chất khô của cây lúa Khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến yếu tố cấu thành
năng suất lúa khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang.
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến năng suất hạt và
64
66
67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
đất bạc màu Bắc Giang
3.12.a: Hiệu suất của bón phân chuồng trên nền bón 100%NPK
3.12.b: Hiệu suất của bón phân chuồng trên nền không bón phân
3.13: Hiệu quả kinh tế của các mức đầu tư phân bón cho cây lúa
khang dân 18 trên đất bạc màu Bắc Giang vụ xuân 2008
3.13.a: Hiệu quả kinh tế trên nền không bón phân khoáng và bón đơn
phân chuồng
3.13.b: Hiệu quả kinh tế trên nền NPK và NPK phối hợp với phân
chuồng.
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của công thức phân bón đến một số tính chất
hoá học đất.
Bảng 3.15: Vai trò của phân hữu cơ trong cân bằng dinh dưỡng 67
67
69
69
70
40
63
71
75 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Më ®Çu
hình thành trên trầm tích phù sa cổ, sản phẩm của lũ tích và quá trình phong
hoá đá cát và đá mắc ma axít [26]. Đặc điểm của loại đất này là có thành phần
cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ ở tầng mặt và chuyển sang thành phần cơ giới
nặng ở tầng sâu. Đất có phản ứng chua, hàm lượng mùn và thành phần dinh
dưỡng nghèo, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém. Chính vì vậy, ổn định
và cải tạo độ phì nhiêu đất là một vấn đề cần được quan tâm. Việc đầu tư
phân bón là một trong những biện pháp quan trọng để giải quyết vấn đề này.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học trong nước và
thế giới, người nông dân chủ yếu sử dụng phân hoá học với liều lượng cao mà
quên đi vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp. Tính tiện lợi và
hiệu lực nhanh chóng đối với cây trồng của phân khoáng đã làm lu mờ dần
vai trò của phân hữu cơ trên đồng ruộng dẫn đến hàm lượng mùn trong đất
không được cải thiện. Việc sử dụng phân khoáng cao trong điều kiện mùn
thấp dẫn đến sự mất đạm, rửa trôi lân và kali diễn ra nhiều hơn. Do đó sử
dụng hợp lý giữa phân khoáng và phân hữu cơ để tiết kiệm mức đầu tư phân
bón, không làm ô nhiễm môi trường, đảm bảo năng suất và thu được hiệu
quả kinh tế cao, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất, đảm bảo sức sản xuất lâu
bền, tiến tới một nền nông nghiệp bền vững trên đất bạc màu Bắc Giang
chính là vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, nhằm bổ sung để hoàn thiện hơn qui trình
kỹ thuật canh tác cho cây lúa trên đất bạc màu, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài:
“Nghiên cứu sử dụng hợp lý phân hữu cơ kết hợp phân khoáng
đối với cây lúa trên đất bạc màu Bắc Giang”.
2. Mục đích của đề tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Xác định được ảnh hưởng của việc bón kết hợp giữa phân hữu cơ và
phân khoáng đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa trên đất bạc màu
Bắc Giang.
Đất bạc màu là loại đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ ở
tầng mặt và chuyển sang thành phần cơ giới nặng ở tầng sâu. Đất có phản ứng
chua, hàm lượng mùn và thành phần dinh dưỡng nghèo, khả năng giữ nước và
giữ dinh dưỡng kém. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất nông nghiệp những
năm gần đây, các qui trình kỹ thuật thâm canh đang áp dụng thường tập trung
chủ yếu vào phân khoáng mà ít chú ý đến phân hữu cơ (một yếu tố đặc biệt
cần thiết trên đất bạc màu để nâng cao hàm lượng mùn trong đất và tăng khả
năng hấp thu dinh dưỡng của cây trồng). Lượng phân khoáng sử dụng trong
nhiều năm mà không có chế độ bổ sung lượng phân hữu cơ hợp lý nên đã gây
hậu quả là làm giảm hàm lượng chất hữu cơ của đất, rửa trôi các chất kiềm
dẫn đến đất bị chua nhanh chóng và làm sụt giảm nghiêm trọng chất dinh
dưỡng dẫn đến các yếu tố dinh dưỡng trong đất bị thiếu hụt so với nhu cầu đòi
hỏi của cây trồng. Năng suất cây trồng kém xa so với tiềm năng của chúng. Vì
vậy, để đảm bảo an toàn lương thực và nâng cao năng suất lúa trên đất bạc
màu, yếu tố cơ bản là tạo được cho đất một nền hữu cơ - khoáng để có thể bảo
toàn chất dinh dưỡng có sẵn, tiếp nhận có hiệu quả phân bón đưa vào cũng
như cải thiện năng suất lâu dài. Nghiên cứu chiến lược mới trong việc sử dụng
chất hữu cơ như là phân bón trong sản xuất lúa trên đất bạc màu, tác giả Phạm
Tiến Hoàng [18] đã kết luận:
Dùng chất hữu cơ như nguồn phân bón trong sản xuất lúa trên phạm vi
rộng đối với đất bạc màu là điều rất cần thiết.
Trên đất bạc màu nếu không bón phân hữu cơ (phân chuồng) thì không
thể cho năng suất lúa cao dù bón lượng phân khoáng cao, tăng lượng phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
chuồng bón cho lúa có thể tiết kiệm được phân khoáng.
Trần Thúc Sơn, Đặng văn Hiến (1995) [29] đã kết luận trên đất bạc màu
sử dụng phối hợp phân chuồng với phân hoá học cho hiệu quả rất cao đối với
cây lúa. Bón cân đối giữa phân khoáng và phân chuồng không những giúp cây
sinh trưởng phát triển tốt mà còn nâng cao năng suất cây trồng, nâng cao hiệu
1.2.2 Ảnh hưởng của phương thức gieo cấy đến quá trình thâm canh
* Phương thức làm mạ
Theo Nguyễn Thị Lẫm (năm 2003) thì cây lúa có ba phương thức gieo
cấy: Mạ dược cấy sâu tay, mạ dược cấy nông tay và gieo thẳng hốc [21]. Tuy
nhiên trên thực tế hiện nay tuỳ điều kiện sản xuất đã có nhiều vùng làm mạ
khác với 3 phương thức trên như: cấy mạ non, gieo vãi đều trực tiếp trên
ruộng vẫn cho năng suất cao nếu có biện pháp kỹ thuật thâm canh tốt.
* Thời gian cấy
Thời gian cấy là một yếu tố vô cùng quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất lúa (Nguyễn Thị Lẫm, 2003 [21]). Tuỳ theo vùng, miền, nhiệt
đô, ánh sáng lượng mưa và đất đai mà chúng ta bố trí thời gian gieo cÊy khác
nhau để tận dụng những cơ hội cho lúa đẻ nhánh, phân hoá đòng, trỗ bông và
chín trong điều kiện tối ưu. Ở miền núi phía Bắc và Trung du Bắc Bộ, đồng
bằng sông Hồng nên áp dụng các khung thời vụ như sau:
Vụ lúa xuân sớm (giống dài ngày): Gieo tháng 11, cấy tháng 12, thu
hoạch tháng 5, 6.
Vụ lúa xuân chính vụ (giống trung bình): Gieo tháng 12, cấy tháng 1,
thu hoạch tháng 5, 6.
Vụ lúa xuân muộn (giống ngắn ngày): Gieo tháng 1, cấy tháng 2, 3 thu
hoạch tháng 5, 6.
Vụ lúa mùa sớm (giống ngắn ngày): Gieo tháng 5, 6; cấy tháng 6,7 thu
hoạch tháng 9,10.
Vụ lúa mùa chính vụ (giống dài ngày): Gieo tháng 6, cấy tháng 7, thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
hoạch tháng 11.
* Mật độ cấy
Mật độ cấy là số cây, số khóm được gieo, trồng trên 1 đơn vị diện tích.
Với lúa cấy thì mật độ được đo bằng số khóm/m
2
Phải nói rằng từ khi con người biết trồng trọt và chăn nuôi thì cũng đã biết
sử dụng phân bón. Khoảng năm 900 trước công nguyên, người La Mã đã biết
sử dụng phân chuồng để bón cho ruộng nho nhằm đạt một năng suất mong
muốn. Năm 1840, Liebig đã cho ra đời tác phẩm “Hoá học đối với Nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
nghiệp và Sinh lý thực vật” (Trích dẫn theo Vũ Hữu Yêm, 1995) [41]. Với
tác phẩm này ông đã khẳng định, tất cả các cây trồng đều cần được nuôi
dưỡng bằng các nguyên tố ở dạng khoáng (vô cơ), từ kết quả nghiên cứu của
ông mà ngành nông nghiệp đã có một bước tiến kỳ diệu.
Hàng năm, sản lượng cây trồng tăng trên thế giới theo tính toán của
IFPRI (1996) là có 80% nhờ vào việc tăng năng suất, trong đó có phần đóng
góp không nhỏ của phân bón (Trích dẫn theo Nguyễn Văn Bộ. 2003) [2]. Rõ
ràng phân hoá học đã thực sự có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho
cây trồng những chất dinh dưỡng cần thiết mà đất không đủ khả năng đáp
ứng, đồng thời góp phần vào việc duy trì độ phì nhiêu đất trong quá trình canh
tác.
Sự ra đời của các giống lúa mới, cao sản, đặc biệt là các giống lúa lai
có tiềm năng năng suất cao đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng là rất cao, gấp 3 lần
các giống lúa cũ (De Dattail, 1984[46]). Sự bón phân mất cân đối là nguyên
nhân chính dẫn đến không phát huy hết tiềm năng năng suất của giống.
Những giống lúa năng suất cao phổ biến hiện nay với năng suất 5 tấn/ha và
lượng rơm rạ tương đương trên 1ha sẽ lấy đi 110 kg N; 105kg P
2
O
5
; 130kg
K
2
O; 14kg Ca; 12kg Mg; 5kg S; 1kg Fe; 2kg Mn; 0,2kg Zn; 0,15kg Cu;
0
5
: 0,02- 0,06%; K
2
0: 0,02- 0,04 %; P
2
0
5
và K
2
0 dễ tiêu thấp
4-6mg/100g đất và 1-4mg/100g đất, dung tích hấp thu thấp và có chiều hướng
tăng ở tầng tích tụ (60- 70 cm), khả năng trao đổi cation kém. Đây là loại đất
có chủng loại vi sinh vật cũng như số lượng vi sinh vật sống trong đất thấp
hơn nhiều so với các loại đất khác (Thái Phiên, 1998; Mai Văn Quyền, 1990
[24 ;27]). Loại đất này thường tập trung ở các tỉnh Trung du miền núi phía
Bắc có mùa hè nóng ẩm mưa nhiều cho nên thường bị tác động của nhiều quá
trình, điển hình là quá trình rửa trôi do mưa lũ cho nên hàm lượng dinh dưỡng
trong đất sẽ ngày càng nghèo kiệt nếu không có biện pháp bón phân cân đối
và hợp lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Tỉnh Bắc Giang có 42.897,84ha đất bạc màu (chiếm 11,22% tổng diện
tích đất tự nhiên) nhưng có tới 38.369ha đất bạc màu nằm trong diện tích đất
nông nghiệp (chiếm 38,9% diện tích đất sản xuất nông nghiệp) và phân bố
chủ yếu ở các huyện Lục Nam, Tân Yên, Lạng Giang, Việt Yên và Hiệp Hoà.
Đây là các huyện Trung du đồi núi thấp, phần lớn là ruộng bậc thang có độ
dốc từ 3 -8
0
, trước đây người dân chủ yếu độc canh cây trồng lại không có
lân, kali và các nguyên tố khoáng chỉ chiếm một phần nhỏ so với sản phẩm
quang hợp nhưng nếu thiếu hoặc không đủ dinh dưỡng thì cây trồng không
tích luỹ được chất hữu cơ. Cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng các yếu tố
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
dinh dưỡng thường được cây lấy từ một số nguồn như: từ phân khoáng và
phân hữu cơ bón vào, từ phế phụ phẩm nông nghiệp vùi lại, từ môi trường, từ
đất, nước tưới…
Dinh dưỡng cho lúa cũng được chia ra làm 3 nhóm chính: đa lượng, trung
lượng và vi lượng. Tuy nhiên lượng dinh dưỡng mà cây lúa sử dụng nhiều và
có vai trò quan trọng nhất là các yếu tố dinh dưỡng đa lượng như: đạm, lân,
kali. Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng đối với
cây lúa các nhà khoa học trên thế giới đã tổng kết như sau:
1.4.1.1. Những nghiên cứu về đạm đối với cây lúa
Đạm là một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng hàng đầu của cây
lúa, bón phân đạm ít năng suất thấp, bón quá nhiều chẳng những lãng phí mà
còn tác động xấu tới sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Đạm không chỉ là
nguồn nitơ mà còn là chất hoạt động sinh lý, nhu cầu đạm của cây lúa có tính
chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch.
Theo Yoshida.S, (1976) [59] lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết
N:P:K
bãn
Ph©n bãn
M«i tr-êng
N-íc t-íi
Ph©n chuång
ông. đạm là yếu tố dinh dưỡng phổ biến nhất, vì vậy bón đạm dẫn đến tăng năng
suất rất lớn. Nhưng bón đạm không đóng góp vào việc tăng cường độ phì đất.
Ngược lại sử dụng đạm không cân đối hiện là yếu tố lớn gây ra sự cạn kiệt dinh
dưỡng trong đất.
Ernst W.Mutert và công tác viên đã nhận thấy một xu hướng nhất quán
năng về suất lúa trong mùa khô ở các trại nghiên cứu của IRRI từ năm 1968 –
1991 ở mức bón đạm 150kg/ha. Tuy nhiên. khi mức đạm bón tăng đến 190kg/ha
năm 1992 và 216kg/ha năm 1993, năng suất cao nhất từ các công thức này cao
hơn mức năng suất đạt được vào năm 1989 – 1991 là 40% [47].
Theo Yoshida. S, (1976) [59] thì cây lúa có hai thời kỳ khủng hoảng đạm:
thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ phân hoá đòng (PI). Nếu thiếu đạm ở thời kỳ đẻ
nhánh sẽ ảnh hưởng số dảnh, số bông/m
2
. Thiếu đạm ở thời kỳ PI ảnh hưởng đến
số hạt/bông. Tuy vậy việc cung cấp đạm cho cây lúa còn phụ thuộc vào khả năng
cung cấp đạm từ đất, từ nguồn nước tưới, khả năng cố định đạm của vi sinh vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
trong đất, của môi trường và phân chuồng. Mức độ cung cấp đạm lại tuỳ thuộc
vào mùa vụ, vụ xuân nhiệt độ thấp khả năng khoáng hoá kém hơn vụ mùa.
1.4.1.2. Những nghiên cứu về lân cho lúa
Lân là loại phân đa lượng rất cần thiết cho cây trồng nói chung và cây lúa
nói riêng. Lân ở trong đất tồn tại dưới dạng hợp chất hữu cơ và hợp chất
khoáng, lân là một loại phân khó tiêu phải có thời gian mới phân huỷ hết và ít
bị rửa trôi.
Qua nghiên cứu Suichi Yoshida, (1976) [59] cho rằng thiếu lân là
nguyên nhân chủ yếu làm giới hạn đỉnh cao năng suất của các giống lúa mới
hiện nay. Khi các giống lúa mới chưa ra đời, ở nhiều nước trên thế giới thấy
bón lân cho lúa làm tăng năng suất không nhiều.
Nhóm tác giả Lafitan, Lafeve Coyouda, Malyc cho rằng ở đất nhiệt đới
Kali là một trong 3 yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với cây trồng, kali
là yếu tố phân bón mà cây hút nhiều nhất và nhu cầu kali của cây lúa kéo dài
cho tới cuối thời gian sinh trưởng.
Theo Suichi Yoshida, 1976) [59] lượng kali cây hút có tương quan thuận
với năng suất. Lượng kali cây hút để tạo ra được 1 tấn thóc ở các vùng khác
nhau trên thế giới dao động từ 35 – 50 kg K
2
O, trung bình là 44kg K
2
O trong
đó chỉ khoảng 20% tổng lượng kali cây hút là được vận chuyển vào hạt, lượng
còn lại được tích luỹ trong các bộ phận khác của cây (trong rơm rạ).
Nghiên cứu của H.M. Trung (1994) 60 cho thấy K làm giảm tính mẫn
cảm và mức độ nhiễm của nhiều loại bệnh ở một số loại cây trồng. Tổng kết
1.549 quan sát bệnh nấm, 144 bệnh vi khuẩn và 186 bệnh virus trên nhiều
loại cây trồng ở các điều kiện khác nhau thấy K làm giảm mức độ nhiễm bệnh
của 70 % số bệnh nấm, 69% số bệnh vi khuẩn và 41% bệnh virus.
1.4.1.4. Những nghiên cứu về vài trò của chất hữu cơ đối với độ phì nhiêu đất
Phân hữu cơ ngoài khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng do trong
thành phần có chứa các yếu tố dinh dưỡng từ đa đến vi lượng, đồng thời phân
hữu cơ còn có vai trò điều hoà dinh dưỡng trong đất, khắc phục các yếu tố
hạn chế trong đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm canh lúa và duy trì độ
phì nhiêu đất.
Nghiên cứu của F. J. Stevenson, (1982) [58] cho thấy hàm lượng lân dễ
tiêu của đất tăng khi bón hữu cơ vào đất bởi quá trình "chelat" của cation đa
hoá trị với axit hữu cơ và các sản phẩm thối rữa hữu cơ. Chất hữu cơ có vai
trò trong việc điều hoà dinh dưỡng không chỉ đối với lân mà ngay cả với sắt.
Các hợp chất hữu cơ có đặc tính "chelat" đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp cho thực vật Fe và các nguyên tố vi lượng khác.
Theo K. W. Smilde, (1983)[57] chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong
so với không phân chuồng). Nghiên cứu chiến lược mới trong việc sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
chất hữu cơ như là phân bón trong sản xuất lúa tác giả B.R.Naga, (1985)
[53] đã nhấn mạnh:
- Dùng chất hữu cơ như nguồn phân bón trong sản xuất lúa trên phạm vi
rộng là điều rất cần thiết.
- Muốn đạt được năng suất lúa tối đa cần kết hợp phân khoáng với phân hữu
cơ.
- Cần tuyên truyền rộng rãi việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất lúa.
Sử dụng cân đối tỉ lệ dinh dưỡng hữu cơ - vô cơ đối với cây trồng trong
sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết trên mọi loại đất, nhất là trên đất bạc mầu
nơi mà hệ số sử dụng đất rất cao, lượng phân hữu cơ cần rất lớn trong khi
phân hoá học lại có hiệu suất sử dụng thấp
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đối với sản xuất nông nghiệp Việt Nam, phân bón đóng một vai trò quan
trọng trong việc tăng năng suất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam
đã sử dụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ. Đặc biệt
trong những năm gần đây, nhiều giống lúa có tiềm năng năng suất cao, có khả
năng chịu phân rất tốt được đưa vào sản xuất. Hiện nay, Việt Nam là nước sử
dụng phân bón cho lúa tương đối cao so với những năm trước đây do người
dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh.
1.4.2.1. Những nghiên cứu về phân đạm cho lúa.
Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam đối với cây lúa, đạm là yếu tố hạn
chế năng suất trên tất cả các loại đất. Trong sản xuất nếu bón đạm ít năng suất
thấp, song bón quá nhiều không những lãng phí mà nó còn ảnh hưởng xấu
đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa dẫn đến là giảm năng suất và hiệu quả
kinh tế. Đối với cây lúa đạm có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy
nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng
năng suất lúa. Do vậy, đạm thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh (chiều cao, số
luận để đạt được năng suất lúa 7 tấn/ha cần bón 180-200 kg N [7], [34].
Đạm cần thiết cho suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa và
có tính chất liên tục từ khi gieo trồng đến khi chín. Tuy nhiên chúng ta cần
quan tâm nhất 2 thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng, đặc biệt là thời kỳ đẻ nhánh rộ
cây lúa hút nhiều đạm nhất. Thông thường lúa hút 70% lượng đạm cần thiết