Bài báo cáo thực tế Nha Trang - Đà Lạt doc - Pdf 15

Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiên nhiên xung quanh chúng ta vô cùng phong phú và đa dạng, nó luôn thôi
thúc con người tìm hiểu và khám phá. Qua quá trình đó mà loài người đã phát hiện
những quy luật tồn tại và vận động của sự sống. Quá trình đó diễn ra từ rất lâu từ khi loài
người biết nhận thức về thế giới và mãi cho đến ngày hôm nay. Lịch sử đã chứng minh
rằng mọi tri thức khoa học đều bắt nguồn từ những nhận thức đó. Nói cách khác mọi phát
minh mới, vĩ đại của loài người đều bắt nguồn từ nhu cầu của thực tiễn. Vì vậy thực tập
thiên nhiên là một môn học rất quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống môn học
giảng dạy ở các trường đại học, đặc biệt là đối với ngành sinh học là một ngành học luôn
đi sát, đi sâu vào thiên nhiên, gắn liền với thiên nhiên với các loài sinh vật. Qua đó giúp
chúng ta hiểu được nguồn gốc, quá trình phát triển và tiến hoá của các loài sinh vật.
Thiên nhiên chính là một ngôi trường học lớn nhất mà mỗi một sinh viên chúng ta cần
phải trải qua.
Mỗi một sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tiếp thu nguồn tài liệu
phong phú và đa dạng từ các bài giảng, giáo trình, các sách báo, trên mạng
internet,v.v ,nhưng những kiến thức mà chúng ta được học đó chỉ mang tính chất lí
thuyết. Mặc dù có các học phần thực hành tạo điều kiện cho chúng ta tiếp xúc với thực tế
với thực vật và động vật, nhưng đó cũng chỉ là các thực hành trong phòng thí nghiệm.
Chúng ta chỉ nắm bắt được các cấu tạo giải phẫu, những đặc điểm hình thái cơ bản nhất
mà thôi. Do đó đòi hỏi mỗi một sinh viên cần trang bị thêm cho mình những tri thức
mang tính chất thực tiễn, phải không ngừng hoàn thiện tri thức của bản thân. Thực tập
thiên nhiên đem lại cho sinh viên cái nhìn tổng quát về thế giới tự nhiên và quá trình sản
xuất của con người. Qua đó giúp sinh viên mở rộng và hoàn thiện sự hiểu biết của mình
về thế giới các sinh vật. Đồng thời thực tập thiên nhiên giúp cho chúng ta biết cái gì cần
khai thác cái gì cần bảo tồn và phát triển. Qua đó làm cho hệ động - thực vật không
những không mất đi mà ngày càng được bảo vệ và phát triển hơn.Và cũng giúp chúng ta
thấy được quá trình khám phá của các nhà khoa học, một quá trình đi từ tự nhiên đến
thực tiễn, rồi từ đó lại áp dụng vào tự nhiên để có được xã hội như ngày nay.
Là sinh viên của ngành sinh học thì thực tập thiên nhiên là vô cùng cần thiết.
Trong chương trình học chúng em đã được học nhiều môn cơ sở như: Giải phẩu hình thái

Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp với biển
Đông.
Nhìn chung, khí hậu của Nha Trang tương đối ôn hoà. Mùa mưa ngắn kéo dài
từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch, mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 âm lịch. Nhiệt độ
bình quân hằng năm là 26,7
o
C, nhiệt độ cao nhất vào khoảng 32
o
C, nhiệt độ thấp nhất cũng
chỉ 22
o
C. Với bờ biển dài và đẹp cộng thêm một khí hậu mát mẻ, Nha Trang đã và đang trở
thành điểm đến hứa hẹn cho du khách trong và ngoài nước.
Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hệ thống vũng, vịnh tự
nhiên hiếm trên thế giới. Nơi đây có các hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới như:
hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái
cỏ biển… với nhiều chức năng sinh thái quý giá như bảo vệ môi trường, nơi cư trú, sinh sản,
ương nuôi của các loài thủy hải sản. Đây cũng là bờ kè tự nhiên phòng chống lụt bão, xói
lở… Vịnh Nha Trang được đánh giá là nơi có sự đa dạng sinh thái cao, nơi đây có trên 350
loài cá cảnh biển và khoảng 350 loài san hô…
2. Đặc điểm sinh thái biển
Biển là môi trường có diện tích lớn nhất trên thế giới, chiếm trên 3/4 diện tích
bề mặt trái đất với khối lượng và thể tích nước khổng lồ. Ở nước ta có đường bờ biển dài
khoảng 3200 km, với 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế biển. Biển đóng một vai trò to lớn
trong đời sống con người. Biển cung cấp thức ăn, là nguồn dược liệu phong phú, ngoài ra,
biển cũng đem đến cho con người những nguồn nguyên liệu, nhiên liệu quý giá cho sản xuất
công nghiệp. Trong tương lai, biển sẽ là nguồn sinh chất cung cấp thức ăn cho nhân loại.
Chính vì thế môi trường biển đang được quan tâm khai thác, sử dụng. Có nhiều mô hình đã
được áp dụng thành công trên thế giới như mô hình phân chia vùng bờ ven biển thành các
khoảnh, thửa và giao cho các hộ dân sống ven biển để quản lý và khai thác. Có thể nói, đây

- Kích thước tối đa 38cm ( loài Pterois
Volitans ( Linnaneu, 1758)) .
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
4
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
- Đặc điểm: Cá xòe ra những tua vây lả lướt rất đẹp khi bơi nên được mệnh
danh là “Công chúa biển”. Những cá mao tiêm có những vũ khí tự vệ rất lợi hại là những
chiếc vây lưng. Trong các tia vây này có chứa chất độc, khi chích sẽ làm cho vết thương bị
sưng tấy, đau nhức, thậm chí có thể gây sốt cao bất tỉnh.
3.3. Cá ép ( Echeneis sp.)
- Phân bố: Biển Atlantic, Ấn Độ Dương,
Thái Bình Dương, Inđônêxia, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam.
- Kích thước tối đa 100cm ( loài Echeneis
naucrates L,1785).
- Đặc điểm: Trên đầu cá có đĩa bám để bám
vào cá mập, cá voi, rùa biển, đôi khi chúng bám vào cả những chiếc tàu.
3.4. Cá chình
- Phân bố ở các vùng nhiệt đới và ôn đới.
- Kích thước tối đa là 3m (loài Gymnothorax
favagineus Bloch & Schneider, 1801).
- Đặc điểm: cá chình hoạt động vào ban đêm,
ban ngày chui rúc trong hang hốc hoặc vùi mình trong cát.
Những con cá chình lớn có răng sắc nhọn có khả năng tấn công nên rất nguy hiểm đối với
các thợ lặn.
3.5. Cá thia ba chấm
- Phân bố: Trong các rạn san hô ở
Ấn Độ - Thái Bình Dương
- Kích thước tối đa: 14 cm
- Đặc điểm: Là loài cá thia sống phổ biến
trong các rạn san hô. Cá màu đen, trên thân có 3 chấm trắng rất dễ nhận biết. Khi lớn, các

- Đặc điểm: Thuộc ngành động vật da gai
(cùng với huệ biển, đuôi rắn và hải sâm, sao biển). Cơ thể
đối xứng tỏa tròn, miệng nằm bên dưới, lỗ hậu môn nằm
phía trên. Có 5 điểm cảm quang là 5 điểm trắng trên thân.
Trứng cầu gai là món ăn bổ dưỡng, rất được ưa thích
3.10. San hô mềm
- Phân bố: Các vùng biển trên khắp thế giới
- Đặc điểm: San hồ mềm trông giống như
cây nhưng chúng là động vật thực sự, có trâm gây ngứa.
Như những dạng san hô khác, san hô mềm có cấu tạo đơn
giản như sứa hoặc hải quỳ. Điểm khác biệt là san hô mềm
không có bộ xương cứng bên trong, chỉ có các trâm xương đá
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
6
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
vôi nhỏ nên khá mềm. Một số mềm đến mức có thể đu đưa theo dòng nước. Khi san hô mềm
chết đi, thân chúng tan ra hoàn toàn. Nguồn dinh dưỡng chủ yếu của san hô mềm là nhờ vào
quang hợp của các vi tảo cộng sinh bên trong cơ thể. Chúng cũng có thể bắt những sinh vật
nhỏ lơ lững trong nước làm thức ăn
3.11. Cá Bàng chài (Labridae):
- Phân bố: các vùng biển nhiệt đới và ôn đới
- Kích thuước: 2,3 m (loài Cheilinus
unifasciatus Streets, 1878)
- Đặc điểm: thành phần loài rất phong phú
(khoảng 500 loài), chỉ ít hơn họ cá Gobidae trong nhóm cá
rạn san hô. Màu sắc cá thường thay đổi tùy theo độ tuổi và giới tính
3.12. Cá mặt quỷ
- Phân bố ở Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương.
- Kích thước tối đa là 35 cm
(loài Synanceja verrucosa Bloch & Scheneider, 1810).

lẩn tránh.
3.16. Cá khoang cổ
- Phân bố hầu hết ở các rạn san hô.
- Kích thước tối đa là 14 cm
(loài Amphiprion sebae Bleeker, 1853).
- Đặc điểm của loài cá này là sống chung
với hải quỳ như những đôi bạn thân thiết. Cá khoang cổ tìm được thức ăn thường đem về
chia cho Hải quỳ. Khi gặp nguy hiểm Hải quỳ sẳn sàng bảo vệ cho cá khoang cổ
3.17. Cá Sơn ( Apogonidae)
- Phân bố ở các vùng nhiệt đới và ôn đới.
- Kích thước khoảng 25cm.
- Đặc điểm:Có 2 chiếc vây lưng rất rõ rệt,
chúng khá hiền lành và chậm chạp, hoạt động chủ yếu vào ban
đêm.Sau khi đẻ trứng cá đực thụ tinh và ngậm trứng trong miệng ấp cho đến khi trứng nở
thành con.Cá có thể sống đến 5 năm.
3.18. Động vật da gai
- Phân bố: ở tất cả các vùng biện ôn đới, nhiệt đới và vùng cực
- Đặc điểm : là một ngành động vật không xương sống chỉ có ở biển, gồm
sao biển, đuôi rắn, huệ biển, cầu gai và hải sâm. Đặc điểm
chung của chúng là khung xương có cấu tạo từ những gai
hoặc phiến đá vôi nằm ẩn trong da. hầu hết động vật da gai
có đố xứng tỏa tròn bậc 5. Ngoài ra chúng còn có 1 hệ thống
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
8
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
chân ống ở mặt dưới cơ thể dùng để vận động, ăn uống và
hô hấp. Rất nhiều loài Da gai có giá trị dinh dưỡng cao,
được dùng làm thực phẩm như Hải sâm, cầu gai, hoặc để chiết xuất các chất có hoạt tính sinh
học dùng trong y học và công nghiệp
3.19. Hải sâm

- Phân bố: các vùng nhiệt đới và ôn đới
- Kích thước tối đa: 55 cm (loài Parupeneus barberinus)
- đặc điểm : Cá thường sống theo đàn, hoạt động chủ yếu vào ban đêm.
Thân cá dài, vây lưng cách xa vây bụng. Đặc điểm dễ nhận biết là chúng có 2 râu ở dưới
cằm. Nhờ những chiếc râu này, chúng có thể tìm được những sinh vật nhỏ sống trong nền
đáy làm thức ăn. Cá phèn thường có màu sắc sặc sỡ và có thể thay đổi màu tùy theo hoạt
động cơ thể
3.23. Cá nhám trúc
- Phân bố: các vùng duyên hải miền
nhệt đới khu hệ Indo-Pacific
- Kích thước tối đa: 121 cm
- đặc điểm: cá nhám trúc thuộc nhóm
cá mập. Kích thước khá nhỏ, những chiếc đuôi rất dài,
đôi khi dài hơn cả thân. Nhờ hai chiếc râu dưới cằm, chúng
tìm những loài sinh vật và cá nhỏ sống vùi trong đáy làm thức ăn
3.24. Cá bò bông bi
- Phân bố ở khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương, Biển Đỏ, Nam Phi.
- Kích thước tối đa là 50cm.
- Đặc điểm: đây là loàii cá rất quý
hiếm, có màu sặc sặc sỡ và đặc trưng. Thường sống đơn độc
quanh các rạn san hô. Cũng như các loài cá bò khác, cá bò
bông bi có những chiếc răng rất khoẻ. Thức ăn của chúng là cầu gai, sò, ốc, mực, v.v Cá rất
hung hăng, luôn sẵn sàng tấn công những sinh vật khác sống cùng
3.25. Cá bò hỏa tiễn (Balistidae)
- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương.
- Kích thước tối đa 60cm ( loài Balistoides
viridescens).
- Đặc điểm: Lớp da cá rất dày, miệng nhỏ
nhưng có những chiếc răng rất khỏe nhờ đó có thể ăn được

con khoảng 100000 con. Sự suy giảm số lượng bò biển do
nhiều nguyên nhân khác nhau: Do săn bắn, ô nhiếm
môi trường, các thảm cỏ biển bị phả hoại…Nhiều nhà khoa
học cho rằng chúng có thể sẽ bị tuyệt chủng trong tương
lai gần. Vì vậy cần phải có biện pháp tích cực và hữu hiệu
nhằm bảo vệ loài thú quý hiếm này.
3.28. Tôm kí cư
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
11
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
- Tôm ký cư hay còn gọi là ốc mượn hồn
thuộc bộ Mười chân (Decapoda). Chúng có bụng và phần
bụng kém phát triền thích ứng với lối sống bò. Loài tôm này
không có vỏ cứng bao bọc cơ thể nên thường sống chui trong
vỏ ốc, dấu phần bụng mềm vào trong vỏ. Bụng mất đối xứng
và mất phân đốt. Khi cơ thể lớn lên, vỏ ốc cũ không còn đủ chỗ để chứa thì chúng
rời bỏ vỏ ốc cũ để đi tìm một vỏ ốc khác lớn hơn.
3.29.Cá mú
- Cá Mú thường sống ẩn mình trong
các hang, hốc hay rạn san hô. Kích thước tối đa có thể lên
đến 2,7 m. Ở một số loài cá có khả năng chuyển đổi giới
tính, ban đầu là cá cái, khi kích thước cơ thể đạt đến 80 cm
thì biến đổi thành cá đực. Đây là một loại cá có giá trị kinh tế
cao và đang được nuôi ở nhiều nơi.
4. Ý nghĩa của đa dạng sinh vật bển
- Các rạn san hô tạo nên một khu hệ sinh thái đẹp có lợi cho việc phát triển du
lịch biển ở nước ta.
- Các loài cá biển luôn là những sinh vật mang giá trị kinh tế cao cho ngưòi
dân như cá mú, cá mặt quỷ, cá chình, v.v
5. Đa dạng thực vật biển

- Ở Việt Nam :
+ Vịnh Cam Ranh: 7.920.000 USD.
+ Phá Tam Giang - Cầu Hai: 1.628.000 USD.
+ Bãi Bổn ở đảo Phú Quốc: 481.202 USD v.v
- Cỏ biển còn được sử dụng làm giấy viết, hóa chất, thuốc nổ, chất cách âm
cách nhiệt, làm thuốc chữa bệnh, thực phẩm, thủ công mĩ nghệ, phân bón, thức ăn gia súc
- Làm giảm tác động cơ học của sóng biển, gió để bảo vệ bờ biển tiếp giáp
với vùng ngập mặn, chống xói lỡ, bảo biển làm lắng trầm tích, làm nước biển trong hơn.
- Lọc sinh học khổng lồ, hấp thu rất nhanh những kim loại nặng từ môi
trường biển giống như một nhu cầu sinh lí của cỏ biển, đó chính là tác dụng xử lí môi
trường.
- Nguồn lợi sinh vật là nơi ở nơi cư trú của tất cả các loài sinh vật.
- Vùng có cỏ biển thì đa dạng sinh vật rất cao.
- Là nơi nuôi các sinh vật non.
- Là nguồn thức ăn cho những loài cá: cá dìa, đồi mồi, bò biển, rùa biển
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
13
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
5.3. Rong biển và vai trò của rong biển
- Rong biển không được coi là một hệ sinh thái riêng mà chỉ được coi là hệ
sinh thái đi theo hệ sinh thái cỏ biển.
- Rong biển có khoảng 700 loài có giá trị kinh tế cao. Rong biển có 3 vai trò
chính:
+ Làm thực phẩm, dược liệu
+ Cung cấp nguyên liệu dùng trong công nghiệp: chế xuất agar (làm
thạch chủ yếu là công nghệ sản xuất rau câu; chế biến axinat: chất keo enzim từ rong nâu,
rong mơ; chế xuất caragen dùng trong công nghiệp mĩ phẩm
- Ngoài ra rong biển còn có tác dụng:
+ Làm sạch nước.
+ Phát triển bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản.

đều có tử 7 – 8 tiếng đồng hồ rễ được phơi bày lên trên mặt nước). Có nhiều loài khác cần có
chế độ thủy triều để phát tán hạt phấn, bào tử nhằm duy trì nòi giống. Lấy ví dụ như rong
mơ, tảo lá dừa…
+ Ngoài ra, ở vùng nhiệt đới, chế độ thủy triều còn gây ra hiện tượng mùa
vụ.
6.3. Dòng chảy
Vùng duyên hải Việt Nam có 2 dòng hải lưu. Dòng hải lưu lạnh chảy từ eo
biển Đài Loan xuống phía Nam biển Đông, dòng hải lưu nóng chảy từ Ấn Độ Dương ngược
lên phía Bắc biển Đông. Hai dòng hải lưu này giao nhau tại vùng biển Phú Yên tạo nên độ đa
dạng sinh học cao. Các dòng chảy mang các khu hệ sinh vật từ nơi khác đến, do đó vùng
giao nhau là nơi có hệ sinh vật phong phú nhất.
Một hiện tượng khác của dòng chảy là hiện tượng nước trồi. Đây là hiện
tượng nước từ đáy biển chảy trồi lên mặt. Những vùng nước trồi là những vùng phong phú
về thủy sản. Có thể giải thích như sau: Phù sa, các chất hữu cơ, chất mùn được đưa từ sông
ra biển, trải qua thời gian, chúng trầm lắng dưới đáy và nằm ở đó. Khi có hiện tượng nước
trồi, các chất hữu cơ này được đưa lên mặt nước, lơ lửng trong các tầng nước làm cho vùng
này giàu chất dinh dưỡng. Vì thế, các lài vi tảo phát triển, kéo theo đó là các loài động vật
nhỏ ăn vi tảo cũng phát triển, chuỗi thức ăn kéo dài dần làm cho hệ động thực vật ở đây
phong phú. Dòng chảy cũng làm tăng hàm lượng O
2
hòa tan trong nước, giúp cho hệ sinh
vật ở đây đa dạng.
6. 4. Độ mặn:
- Độ mặn là yếu tố rất quan trọng của môi trường biển ảnh hưởng đến sự phân
bố, phát sinh và phát triển của các loài sinh vật biển.
- Sự biến động của độ mặn: các vùng biển khác nhau có độ mặn không giống
nhau, có sự chênh lệch lớn nhất là vùng giao giữa cửa sông với biển.
- Về quan điểm sinh thái học người ta có thể chia ra 2 nhóm loài tùy thuộc
khả năng thích nghi với độ mặn:
+ Loài rộng muối.

trọng đền nghành du lịch nơi đây.
2 . Tham quan và học tập tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt :
2.1. Vài nét về lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt:
- Đầu thế kỉ 20 phát hiện ra hiên tượng phóng xạ người ta đã dùng hạt neutron
bắn vào các nguyên tử để phóng ra các tia phóng xạ gây phản ứng phân hạch và năng lượng
của nó được tính: Delta E= Delta M* C
2
(Delta M là độ hụt khối C là vận tốc ánh sáng. Khi
phân hạch hạt nhân giải phóng tia phóng xạ nơtrơn, anpha và năng lượng hạt nhân. Dùng
để chế tạo bom nguyên tử hay lớp phản ứng hạt nhân.
- Năm 1960 lò phản ứng hạt nhân ở Đà Lạt được xây dựng khi có giải phóng
chất phóng xạ có thể dùng D
2
0 hay H
2
0 để khử lò phản ứng hạt nhân là công cụ cho phép xảy
ra phản ứng phân hạch:
+ Giải phóng tia phóng xạ.
+ Năng lượng hạt nhân (chỉ sử dụng bức xạ của nó).
- Sản xuất đồ dùng phóng xạ quan trọng ở Đà Lạt
N dính hạt nhânđồng vị phóng xạ bền Phân hạch năng lượng phóng xạ I
phân hạch tạo ra I
55
I
128
dùng để nghiên cứu bệnh bướu cổ, bệnh ngoài da.
- Ngoài ra còn dùng nhiều trong y học trong việc xử lí thực phẩm chống ô
nhiễm môi trường ( thủy triều đỏ).
- Bên cạnh đó còn dùng nó để kích thích gây đột biến ở thực vật (một số ít ở
động vật) tạo ra tổ hợp nguồn gen mới. Cho năng suất cao hơn, dùng tia phóng xạ gama để

- Nhân giống vô tính cây trồng có giá trị kinh tế cao bằng kỹ thuật nuôi cấy
invitro.
- Nâng cao chất lượng giống đầu dòng kết hợp kỹ thuật bức xạ, kỹ thuật nuôi
cấy invitro và kỹ thuật thủy canh.
- Bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm bằng kỹ thuật Cryopreservation trong
Nitơ lỏng (-96
o
C)
- Phân lập, nhân giống và giữ giống một số loại nấm quý có giá trị kinh tế cao
như Vân Chi, Linh Chi, Bào Ngư, Mộc nhĩ, nấm Hương
- Phân lập, giữ giống và tạo đột biến bằng bức xạ với một số vi sinh vật có ích
như vi nấm Trichoderma.
- Nghiên cứu, đồng thời sản xuất các giống cây đột biến, cung cấp cho sản
xuất
Trong thời gian gần đây nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng các thành tựu
của công nghệ nuôi cấy mô đã được thực hiện với những thành công bước đầu như: điều
chỉnh hoa nở trong ống nghiệm, nuôi cấy mô thực vật… đã và đang góp phần tạo nên sự đa
dạng cho hệ thực vật ở Đà Lạt nói riêng và cả nước nói chung, nhất là các loài hoa trang trí.
3. Tham quan vườn ươm cây giống rau xanh ứng dụng nuôi cấy mô thực
vật
Ở Đà Lạt có gần 50 cơ sở sản xuất giống rau và hoa, có một nền nông nghiệp
phát triển. Sở dĩ được như vậy là do Đà Lạt được các công ty nước ngoài đến đầu tư, chúng
ta đã học hỏi được kinh nghiệm của họ đồng thời khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển và
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
17
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
ứng dụng của nó ngày càng rộng rãi. Hiện nay ở Đà Lạt có hơn 35 phòng nuôi cây mô của tư
nhân, môt con số cao nhất trong cả nước.
Đà Lạt là nơi có điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển nông nghiệp là: có địa
hình cao 1500 m so với mực nước biển, mà cứ lên cao 100 m thì nhiệt độ giảm xuống 1

thời gian phục hồi trạng thái ban đầu, cây có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển.
Hiện nay, người dân chú ý đến việc dùng phân bón, họ đã biết sử dụng phân bón
hợp lý và đầy đủ cả vi lượng và đa lượng. Đặc biệt, nông dân đã đầu tư vào trồng rau trong
nhà kính. Khi trồng trong nhà kính, sẽ có các lợi điểm sau: Ngăn mưa, sương giá để năng
suất cây trồng ổn định hơn, trồng cây trong nhà kính không phụ thuộc vào thời tiết, hạn chế
được tổn thất do thời tiết gây nên, và quan trọng là cho cây ra hoa theo ý muốn.
Để sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy mô, người ta tiến hành theo các
bước sau:
- Cắt đọt cây hàng tuần tại trại giống để đem về nuôi cấy mô. Môi trường nuôi
cấy tùy thuộc vào từng loài cây.
- Dùng hóa chất để kích thích quá trình ra chồi, hạn chế ra rễ. Môi trường sử
dụng là MS có bổ sung agar, đường, các nguyên tố đa lượng, vi lượng vừa đủ.
- Cắt chồi đã nuôi thành nhiều đoạn nhỏ rồi dùng hóa chất để kích thích ra rễ,
hạn chế ra chồi bằng dung dịch môi trường có bổ sung IAA 150ppm kích thích ra rễ. Sử
dụng hỗn hợp IAA và metalaccin với nồng độ 5g/1 lít.
- Đem cây con ra trồng trong nhà kính. Tuy nhiên phải lưu ý, ban đầu phải hạn
chế sự thoát hơi nước bằng hệ thống lưới chắn sáng, giá thể giâm phải thông thoáng, thường
sử dụng cát, than trấu hoặc xơ dừa. Cần hạn chế tối đa sự mất nước bằng cách phun nước
thường xuyên. Ngoài ra dùng thêm metalacin để diệt khuẩn, ngăn chặn sự xâm nhập của các
vi sinh vậy gây hại.
- Có thể dùng phân bón hợp lý để cây phát triển tốt hơn.
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
18
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
4. Thảm sinh vật Tây Nguyên:
4.1. Động vật rừng:
Động vật Tây Nguyên rất phong phú. Ta có bảng thống kê sau:
Việt Nam Tây Nguyên
Thú 275 102
Chim 828 375

dài vuốt trước lớn hơn hoặc bằng 2 lần chiều dài vuốt sau. Chúng thường kiếm ăn ở khe suối,
tuyến xạ cũng rất phát triển. Ví dụ: Chồn vàng (Martes flavigula), Chồn bạc má (Melogale
moschate)
- Họ gấu (Ursidae):
Người ta phân biệt Gấu chó và Gấu ngựa bằng cách xem hình dạng yếm
của gấu, Gấu ngựa (Slelarctos thibetamus) có yếm hình chữ V, Gấu chó (Helarctor
malayanus) có yếm hình chữ U. Hiện nay số lượng gấu đang giảm nghiêm trọng.
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
19
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
4.1.1.2. Bộ móng guốc ngón chẵn (Actyotactyla):
- Họ hươu nai (Cervidae):
Đặc điểm nổi bật của các loài trong bộ móng guốc là chúng có bộ sừng
rất đặc trưng. Và dựa vào đặc điểm cấu tạo người ta chia làm ba loại sừng khác nhau:
+ Sừng đặc: như ở hươu, nai, hoẵng
Sừng chỉ có ở con đực, được thay hằng năm, ở con non sừng được
gọi là nhung có giá trị kinh tế cao, sừng không được gắn trực tiếp vào hộp sọ. Các loài trong
nhóm này thường có tuyến lệ phát triển.
Trong nhóm này có loài Mang lớn (Megamentiacus
Vuquangmensis) là một loài thú lớn rất quí hiếm.
+ Sừng rỗng: như ở Sơn dương, trâu, bò, Sừng của chúng được gắn
liền vào hộp sọ, không mọc lại (vĩnh viễn). Có ở con đực và con cái. Tuyến lệ tiêu biến.
+ Sừng sợi: như ở tê giác
Đại diện là Tê giác Java, hiện nay ở Lâm Đồng chỉ còn lại 7 cá thể
(Cát Lộc - Cát Tiên). Chúng đều là những cá thể cái trưởng thành và những con đực còn non.
Tê giác là loài động vật rất nhạy cảm với môi trường sống, mặc khác do chu kì sinh sản của
chúng kkéo dai từ 3-5 năm nên để phục hồi chúng là một việc rất khó khăn.
Tê giác là loài thú rất quý hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Chúng sinh sản chậm, từ 3-5 năm mới sinh một lứa, mỗi lứa đẻ 1 con, lại bị săn bắt quá mức,
nơi ở của chúng bị huỷ hoại vì vậy tê giác đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
- Quạ thông (Garrallus Glandarus leucotis)
- Diệc xám (Adrea cinerea)
- Phượng hoàng đất (Buceros bicornis)
- Phường chèo đỏ
- Khướu đầu xám (Garrulax vassali)
- Cuốc ngực nâu (Porzana fusca)
- Kịch (Gallinula chloropus)
- Sáo sậu (Sturnus nigricollis)
- Diều hâu
- Trĩ sao (Rheinatia occellata)
4.1.3. Lớp côn trùng (Insecta):
Thế giới có trên 1 triệu loài, còn Việt Nam có khoảng 7200 loài bao gồm các
loài có giá trị cao cho con người cũng như động thực vật nhưng bên cạnh đó lại có những
loài gây hại.
Bao gồm các bộ sau:
4.1.3.1. Bộ cánh cứng (Coleoptera):
Có số lượng lớn nhất trong các nhóm côn trùng. Đặc điểm là cơ thể của
chúng được bảo vệ bởi hai đôi cánh rất cứng, tạo ra bộ khung xương ngoài giúp cơ thể có thể
tránh những tác động bất lợi. Đôi cánh của chúng có thể có màu sắc rất đa dạng. Bộ cánh
cứng là bộ có giá trị kinh tế cao.
Một số loài đại diện:
- Con kiến dương năm sừng: có 5 sừng, tìm thấy năm 1958 ở Lâm
Đồng và Lạng Sơn, nở rộ nhiều vào cuối tháng 6 và 7.
- Bọ sừng hươu.
- Gọng kiền
Hầu hết trong vòng đời của chúng đều trải qua sự biến thái hoàn toàn.
Rất khó để xác định vòng đời của chúng.
4.1.3.2. Bộ cánh vảy (Lipidoptera):
Đại diện là loài sâu tơ (Plutella Xylostella): có kích thước khoảng 3-

- Bộ cánh thẳng (Orthoptera)
- Bộ cánh giống (Homoptera)
- Bộ bọ ngựa (Mantoidae)
- Bộ chuồn chuồn (Odonata)
- Bộ cánh nữa (Heteroptera)
4.2. Hệ thực vật:
4.2.1. Thực vật rừng:
Thực vật rừng Tây Nguyên khá đa dạng và phong phú với nhiều loài thực vật quý
hiếm. Do vừa nằm trên nền khí hậu nhiệt đới gió mùa lại ở nơi có địa hình núi cao nên thực
vật ở đây là sự kết hợp giữa hai nhóm thực vật lá rộng và thực vật lá kim. Ta có thể nhận
thấy sự biến đổi của sự phân bố thực vật rừng từ thấp lên cao ở đây.
Thực vật đặc hữu cho vùng đó là các loài thông (pinus), gồm thông hai lá (Pinus
merkusii), thông ba lá (Pinus langbianensis), thông hai lá dẹt (Pinus krempfii) thông năm lá
(Pinus dalatensis), thông đỏ (Taxus wallichiana Zucc.) …
* Thông 2 lá (Pinus merkusii) do Jungh và De Vries phát hiện ở Sumatra,
Indonesia vào cuối thế kỷ XIX. Merkus là tên của viên toàn quyền người Hà Lan. Thông 2 lá
còn gọi là thông nhựa, được xếp vào loài thông có sản lượng nhựa cao nhất thế giới. Cây cao
khoảng 30m, đường kính có thể đạt 1,5 - 1,6m, đôi khi tới 2m. Vỏ thân có vết nứt sâu và xù
xì hơn thông 3 lá. Lá dài hơn lá thông 3 lá và màu xanh lợt hơn. 2 lá mọc chung trong 1 bẹ.
Trái và hột lớn hơn thông 3 lá.
* Thông 3 lá đã được AugusChevalier đặt tên là Pinus langbianensis nhưng về
sau được xem thuộc loại Pinuskhassya Doyle. Thông 3 lá mọc ở dộ cao từ 1.000 đến 2.300m.
Tuy nhiên, người ta ghi nhận sự hiện diện của loài thông này ở độ cao thấp hơn 1.000m. Về
mặt phân bố tự nhiên, thông 3 lá có diện tích lớn nhất trong tất cả các loài thông ở nước ta.
Thông 3 lá mọc nhiều ở Hà Giang, Sơn La, Gia Lai, Kom Tum nhiều nhất là ở cao nguyên
Langbiang. Cây cao 20-35 m, nhưng đường kính thân cây ít khi vượt quá 70 cm. Các cây
thông 3 lá có đường kính trên 50 cm rất hiếm, chỉ chiếm khoảng 2% quần cư, trong khi cây
có đường kính từ 10 đến 50cm chiếm tỷ lệ 89%. Lá nhỏ, đều như cây kim, màu xanh thẫm,
chỉ có gân nhỏ, 3 lá kim mọc cụm trong một bẹ. Trái hình chóp nón dài 5-10 cm, rộng 4-
5cm. Trái tự khai phát tán những hạt trần nhỏ màu nâu nhạt có cánh nhỏ gió có thể bay đi xa.

họ dẻ… cúng rất đa dạng và phong phú.
4.2.2. Những loài hoa phổ biến ở Đà Lạt.
Bên cạnh những loài đặc hữu thì không thể không kể đến những loài thực vật
đa dạng của vùng núi rừng này như: các loài Lan, cúc, cẩm chướng…
Đặc biệt sự phân bố phong phú và đa dạng là họ Lan (Orchidaceae). Họ Lan
thuộc lớp Một lá mầm (Liliopsida), gồm có 1 bộ, 1 họ và 157 chi. Trong đó phân bố ở Thái
Lan hơn 1.000 loài và Việt Nam có đến 897 loài.
Có những loài Lan đặc hữu chỉ có ở Việt Nam như Lan hài (Paphiopedilum).
Trên thế giới có khoảng 75 loại Lan hài thì Việt Nam đã có đến 22 loài. Có 2 loài nổi tiếng
đó là Hài hồng (P. delenatii) phân bố từ Khánh Hòa đến Đà Lạt và Hài đỏ (P. vietnamense)
phân bố từ Thái Nguyên đến Tuyên Quang. Hiện nay loài Hài đỏ đã tuyệt chủng ngoài tự
nhiên, người ta chủ còn nhìn thấy giống Hài này tại các vườn sưu tập Lan. Ở thành phố Hồ
Chí Minh, các nhà làm vườn đã cho lai tạo giống Hài đỏ và Hài hồng để tạo ra giống hoa
mới có tên khoa học là P. hochiminh để đem bán với giá 100$/cây. Lan hài đã được xếp vào
danh mục hàng hóa không được phép xuất khẩu, tuy nhiên vẫn có hiện tượng xuất lậu loài
Lan quý hiếm này ra nước ngoài.
Ngoài ra, còn có các loài Lan nhập nội như Dendrrobium gồm 105 loại khác
nhau, Địa lan (Cymbidium) với 15 – 20 loại, Ceologyre với khoảng 30 loại. Những loài lan
nhập nội thường không có hương thơm. Các loài Lan tự nhiên có hương thơm, có cánh môi
với nhiều màu sắc phong phú để thu hút sâu bọ, côn trùng đến thụ phấn cho chúng. Lan sống
theo phương thức khí sinh nên ở một số loài có củ hành giả để dự trữ nước và chất dinh
dưỡng. Những loài không có hành giả thì rễ khí sinh phát triển mạnh, đầu rễ có màu xanh,
dài từ 1 – 2 cm.
Ở Đà Lạt cũng nổi tiếng với việc trồng các loại cúc quanh năm. Cúc có Tên khoa học
Chrysanthemum sp. (họ Asteraceae), có nguồn gốc từ Trung quốc và các nước Châu Âu.
Hoa cúc được trồng làm cảnh tại Đà Lạt từ lâu nhưng thực sự trở thành sản phẩm kinh tế từ
năm 1995. Cho đến nay có khoảng trên 70 giống hoa cúc được trồng với mục đích cắt cành
tại Đà Lạt. Giống hoa cúc hiện nay chủ yếu xuất phát từ Hà Lan và du nhập vào Đà lạt với
nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay không thể xác định tên thương phẩm của từng chủng
loại cúc được trồng. Các giống cúc trồng tại Đà Lạt có thể chia theo các nhóm sau:

Qua đợt đi thực tế thiên nhiên Nha Trang, Đà Lạt từ ngày 20/06/1012 đến 27/06/2009 đã
để lại cho em ấn tượng sâu sắc, thiên nhiên đất nước thật là đa dạng , phong phú và đặc hữu.
Em thấy:
Đất nước chúng ta có hình chữ S, địa hình, khí hậu đặc trưng cho mỗi miền, vì vậy thế
giới tự nhiên của mỗi miền cũng hoàn toàn khác nhau:
1. Nha Trang thành phố biển, là nơi có địa hình, khí hậu đặc biệt phù hợp để xây dựng
và bảo tồn các sinh vật biển. Đồng thời có sự tác động của khoa học kĩ thuật làm cho chúng
duy trì, phát triển và ứng dụng chúng vào sự phát triển kinh tế.
2. Đà Lạt có nhiệt độ trung bình từ 8-25
0
C, một ngày có bốn màu xuân, hạ, thu, đông,
địa hình thì đồi núi, thung lũng xen lẫn nhau tạo nên nét đặc trưng riêng cho Đà Lạt.
3. Thực vật ở Tây Nguyên nói chung và ở Đà Lạt nói riêng rất đa dạng phong phú, nhiều
loài có giá trị khoa học và giá trị kinh tế cao như cây nhân sâm Việt Nam, lan hài Việt
Sinh 2A . 2010- 2014 Nguyễn Hữu Lanh
24
Bài thu hoạch thực tập thiên nhiên Nha Trang - Đà Lạt 2012
Nam Đặc biệt năm 2004 các nhà khoa học đã phát hiện ra cây thông đỏ có giá trị khoa học
cao.
4. Lâm Đồng là nơi bảo tồn tính đa dạng phong phú của động vật Tây Nguyên nói riêng
và cả nước nói chung.
5. Đà Lạt có một nền nông nghiệp phát triển nhất đất nước, nó đã cung cấp hấu hết rau
và hoa cho cả nước và phuc vụ xuất khẩu sang một số nước như Canada, Pháp, Mĩ, Nhật ….
6. Đà Lạt đã ứng dụng thành công nuôi cấy mô thực vật, tạo ra nhiều giống rau và hoa
có năng suất cao cung cấp cho bà con nông dân.
7. Việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hạt nhân nguyên tử ở Đà Lạt đã được tiến hành
và đã đạt được nhiều kết quả.
8. Phân viện sinh học nhiệt đới Đà Lạt là nơi nghiên cứu lưu giữ, bảo tồn những mẫu
sinh vật quý hiếm.
9. Có sự khác biệt về thành phần loài trong hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái biển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status