Báo cáo khoa học:
Mô hình hoá kinh tế nông hộ ở miền Bắc:
Mô hình cân bằng cung cầu trong hộ
Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2007: Tập V, Số 2: 87-95
Đại học Nông nghiệp I
Mô hình hoá kinh tế nông hộ ở miền Bắc:
Mô hình cân bằng cung cầu trong hộ
Modeling farm households in the North: the household supply and demand model
Phạm Văn Hùng
1
SUMMARY
The use of mathematical models to describe the interactions of variables is useful in
modern management. In this paper, a mixed model combining a household model and a
form of spatial equilibrium model into a modelling framework is developed. In addition,
the nature of agriculture is such that household farms operate and are constrained by
their location within a village. Therefore, a significant point is that modelling household
farms so as to analyse the effects of changing policies needs to account for the spatial
links between farms in relation to land, labour, inputs and produce when considered in a
tài nguyên khan hiếm nhất và ràng buộc nào là
những ràng buộc lớn nhất cản trở khả năng
phát triển của hộ. Nếu chúng ta có thể tìm ra
những cản trở này thì có thể có những chính
sách thích hợp thức đẩy kinh tế hộ nói riêng và
kinh tế nông thôn nói chung phát triển. Một
trong những hớng nghiên cứu thờng đợc áp
dụng hiệu quả nhất là sử dụng phơng pháp
mô hình hóa nhằm mô phỏng sự thay đổi các
điều kiện (kịch bản) để tìm ra những hạn chế
đối với kinh tế hộ (Moore et al., 1993).
Mục tiêu của bài này là xây dựng và đề
xuất một mô hình phân tích kinh tế hộ, trong
đó có kết hợp đồng thời các ý tởng về mô
hình cân bằng không gian và mô hình cân
bằng các ngành (hoạt động sản xuất) trong
hộ. Trên cơ sở mô hình xây dựng, mô phỏng
sự thay đổi một số điều kiện nhằm tìm ra tác
động của việc thay đổi các chính sách. Cấu
trúc của bài gồm những nội dung sau: Phần
tiếp theo của bài trình bày về ý tởng xây
dựng mô hình lý thuyết. Mô hình thực
nghiệm đợc trình bày trong phần thứ 3.
Phạm Văn Hùng
Phần 4 sẽ mô tả số liệu và các đầu vào của mô hình. Phần 5 là kết quả ớc lợng, mô
phỏng và thảo luận về những kết quả này.
Những kết luận và đề xuất đợc trình bày
giữa các vùng và từng vùng đều có cả cung và
cầu hàng hóa. Đối với trờng hợp trao đổi đất
giữa các hộ thì mỗi hộ sẽ có cung đất đai dới
dạng một số thửa đất (hoặc diện tích đất) và
cầu về đất đai đó dựa trên việc sử dụng đất đai
cho sản xuất của hộ. Giả sử trong làng có m
hộ, mỗi hộ chỉ có diện tích là a
i
, khi đó cung
và cầu đất đai trong làng có thể đợc biểu diễn
nh sau (Hùng và cộng sự, 2006):
A
x
=
a
1
a
1
L
a
1
a
2
a
2
L a
2
O
m
m
m
aaa
aaa
aaa
21
21
21
(m x m
2
)
Trong đó: ma trận A
x
và A
y
phản ánh
cung và cầu đất đai
2
.
Sản phẩm sản xuất ra của hộ cũng có thể
đợc trao đổi với các hộ khác trong phạm vi
j j jx j
j j
P Q P X
(1)
Với ràng buộc
A
x
a
x
- A
y
-a
y
Q
j
=f (a
y
, X
j
)
P
jx
d - p
j
tích đất đai, a
y
và các đầu vào khác. Giả thiết
rằng mỗi hộ nông dân có diện tích là a
i
và có
m hộ. Thửa đất với diện tích a
i
có thể đợc
cung cho hộ i hoặc là một hộ nào đó.
Mô hình (1) cực đại tổng lợi nhuận/thu
nhập của tất cả các hộ trong phạm vi làng
hoặc vùng với ràng buộc là: Cung và cầu đất
đai, hàm sản xuất của sản xuất nông nghiệp
(bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi), lợi
nhuận không âm cho từng hộ và đáp ứng thu
nhập tối thiểu cho từng hộ nông dân. Ngoài ra,
mô hình trên cũng có thể mở rộng để đa
thêm các hoạt động khác nh chi phí giao dịch
của thị trờng đất đai, các hoạt động tín dụng
của hộ; sản xuất hàng hóa Z (hàng hóa không
ra thị trờng).
3. XÂY DựNG MÔ HìNH THựC NGHIệM
3.1. Giả thiết của mô hình
Bởi mô hình thực nghiệm đợc xây dựng
và giải theo lý thuyết của bài toán quy hoạch,
do đó rất nhiều thông tin cần phải có về mối
quan hệ số lợng và cả giá trị giữa các hoạt
động sản xuất và nguồn lực cho sản xuất. Nói
cách khác, nó đòi hỏi những kiến thức về kỹ
trong đó tổng lợi nhuận/thu nhập đợc xác
định là giá trị bán các sản phẩm trồng trọt trừ
đi tổng các chi phí biến đổi. Đối với ngành
trồng trọt, các chi phí này bao gồm các chi phí
cho đầu vào đã sử dụng, đi thuê đất, chi phí
giao dịch trong thị trờng thuê mớn đất đai,
thuế và các khoản phí và các chi phí sử dụng
bởi các hộ. Chi phí cho chăn nuôi gồm chi phí
giống, thức ăn, lao động và các khoản chi
khác. Ràng buộc chính trong mô hình đối với
sử dụng đất sẽ bao gồm cung và cầu đất đai
của từng hộ trong tổng số m hộ, diện tích gieo
trồng của các cây trồng từng hộ có khả năng
cho từng vụ. Để phản ánh tình hình sản xuất tự
cung, tự cấp và hạn mức cho đất lúa, sản xuất
lúa của từng hộ phải đáp ứng nhu cầu tiêu
Phạm Văn Hùng
dùng tối thiểu của hộ. Phần còn lại của sản
lợng lúa hộ có thể đem bán hoặc dùng cho
chăn nuôi. Nh vậy, lúa đợc sản xuất cho 2
mục đích là tiêu dùng nội bộ trong hộ và đem
bán ra thị trờng. Giả thiết rằng hộ không dự
trữ lúa gạo và các sản phẩm khác. Cân bằng
sản phẩm trong hộ có thể đợc mô phỏng nh
hình dới đây:
Trờng hợp cân bằng 1:
X
j
DT lúa
0
0
Cân bằng 1-NS
1
1
1
Sumproduct ( )
0
C
j
0
+ Giá
0 0 Cân bằng 2
1
1
Ngoài lúa, các cây trồng khác sản xuất
chủ yếu để bán ra thị trờng và có thể phục vụ
chăn nuôi (ngô, đậu tơng). Tổng chí phí sản
xuất trồng trọt từng vụ của hộ bao gồm tổng
chi phí biến đổi của tất cả các cây trồng trong
3
Những biến không đa vào mô hình mà có trong hàm f có thể sử dụng ở mức bình quân.
Mô hình hoá kinh tế nông hộ ở miền Bắc
vụ, chi phí đi thuê đất, chi phí giao dịch đất
trong thị trờng thuê mớn đất đai. Đối với
ngành chăn nuôi, giả thiết là hộ chỉ chăn nuôi
lợn thịt và nhằm mục đích bán ra thị trờng.
Hộ có thể sử dụng các sản phẩm sản xuất ra
(lúa, ngô, đậu tơng) để chăn nuôi hoặc mua
thức ăn công nghiệp, hoặc kết hợp cả 2
phơng thức này. Ngoài ra, các ràng buộc
khác trong mô hình là các ràng buộc liên quan
đến sử dụng lao động gia đình và lao động đi
thuê, đi làm thuê, và lao động sử dụng trong
thời kỳ mùa vụ căng thẳng (ràng buộc này có
thể tách riêng cho lao động nữ hoặc nam tùy
theo mục đích nghiên cứu).
3.3. Mô hình toán học
Dựa vào những giả thiết trên, nếu hộ i
(i=1, , m) có diện tích đất canh tác là A
i
đơn
vị (sào); hộ cũng có
i
L
ist
ist
Qp
1 1 1
+
1 1 1
m L T
l
ilt
ilt
i l t
p Q
= = =
+
1
m
o
i
i
i
w L
=
-
= =
m
i
T
i
A
0 với mọi i =1, , m
Tổng đất đai
*
1
m
i
i
A
=
=
m
i
i
A
1
Sản lợng trồng trọt
c
ist
Q
+
s
ist
Q
+
c
F
ilt
(
*
f
ilt
l
) với mọi i = 1, , m,
Tổng lao động
f
i
L
+
l
i
L
+
o
i
L
i
L
với mọi i = 1, , m
Lao động gia đình cho trồng trọt
*
1 1
S T
f
ist
ac
ist
ac
1
*
-
T
R
out
i
+
T
R
in
i
+
*
1
L
l
ilt ilt
l
TC c
=
C
it
với mọi i = 1, , m
và t = 1, , T
ilt
l
p Q
=
-
*
1
L
l
ilt ilt
l
TC c
=
0 với mọi i = 1, , m
và t = 1, , T
*
i
A
,
*
ist
a
,
*
ilt
c
,
R
, và C
it
, 0
*
i
A
(A
i
) là diện tích của hộ i sau khi
(trớc khi) có giao dịch đất diễn ra;
*
ist
a
là diện tích gieo trồng của cây s của
hộ i tại thời kỳ t;
*
ilt
c
là số đầu vật nuôi loại l của hộ i tại
thời kỳ t;
s
ist
Q
,
c
ist
Q
và
l
ist
l ), và đầu vào
ist
X
của cây
trồng s, thời kỳ t;
f
i
L ,
l
i
L
và
o
i
L là chi phí lao động gia đình
cho trồng trọt, chăn nuôi và phi nông nghiệp
của hộ i với giá tiền công là w
i
;
*
f
ist
l
là chi phí lao động gia đình sử dụng
cho cây trồng s của hộ i vào vụ t;
*
f
ilt
l
xuất hiện trong phạm vi làng. Điều đó cho
thấy các hộ nông dân có thể đổi đất cho nhau
hoặc cho thuê/đi thuê giữa các hộ sống trong
cùng một làng. Nh đã thảo luận ở phần trên,
điều này phản ánh thực tế ở nông thôn Việt
Nam bởi cấu trúc làng, xã sẽ rất khó cho các
hộ ở xã này có thể canh tác trên đất ở xã
khác. Số liệu điều tra của Dự án ACIAR ADP
1/97/092 và số liệu ghi sổ trong một năm từ
tháng 7/2002 đến 7/2003 của 3 hộ nông dân
(đợc gọi là các hộ A, B, C) xã Đại Đồng,
huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây đã đợc sử
dụng trong mô hình thực nghiệm. Các hộ này
trồng 4 cây trồng chính là: Lúa chiêm, lúa
mùa, ngô và đậu tơng. Ngô và đậu tơng có
thể trồng cả 3 vụ: Vụ chiêm, mùa và vụ đông,
trong khi lúa chiêm và lúa mùa chỉ trồng ở vụ
tơng ứng. Sản lợng lúa đợc sử dụng cho
cả tiêu dùng (để ăn), chăn nuôi và đem bán
và nó đợc phản ánh bởi hàm sản xuất cực
biên. Trong mô hình các biến của hàm sản
xuất bao gồm quy mô đất đai của hộ, lao
động gia đình, còn các biến khác nh: Giống,
phân bón và các chi phí bằng tiền khác đợc
giả thiết là sử dụng ở mức trung bình đối với
mỗi hộ. Ngô và đậu tơng đợc trồng để bán
hoặc có thể sử dụng cho chăn nuôi. Chăn
nuôi của hộ đợc giả thiết là chỉ có chăn nuôi
lợn. Trọng lợng xuất chuồng đợc tính bằng
trọng lợng tăng thêm và khối lợng giống
5
.
5. KếT QUả Và THảO LUậN
5.1. Kết quả cho bài toán gốc
Bảng 1. Kết quả cho mô hình gốc so sánh (giao dịch đất không bị hạn chế)
4
Đầu vào mô hình Giá trị Các biến chính Lời giải
Giá (1000 đ) Total profits (1000 đ) 43524
- Lúa chiêm 1,9 Qui mô đất (sào) - Hộ A 4,1
- Lúa mùa 2,0 - Hộ B 16,4
- Ngô 2,5 - Hộ C 5,7
- Đậu tơng 4,5 Cho thuê đất (sào) - Hộ A 5,4
Giá lợn bán (tháng 2-5) 10 - Hộ B 0
tháng 6-10 11 - Hộ C 4,7
tháng 11-1 12 Đất đi thuê (sào) - Hộ A 0
Giá nhân công thuê (1000 đ) 20 - Hộ B 10,1
- Hộ C 0
Chi phí giao dịch trong thị Bán sản phẩm (kg)
trờng thuê mớn đất (%) 10 Hộ A - Lúa 0
- Ngô 321
Thời gian làm việc có - Đậu tơng 0
thể của 1 hộ (ngày - ngời) 540 Hộ B - Lúa 7878
- Ngô 0
Qui mô đất ban đầu (sào) 26,1 - Đậu tơng 0
Trong đó: - Hộ A 9,5 Hộ C - Lúa 0
- Hộ B 6,3 - Ngô 0
- Hộ C 10,3 - Đậu tơng 0
Số lợn nuôi cả năm (con)
Trong đó: - Hộ A 15
ngàn đồng (tùy thời điểm), các hộ đã tận dụng
sản phẩm trồng trọt để chăn nuôi với khả năng
tối đai của hộ, hộ A: 15 con, hộ B 30 con, hộ
C 18 con lợn trong 1 năm (với 3 lứa) (Bảng 1).
Để xác định ảnh hởng của thị trờng
quyền sử dụng đất, các hộ bị hạn chế là chỉ
gieo trồng trên đất của mình. Điều này có thể
mô hình hóa bằng cách đa vào 1 ràng buộc
giao dịch đất trong bài toán gốc. Nếu ràng
buộc này đợc dỡ bỏ thì có thể đo đợc ảnh
hởng do giao dịch đất. Nếu đất đai cho phép
tự do chuyển đổi, thu nhập của các hộ tăng
4,1%. Ngoài lúa 2 vụ, hộ A không trồng đậu
tơng và ngô ở vụ 1 và 2 mà chỉ trồng vụ
đông, hộ B trồng ngô ở vụ 2 và 3, còn đậu
tơng chỉ trồng ở vụ đông, hộ C chỉ trồng ngô
và đậu tơng ở vụ 2 mà không trồng ở các vụ
khác. Hộ A có sản phẩm lúa bán cả 2 vụ và
ngô. Khối lợng lúa bán của hộ B giảm rất
nhiều trong khi hộ C bán một phần ngô. Thu
nhập từ chăn nuôi không bị ảnh hởng. Chúng
ta cũng có thể đa thêm ràng buộc về thu nhập
của các hộ, chẳng hạn thu nhập không giảm đi
khi thay đổi điều kiện.
5.2. Mô phỏng sự thay đổi điều kiện
Mô hình có thể đợc sử dụng để xem xét
ảnh hởng của nhiều yếu tố mà những yếu tố
này kỳ vọng là có ảnh hởng đến thu nhập của
hộ, đến thị trờng đất đai, đến khối lợng sản
phẩm hàng hóa. Các thực nghiệm về thay đổi
2-5
10
C 0 0 6 6 6 6 6
A 0 0 0 5 5 5 5
B 0 0 10 10 10 10 10
6-10
11
C 0 6 6 6 6 6 6
A 0 5 5 5 5 5 5
B 10 10 10 10 10 10 10
11-1 12
C 6 6 6 6 6 6 6
Mô hình hoá kinh tế nông hộ ở miền Bắc
Khi giá giảm còn 80% so với ban đầu thì
có hộ B không nuôi vào đầu năm, trong khi hộ
A không nuôi vào giữa năm. Nếu giá giảm
thêm 5% (xuống còn 75%), thì các hộ chỉ nuôi
lợn vào cuối năm (trừ hộ C có nuôi thêm giai
đoạn giữa năm). Khi giá còn 70% so với giá
gốc khởi điểm thì hộ A hoàn toàn không tham
gia chăn nuôi, 2 hộ còn lại chỉ nuôi vào giai
đoạn cuối năm.
6. KếT LUậN
Trong bài này, mô hình lý thuyết kết hợp
giữa các mô hình cân bằng không gian và mô
hình kinh tế hộ kết hợp số nguyên đợc đề
rộng cho nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh
khác nh hộ nông dân trao đổi các thửa đất
cho nhau, tham gia vào thị trờng tín dụng,
tham gia vào thị trờng đất đai, thị trờng các
đầu vào, v.v
TàI LIệU THAM KHảO
Ban chỉ đạo Trung ơng Tổng điều tra nông
thôn, nông nghiệp và thủy sản (2006).
Báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra
nông thôn, nông nghiệp và thủy sản
năm 2006. Hà Nội tháng 12/2006.
Ellis, F. (1998). Peasant Economics: Farm
Households and Agrarian
Development, 2nd edition, Cambridge
University Press.
Hung, Pham Van and MacAulay, T. G.
(2006). Land transactions in the north
of Vietnam: a modelling approach. A
contributed paper to the Conference of
the International Association of
Agricultural Economists, Gold Coast,
Australia, 12-18 August 2006.
Available online at AgEcon Search,
/>.
Hung, Pham Van and T. Gordon MacAulay
and Sally P. Marsh (2006). Modelling
Vietnamese households: an economic
model of land transactions in a village
context, in Gordon MacAulay, Sally
Marsh and Pham Van Hung (eds.),