Luận văn tốt nghiệp: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN doc - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH LÝ VĂN TOÀN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Mã số: 60 - 31 - 10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Ngô Xuân Hoàng
Thái Nguyên, năm 2007 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn
toàn trung thực, và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cám ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày
trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.


Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân. Trước hết tôi xin chân thành
cám ơn các giảng viên khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học trường Đại học
Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là sự hướng dẫn
của Tiến sỹ Ngô Xuân Hoàng trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chí
lãnh đạo và chuyên viên sở Tài chính; sở Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn; sở Kế hoạch và Đầu tư; sở Tài nguyên và Môi trường; sở Lao động
thương binh và Xã hội; sở Y tế; sở Giao thông Vận tải; sở Giáo Dục và đào
tạo; Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng thống kê các huyện; thành phố;
thị xã thuộc tỉnh Thái Nguyên; các quý Ông, Bà lãnh đạo các huyện; thành
phố; thị xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện, góp ý và giúp đỡ
tôi hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo sở Tài chính, lãnh đạo các
phòng, ban trong sở cùng các đồng nghiệp, bạn bè, và gia đình đã cổ vũ động viên
tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lý Văn Toàn


4
Chương 1:Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
5
1.1-Một số vấn đề cơ bản về trang trại
5
1.1.1-Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại
5
1.1.2-Những tiêu chí xác định KTTT
7
1.1.3-Những đặc trưng của KTTT trong nền kinh tế thị trường
9
1.1.4- Yếu tố ảnh hưởng tới phát triển trang trại và KTTT
16
1.1.5-Ý nghĩa kinh tế- xã hội- môi trường của Trang trại
21
1.2-Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước và Việt Nam
26
1.2.1-Tình hình phát triển KTTT ở một số nước trên thế giới
26
1.2.2- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
29
1.3- phương pháp nghiên cứu
35
1.3.1-Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
35
1.3.2. Phương pháp thu thập số liệu
35
1.3.3-Phương pháp sử lý số liệu
35
1.3.4-Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp phân tích

2.3.3-Đất đai sử dụng trong TT của tỉnh Thái Nguyên
57
2.3.4- Lao động trong trang trại của tỉnh Thái Nguyên
57
2.3.5-Kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại
58
2.3.6-Hiệu quả sản xuất của trang trại
60
2.3.7-Thực trạng kinh tế trang trại ở ba vùng
62
2.4-Đánh giá phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT
68
2.4.1-Phân tích các yếu tố bên trong trang trại
68
2.4.2-Phân tích các yếu tố bên ngoài của trang trại
73
Chương 3: Giải pháp chủ yếu để phát triển KTTT ở tỉnh
Thái Nguyên
78
3.1- Phương hướng mục tiêu
78
3.1.1-Phương hướng phát triển kinh tế trang trại
84
3.1.2-Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại
85
3.2-Giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái
Nguyên
87
3.2.1-Giải pháp chung:
87

HTX
Hợp tác xã
5
KD
Kinh doanh
6
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
7
KQSXKD
Kết quả sản xuất kinh doanh
8
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
9
SL
Số lượng
10
SP
Sản phẩm
11
SXKD
Sản xuất kinh doanh
12
SXKDTH
Sản xuất kinh doanh tổng hợp
13
NN
Nông nghiệp
14

LĐGĐ
Lao động gia đình
25
DTBQ
Diện tích bình quân
26
TTNDN
Thuế thu nhập doanh nghiệp
27
XDCB
Xây dựng cơ bản
28
VAC
Vườn ao chuồng DANH MỤC CÁC BẢNG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
Trang
Bảng 1.1 -Trang trại trên địa bàn toàn quốc
13
Bảng 1.2- Tốc độ tăng % của trang trại năm 2001 với 2006
14
Bảng 1.3- Diện tích bình quân trên TT của một số nước trên thế giới.
28
Bảng 1-4-Cơ cấu sản xuất Của các trang trại vùng Đồng và Tây bắc, tính đến
01/7/2006

Nguyên năm 2006
61
Bảng 2.11-Thực trạng hiệu quả KTTT ở vùng núi cao tỉnh TN năm 2006
63
Bảng 2.12- Thực trạng hiệu quả KTTT ở vùng thấp tỉnh TN năm 2006
65
Bảng 2.13- Thực trạng hiệu quả KTTT ở vùng giữa tỉnh TN năm 2006
67 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
Bảng 2.14 - ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập của TT năm 2006
69
Bảng 2.15- ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập của TT năm 2006
71
Bảng 2.16- ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập của TT năm 2006
73
Bảng 3.1- dự kiến phát triển KTTT Tỉnh Thái Nguyên Giai đoạn 2006-2010
86
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

MỞ ĐẦU

1-Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản

truyền thống theo mô hình tự cung, tự cấp chắc chắn không thể cạnh tranh nổi
với nông sản ngoại nhập, cho nên giải pháp nào cho sản xuất hàng hoá nông
sản Việt Nam?
Nghiên cứu để đề ra giải pháp phát triển trang trại trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên, không những chỉ đơn thuần giải quyết vấn đề thực tiễn trang trại
đóng góp về kinh tế cho địa phương, mà chúng tôi còn nhận thức vai trò to
lớn của trang trại trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn theo một tư duy mới, tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp theo
hướng vận dụng một cách đầy đủ các quy luật của nền kinh tế thị trường, đưa
sản xuất nông nghiệp của nước ta tiến dần tới trình độ phát triển của các nước
trong khu vực và các nước trong tổ chức Thương mại Thế giới, tạo ra năng
lực cạnh tranh trên thị trường Quốc tế. Những lý giải và kiến nghị của luận
văn không những hệ thống hoá lý luận, mà nó còn tổng kết thực tiễn phát triển
trang trại của nhiều nước, của các vùng trên cả nước, nó là kinh nghiệm quý
báu phục vụ cho các nhà lý luận và thực tiễn trong việc chỉ đạo, định hướng
phát triển kinh tế trang trại trong giai đoạn hiện nay.
Ở nước ta trong những năm gần đây, kinh tế trang trại phát triển mạnh mẽ
cả về số lượng và quy mô, nên đã cải thiện về thu nhập cho nhiều hộ nông dân,
làm thay đổi bộ mặt của nhiều vùng nông thôn, giải quyết công ăn việc làm cho
395.878 người, trong đó lao động của hộ chủ trang trại là 291.611 người, lao
động thuê mướn là 104.267 người, đưa số lao động bình quân thường xuyên của
trang trại lên 3,5 người [23].
Đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói
riêng, kinh tế trang trại đã đem lại thu nhập cho nhiều gia đình, góp phần xoá
đói, giảm nghèo cho nhiều hộ nông dân. Phát triển kinh tế trang trại là hướng đi
đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3



3.2.2- Thời gian nghiên cứu
Số liệu tập trung thu thập chủ yếu từ năm 2004-2006. Ngoài ra tham
khảo số liệu từ năm 2001-2006.
3.2.3-Nội dung nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực trạng của kinh tế trang trại
tại tỉnh Thái Nguyên.
4-Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hoá làm rõ một số vấn đề giữa lý luận và thực tiễn về trang trại ở
tỉnh Thái Nguyên, để từ đó phân tích đánh giá tình hình hoạt động của trang trại,
để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại.
5-Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 phần chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế trang trại
và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6

nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt,
trồng rừng, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nông, lâm, thuỷ, hải sản” [10].
Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệm
khác nhau, nhưng tựu chung vẫn thống nhất cho rằng, trang trại là một hình
thức tổ chức sản xuất hàng hoá ở mức cao hơn kinh tế hộ về cả quy mô, lẫn
hình thức quản lý. Hơn nữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác ở
các hộ gia đình thì mục đích chủ yếu là tự sản tự tiêu, nhưng mục đích của
người chủ trang trại lại chủ yếu là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị
trường, có quan hệ chặt chẽ và phản ứng nhanh nhạy với thị trường. Còn một
phần nhỏ sản phẩm làm ra phục vụ ngược trở lại cho sản xuất và tiêu dùng.
1.1.1.2-Phân loại trang trại
-Theo các hình thức tổ chức quản lý:
+Trang trại gia đình độc lập: Là trang trại mà độc lập một gia đình thành
lập, và điều hành quản lý.
+Trang trại liên doanh: Là trang trại có từ hai hay nhiều gia đình cùng
nhau thành lập và điều hành quản lý.
+Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là trang trại kết hợp hai hay nhiều
loại hình sản xuất kinh doanh và cùng nhau góp vốn theo hình thức cổ phần hóa.
+Trang trại uỷ thác: Là loại hình trang trại mà người sáng lập, thành lập
nên ủy quyền cho một hay một nhóm người nào đó điều hành quản lý.
-Theo cơ cấu sản xuất:
+Trang trại kinh doanh tổng hợp: Trang trại loại này là loại hình kinh
doanh là chủ yếu, và các mặt hàng kinh doanh đều nhằm phục vụ cho kinh
tế trang trại.
+Trang trại sản xuất chuyên môn hoá: Là loại hình chuyên môn sản xuất
một sản phẩm nông nghiệp nào đó mang tính sản xuất hàng hóa lớn.

hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8

a-Đối với trang trại trồng trọt
-Trang trại trồng cây hàng năm
+Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung.
+Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
- Trang trại trồng cây lâu năm
+Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung.
+Từ 5 ha đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
+Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
-Trang trại lâm nghiệp
+Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b- Đối với trang trại chăn nuôi
-Chăn nuôi đại gia súc, trâu, bò
+Chăn nuôi sinh sản lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên.
+Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,
+Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với
dê, cừu từ 100 con trở lên.
+Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (Không kể lợn
sữa) dê thịt từ 200 con trở lên (Không tính con dưới 7 ngày tuổi).
c- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
-Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (Riêng đối
với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1ha trở lên)
d-Đối với các loại sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất
đặc thù như: trồng hoa cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ đặc sản,
thì tiêu chí xác định là giá trị hàng hoá (tiêu chí 1)[4].

theo vùng sản xuất, bởi vì ngoài tác động của thông tin thị trường, sản phẩm
nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện tự nhiên, chính vì thế,
các trang trại sản xuất cũng phải tuân thủ điều kiện tự nhiên của vùng. Tuy
vậy, họ cố gắng lựa chọn những nông sản được coi là thế mạnh của vùng mà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10

họ đang tiến hành sản xuất. Sự lựa chọn này tạo cho các trang trại lợi thế,
được gọi là lợi thế so sánh. Vì vậy muốn sản xuất hàng hoá phải đi sâu vào
chuyên môn hoá, nhưng phải kết hợp với phát triển tổng hợp mới khai thác
được mọi nguồn lực của vùng, đồng thời còn hạn chế được các rủi ro như
thiên tai, dịch bệnh, sự biến động của thị trường.
Hai là: Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng của một người chủ độc lập.
Lý thuyết kinh điển Mác-Lê Nin về điều kiện để sản xuất hàng hoá
đã nêu rõ: Có sự phân công lao động xã hội. Có những hình thức sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất. Rõ ràng, về điều kiện sản xuất hàng hoá của trang
trại thoả mãn điều kiện để sản xuất hàng hoá. Người chủ trang trại là người
nắm giữ quyền sở hữu về tài sản, nếu như nắm quyền sử dụng tài sản, thì tài
sản này có thể được hình thành dưới hình thức vốn góp hoặc đi thuê tài sản tài
chính, như vậy xét dưới góc độ là tài sản của trang trại, thì những tài sản này
dù được hình thành bằng cách nào, nó vẫn thuộc quyền sử dụng của trang trại,
có thể tạo ra lợi ích về kinh tế trong tương lai. Đứng trên khía cạnh của quan
hệ sản xuất, người chủ trang trại là người có quyền định đoạt việc phân phối
sản phẩm do trang trại mình sản xuất ra.
Ba là: Trong các trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất được
tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá.
Sự phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình tích tụ vốn và tập
trung đất. Nông hộ phải tập trung đất đai với quy mô nhất định, mới có điều

ra các biện pháp khắc phục. Một trong những biện pháp cần phải thực hiện là
đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai phù hợp với đường lối phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” [16].
Đồng thời thể chế hóa các quan điểm đó được xác định trong Nghị quyết Hội
nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về “Tiếp tục đổi mới
chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12

Trên cơ sở những điều, luật định Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình tích tụ, và tập trung ruộng đất một cách hợp lý để tạo ra những
điều kiện tiền đề, góp phần vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại.
Bốn là: kinh tế trang trại có cách thức tổ chức và quản lý sản xuất
tiến bộ dựa trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường
xuyên tiếp cận thị trường.
Dưới góc độ kỹ thuật canh tác: trang trại là đơn vị sản xuất hàng hoá áp
dụng một cách tích cực những tiến bộ của khoa học công nghệ để thâm canh,
tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; nhờ đó, sản phẩm sản xuất ra mới đảm bảo
tiêu chuẩn mà khách hàng yêu cầu, thoả mãn nhu cầu thị trường, từ đó tăng
năng lực cạnh tranh sản phẩm, từ đó làm cho năng suất lao động của trang trại
cao hơn hẳn so với phương thức sản xuất của các hộ.
Cụ thể tính đến ngày 5/5/2003 cả nước đã có gần 72.000 trang trại, tạo
ra giá trị hàng hoá dịch vụ trên 7.000 tỷ đồng [1]. Nhưng tính đến thời
điểm 01/7/2006 thì cả nước đã có tới 113.730 trang trại, thu hút được
395.878 lao động, sử dụng 663.359 ha đất và mặt nước các loại, đã huy
động được 29.320.841 triệu đồng cho hoạt động kinh tế trang trại, mỗi
năm có doanh thu từ hoạt động kinh tế trang trại là 19.826.040 triệu đồng,

933
3
Bắc Ninh
1 788
35
Quảng Ngãi
322
4
Hà Tây
1 574
36
Bình Định
993
5
Hải Dương
717
37
Phú Yên
2 735
6
Hải Phòng
1 418
38
Khánh Hòa
2 498
7
Hưng Yên
2 185
39
Kon Tum

930
13
Cao Bằng
55
45
Bình Thuận
1 883
14
Bắc Kạn
21
46
Bình Phước
4 440
15
Tuyên Quang
77
47
Tây Ninh
2 053
16
Lào Cai
213
48
Bình Dương
1 876
17
Yên Bái
319
49
Đồng Nai

Bến Tre
3 479
23
Điện Biên
127
55
Trà Vinh
2 601
24
Lai Châu
117
56
Vĩnh Long
361
25
Sơn La
92
57
Đồng Tháp
4 319
26
Hòa Bình
186
58
An Giang
6 180
27
Thanh Hóa
3 384
59

Cà Mau
3 356

Tổng số trang trại
113.730
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2006

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14

Nếu so sánh giữa năm 2001 và năm 2006 về số lượng trang trại ta tham
khảo (bảng 1.2) dưới đây.
Bảng 1.2 Tình hình trang trại giai đoạn 2001-2006
Chỉ tiêu
Năm 2001
Năm 2006
So sánh
2006/2001
SL
CC%
SL
CC%
Số
tăng
%
Tổng số
61017

14.69
14947
948.8
2. TT lâm nghiệp
1668
2.73
2661
2.33
993
159.5
3. TT nuôi trồng TS
17016
27.88
34202
30.07
17186
201.0
4.TT sản xuất KDTH
2240
3.67
4630
4.07
2390
206.7
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2006
Ta thấy cơ bản về cơ cấu trang trại là không thay đổi nhiều lắm, chỉ có
duy nhất loại hình trang trại chăn nuôi là cơ cấu tăng cao từ 4,4% tăng lên
23,1%. Nhưng về mức độ tăng số lượng trang trại lên tới 186,4%. Đây là con
số tăng khá lớn, bởi vì theo các tiêu chí mới về kinh tế trang trại thì một số
trang trại cũ không được xếp hạng, nếu vẫn theo tiêu chí cũ để đánh giá thì số

Sản xuất trong trang trại đã vượt quá quy mô sản xuất gia đình nông hộ,
như trên đã nói, quy mô sản xuất của trang trại đã lớn: đó là quy mô tư liệu sản
xuất tăng lên rất lớn: diện tích sản xuất, số lượng trang thiết bị sản xuất…. cũng
như quy mô khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ cũng lớn hơn. chính vì
vậy, số lao động có tính chất gia đình của chủ trang trại là không thể đảm
đương được. Ngay cả trường hợp đổi công cũng không phải là giải pháp khả
thi. Như vậy, tất yếu trang trại buộc phải thuê mướn lao động. “Cụ thể cả nước
có 395 878 người tham gia vào hoạt động kinh tế trang trại, trong đó lao động
của hộ chủ trang trại là 291 611 người, bình quân mỗi trang trại là 2,6 người;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16

lao động thuê mướn là 104 267 người, bình quân trên một trang trại là 0,9
người” [22]
1.1.4- Yếu tố ảnh hưởng tới phát triển trang trại và kinh tế trang trại
1.1.4.1- Những nhân tố khách quan.
a-Thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Phải nêu lên các vấn đề: sản phẩm, đặc điểm sản phẩm nông nghiệp
khi tiêu thụ như (tươi sống, khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông
nghiệp mang tính mùa vụ và có đặc điểm là cung muộn- không thể đáp ứng
một cách ngay lập tức, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật
sống, nó cần phải có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước
thu hoạch, do vậy, dù giá nông sản rất cao, các nông trại phải mất hàng
tháng, thậm chí hàng năm mới có được sản phẩm).
Đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chia
theo nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Ví dụ, những khách hàng là những công
dân của những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chất
lượng sản phẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giá
cao khi mua nông sản. Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status