Luận văn tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Công Thương Việt Nam pot - Pdf 15


LUẬN VĂN
Thực trạng và giải pháp phòng ngừa hạn
chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Công
Thương Việt Nam
khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị trì hoãn, thậm chí là
không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân
2

chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt
động của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà
còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác như tài trợ thương
mại, thấu chi, bao thanh toán…
- Rủi ro lãi suất: là rủi ro làm giảm lợi nhuận ròng khi lãi suất biến động theo
chiều hướng bất lợi. Rủi ro lãi suất xảy ra khi có sự chênh lệch giữa kỳ hạn bình
quân của các tài sản và các khoản nợ của ngân hàng trong điều kiện lãi suất thị
trường thay đổi ngoài dự kiến của ngân hàng dẫn đến khả năng giảm thu nhập của
ngân hàng so với dự tính.
- Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các NHTM là
huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn, hay nói cách khác là rủi ro khi các NHTM
không đáp ứng được cho các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán do tài sản của
ngân hàng không có khả năng thanh khoản hay không thể huy động vốn. Trường
hợp này thường xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt kỹ thuật sẽ phải hoàn
trả theo yêu cầu của người gửi tiền. Đặc biệt, như chúng ta đã thấy trong bất cứ
một cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của mình ra nhanh hơn
việc người đi vay sẵn sàng trả nợ.
- Rủi ro ngoại hối: là rủi ro phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn của các khoản
ngoại hối mà các NHTM đang nắm giữ, và vì thế làm cho các NHTM có thể phải
gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.
- Rủi ro hoạt động: là rủi ro liên quan đến công nghệ, cơ sở hạ tầng, quy trình, con
người trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng, hay nói cách khác rủi ro
hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một NHTM
điều hành các hoạt động của mình.
- Rủi ro luật pháp: là rủi ro ngân hàng có thể bị khởi kiện vì để xảy ra những sai
sót hoặc sự cố trong quá trình hoạt động kinh doanh gây thiệt hại cho khách hàng

với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý hậu quả rủi
ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra
biện pháp phù hợp.
1.2.2.2. Rủi ro tín dụng có tính tất yếu:
Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là
quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi
4

nhuận tương ứng. Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến rủi ro,
đặc biệt do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho
hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, nên bất cứ khoản cho vay nào cũng
tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động tín dụng của các NHTM. Vì vậy trong
quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM cần chủ động có các biện pháp
thích hợp để xác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro.
1.2.2.3. Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự báo:
Các rủi ro có thể dự báo trước: danh mục cho vay hay đầu tư của một NHTM luôn
luôn có một số khoản thất thoát tiềm tàng chưa được xác định. Tuy nhiên, nếu giả
định rằng các đặc điểm chung của danh mục cho vay nhìn chung vẫn giống nhau
trong một giai đoạn hợp lý thì các NHTM có thể dự báo các khoản thất thoát này
với một mức độ tương đối chính xác bằng cách nghiên cứu các đặc điểm diễn biến
của danh mục cho vay theo thời gian.
Các rủi ro không thể dự báo trước: có nhiều sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của
các NHTM, các cú sốc ngoại sinh do các điều kiện chưa phát sinh tại thời điểm ký
kết một thỏa thuận kinh doanh, là những nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro mà
các NHTM không thể dự báo trước.
1.2.3. Biểu hiện của rủi ro tín dụng:
Vì rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) vỡ nợ của khách hàng nên:
- Những khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong việc trả nợ là biểu hiện rõ nhất.
- Bên cạnh đó, các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau
cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau.

trong điều kiện môi trường thông tin bất cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu.
+ Xuất phát từ hệ thống văn bản luật:
Về cơ bản, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được Luật hoá trong các văn bản
Luật và các văn bản pháp quy của Chính Phủ, NHNN. Tuy nhiên, qua nghiên cứu,
phân tích, đồng thời, đúc kết từ những trường hợp rủi ro trong thực tế hoạt động
của các NHTM cho thấy vẫn còn những “lỗ hỏng” khá nguy hiểm, đó vừa là
những nguyên nhân sâu xa, vừa là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến rủi
ro tín dụng của các NHTM.
6

- Hoạt động tín dụng của các NHTM hiện nay chịu sự điều chỉnh, chi phối của khá
hiều luật, văn bản dưới luật chồng chéo, không rõ ràng, không hợp lý, thiếu tính
chặt chẽ và chưa thật sự hoàn chỉnh .
- Chính Phủ thường xuyên ban hành mới các chính sách về thuế, về xuất nhập
khẩu, hoặc các quy định về đất đai, nhà ở…Khi một chính sách bị thay đổi đột
ngột sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến kế hoạch,
cũng như khả năng dự báo sức tiêu thụ trên thị trường của các doanh nghiệp. Việc
định hướng chiến lược sản xuất, kinh doanh không phù hợp, không chính xác sẽ
dẫn đến sản xuất cung vượt cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, giá bán hạ, thua lỗ, khách
hàng sẽ không đảm bảo nguồn tiền trả nợ cho các NHTM.
+ Xuất phát từ công tác kiểm tra, thanh tra:
- Hiện nay, bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra,
kiểm tra, giám sát của NHNN đối với các NHTM chưa thật sự có hiệu quả:
- Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số
nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới thanh tra còn chưa nắm bắt kịp thời.
- Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát còn lạc hậu, chậm được đổi mới,
hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng
ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro và vi phạm.
+ Xuất phát từ các cơ quan ban ngành liên quan:
Hoạt động của các cơ quan ban ngành có liên quan đến hoạt động tín dụng của các

Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của một bộ phận cán bộ
tín dụng hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu công việc. Điều này có thể thấy trong
thực tế qua việc bố trí công việc chưa phù hợp với trình độ chuyên môn, bản thân
từng cán bộ chưa có ý thức tự nâng cao nghiệp vụ. Ngoài ra có thể nhận thấy rõ
nét nhất là công tác phân công cán bộ tín dụng quản lý khách hàng của các NHTM
hiện nay không theo chuyên ngành kinh tế, từ đó dẫn đến việc:
- Cán bộ tín dụng làm việc theo kiểu đa năng, không chuyên sâu vào một ngành
nghề cụ thể nào nên không có nhiều kiến thức chuyên ngành. Khách hàng khi
cung cấp các dự án, có nhiều thông số kỹ thuật máy móc chuyên ngành hoàn toàn
xa lạ với cán bộ tín dụng. Thuê chuyên gia đánh giá đòi hỏi chi phí cao nên chủ
yếu mà các ngân hàng thường làm trong những trường hợp này là tự tìm hiểu
thông tin thông qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, qua mạng internet.
8

- Nếu cán bộ tín dụng không có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành cần thẩm
định sẽ đưa ra những đánh giá sai, gây bức xúc cho khách hàng hoặc ngược lại,
khách hàng thông tin sai mà không biết, gây ra những quyết định sai lầm trong cho
vay.
Ngoài ra, sự gắn bó, nổ lực với công việc của một bộ phận cán bộ tín dụng cũng
chưa được phát huy do chính sách tuyển dụng, sử dụng, phân công, bố trí công
việc và vấn đề đãi ngộ của các NHTM (đặc biệt là các NHTMNN) chưa đủ sức thu
hút. Thực tế hiện nay cho thấy do tác động của quá trình cạnh tranh, rất nhiều cán
bộ tín dụng giỏi, nhiều kinh nghiệm của các NHTMNN đã được các NHTMCP,
các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tuyển dụng vào những vị trí quan trọng
với nhiều đãi ngộ. Nguồn nhân lực của các NHTMNN đã mỏng do quá trình mở
rộng mạng lưới, lại ngày càng bị hao hụt do chính sách tuyển dụng, sử dụng, phân
công, bố trí công việc, và vấn đề đãi ngộ chưa thật sự thu hút.
+ Xuất phát từ chính sách, quy trình tín dụng và sự vận dụng chính sách, quy
trình tín dụng chưa nghiêm túc:
Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến chất lượng tín dụng của các

dụng quy trình tín dụng mới với việc phân chia độc lập giữa ba chức năng: quan
hệ khách hàng, quản lý rủi ro và quản lý nợ. Tuy vậy, giữa mô hình phân chia cũ
và mới, bên cạnh những ưu điểm vẫn tồn tại những hạn chế chưa thể khắc phục
ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng.
- Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, trong quá trình vận
dụng không ít NHTM đã bỏ qua các bước của quy trình, hạ thấp tiêu chuẩn đánh
giá khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, năng lực sản xuất
kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay nên nảy sinh nhiều
sai phạm: về điều kiện vay vốn, về việc lập hồ sơ vay vốn, về việc kiểm tra, quản
lý nợ vay, về cơ cấu lại thời hạn trả nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ gốc
và lãi).
Việc nhận thức chưa đầy đủ và vận dụng chưa thật sự nghiêm túc của cán bộ tín
dụng đối với các chính sách và quy trình tín dụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng của các NHTM vì nếu nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêm túc các quy

THIẾT L ẬP
HỒ SƠ
KHÁCH
HÀNG VAYTHANH LÝ
HỢP ĐỒNG
VÀ XỬ LÝ
TRANH CHẤPGIẢI
NGÂN
VÀ THU

hàng được xem là chiến lược phục vụ của ngân hàng là khu vực kinh tế tư nhân thì
còn quá non trẻ, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có danh tiếng trên
thị trường, ý thức của doanh nghiệp trong việc xây dựng uy tín và thương hiệu
chưa cao, các hiệp hội ngành thì chưa phát huy vai trò của mình, chưa hỗ trợ nhiều
cho các doanh nghiệp thành viên phát triển, nhất là việc giới thiệu các thành viên
cho thị trường nên đã dẫn đến việc thu thập thông tin để đánh giá đối với khu vực
kinh tế trên là rất khó khăn.
- Đánh giá năng lực của khách hàng:
* Về năng lực quản trị: nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành
bại của một doanh nghiệp và cũng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đồng vốn
của ngân hàng. Tuy nhiên, việc đánh giá nguồn nhân lực, nhất là bộ phận lãnh đạo
của khách hàng hiện nay hoàn toàn chưa có cơ sở, chủ yếu là liệt kê bằng cấp và
số năm công tác.
* Về năng lực tài chính: công việc đánh giá được thực hiện chủ yếu dựa vào việc
phân tích số liệu trên các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp. Hiện nay do
11

Việt Nam chưa có quy định về minh bạch thông tin nên có thể nói độ tin cậy của
các báo cáo tài chính chưa thật sự cao nên việc phân tích báo cáo tài chính sẽ
không phản ánh đúng thực chất năng lực tài chính của khách hàng.
Đánh giá hiệu quả phương án/dự án vay là khâu quan trọng, ảnh hưởng lớn nhất
đến khả năng thu hồi vốn của các NHTM. Tuy nhiên do có nhiều nhân tố chủ quan
và khách quan tác động nên đã dẫn đến chất lượng đánh giá phương án/dự án vay
chưa thật sự hiệu quả:
- Khi nhận một dự án, cán bộ thẩm định sẽ phải tiến hành thẩm định các khía cạnh
như yếu tố thị trường, kỹ thuật, công nghệ và cả các yếu tố kinh tế, xã hội của dự
án. Tuy nhiên, việc thẩm định dự án trong một môi trường thiếu thông tin như của
Việt Nam là một thách thức lớn đối với các cán bộ thẩm định. Trên thị trường hiện
nay, có rất ít doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường. Do đó,
khi đánh giá thị trường đối với sản phẩm của dự án, cán bộ thẩm định chủ yếu phải

Ngoài ra, về phương pháp định giá đối với từng loại tài sản chưa được các NHTM
sử dụng một cách thích hợp, dẫn đến việc: nếu định giá thấp, khách hàng không
hài lòng, nhưng nếu định giá cao, NHTM sẽ khó đảm bảo khả năng thu hồi nợ vay
và lãi vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, khi đó buộc
NHTM phải thanh lý tài sản thế chấp, cầm cố.
Kinh tế tăng trưởng cao trong vài năm trở lại đây cùng với giá bất động sản bị đẩy
lên cao do đầu cơ và vượt xa giá trị thực đã làm nảy sinh tư tưởng lạm dụng vào
TSBĐ. Sẽ rất rủi ro nếu cán bộ tín dụng quên rằng khoản vay cần phải được trả
bằng chính dòng tiền tạo ra bởi phương án sản xuất kinh doanh chứ không phải
bằng tiền bán TSBĐ. TSBĐ chỉ là sự đảm bảo cuối cùng khi phương án kinh
doanh của khách hàng gặp rủi ro ngoài dự kiến. Tâm lý dựa chủ yếu vào TSBĐ sẽ
làm giảm chất lượng thẩm định khoản vay nên sẽ không đánh giá chính xác được
hiệu quả và sự an toàn của khoản vay, dễ dẫn đến việc cho vay những dự án rủi ro,
khách hàng không uy tín. Đây là thực trạng đáng lo ngại trong quan điểm cấp tín
dụng hiện nay của các NHTM. Từ sự lựa chọn không chắc chắn khách hàng tốt để
cung cấp tín dụng nên để giảm bớt rủi ro, các NHTM đã tính một phần rủi ro vào
trong lãi vay ngân hàng, làm cho khách hàng vay tốt phải gánh chịu một mức lãi
vay cao hơn mức đáng ra họ được hưởng. Đây cũng là tâm lý thường thấy ở các
NHTM của các nước đang phát triển.
13

Đối với vấn đề bảo hiểm tài sản, cán bộ tín dụng thường không chú ý đôn đốc,
kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khi phương tiện bị
tai nạn, việc trục vớt, sửa chữa phải bỏ thêm rất nhiều vốn, gây khó khăn lâu dài
về khả năng thanh toán khoản nợ vay…
Thông tin bất cân xứng về giá trị thực của TSBĐ giữa khách hàng và NHTM cũng
là vấn đề cần được quan tâm. Khi thế chấp, cầm cố tài sản chỉ có khách hàng biết
rõ về hiện trạng của tài sản như sự hỏng hóc trong các dây chuyền sản xuất, máy
móc, thiết bị, hoặc ngôi nhà rất khó bán do một số đặc điểm đặc biệt. Trong khi đó
trình độ của cán bộ thường không đáp ứng đầy đủ chuyên môn trong tất cả các

Việc thu thập thông tin của mỗi ngân hàng về khách hàng, về ngành nghề, về môi
trường kinh tế mà khách hàng đang hoạt động, về các văn bản mới được ban hành,
về tình hình diễn biến giá cả thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt là những
cảnh báo về các ngành hàng ngân hàng đang và sẽ đầu tư chưa được thực hiện một
cách thường xuyên và có tính hệ thống.
+ Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ:
Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một số ngân
hàng, bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạng thiếu
nhân sự, cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinh
nghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịp thời
nhằm chấn chỉnh và tư vấn cho ban điều hành về những rủi ro tín dụng có thể xảy
ra.
Kiểm soát nội bộ có một số ưu thế hơn so với việc thanh tra, kiểm tra của NHNN
do:
- Xét về thời gian, công tác kiểm soát nội bộ của các NHTM xử lý kịp thời, nhanh
chóng các vấn đề ngay khi vừa phát sinh.
- Xét về tính sâu sát của người kiểm soát viên, do việc kiểm tra được thực hiện
thường xuyên cùng với công việc kinh doanh nên mọi vấn đề được hiểu đúng với
bản chất của nó.
1.2.4.3. Nguyên nhân từ phía khách hàng đi vay:
+ Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
Trong hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn tự có của mình, các doanh nghiệp
luôn phải sử dụng một nguồn vốn bên ngoài, đó là vốn vay các NHTM. Đây là
15

nhu cầu vay vốn rất cần thiết nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp thực hiện
nhiệm vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách ổn định. Tùy đặc điểm và tính
chất hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp, việc sử dụng vốn vay của các
NHTM cũng có sự khác nhau.
Rủi ro tín dụng xuất phát từ phía khách hàng là doanh nghiệp thường do:

Sự biến động quá nhanh, và khó có thể dự đoán được trên các mặt kinh tế, chính
trị, xã hội trong và ngoài nước cũng ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cấp tín
dụng của các NHTM. Biểu hiện rõ nét nhất là tình hình biến động giá cả các mặt
hàng mà các NHTM đang đầu tư, hoặc các cơ chế, chính sách thương mại, chính
sách xuất nhập khẩu các nước áp dụng đối với Việt Nam (hạn ngạch, chính sách
bảo hộ, hay các vụ kiện thương mại, ):
- Ngành dệt may trong những năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị khống
chế hạn ngạch đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp dệt may.
- Mặt hàng thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá phôi
thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất
do chi phí giá thành cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
- Dầu thô, nông, lâm, thủy hải sản…cũng ở trong tình trạng tương tự: giá cả diễn
biến bất thường và chính sách bảo hộ thị trường, cạnh tranh với các đối tác lớn
cũng gây rủi ro cho các nhà xuất khẩu
Bên cạnh đó, quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác
động không nhỏ đến hoạt động cấp tín dụng của các NHTM. Với môi trường hội
nhập, các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối
mặt với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, nguy cơ thua lỗ là điều có thể xảy ra.
Bản thân các NHTM trong môi trường hội nhập kinh tế cũng gặp phải những nguy
cơ rủi ro khi phải cạnh tranh với các NHTM nước ngoài vốn mạnh hơn về mọi
mặt, khi vấn đề nợ xấu gia tăng vì hầu hết những khách hàng có tiềm lực tài chính
lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
Cuối cùng là do sự ổn định của nền kinh tế nước ta khi chính sách quản lý kinh tế
vẫn có những thay đổi đột ngột, hành lang pháp lý chưa thật sự an toàn, điều chỉnh
quy hoạch các ngành, các vùng chưa phù hợp…
1.2.5. Đánh giá rủi ro tín dụng:
17

Các Ngân hàng phải đánh giá và xác định rủi ro tín dụng trên cơ sở khả năng

giảm lợi nhuận, lỗ hoặc mất vốn dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn vốn để chi trả
tiền gửi cho khách hàng. Các NHTM do không thu hồi được các khoản nợ và lãi
đến hạn, dẫn đến mất khả năng thanh toán, nếu nghiêm trọng và kéo dài dễ gây
hiệu ứng phản ứng dây chuyền, đe dọa đến hàng loạt các NHTM khác do khách
hàng đua nhau rút tiền gửi, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng tài chính, tiền tệ.
Bài học về sự đổ vỡ hàng loạt các hợp tác xã tín dụng trong những năm 1989-1990
ở nước ta, Chính Phủ đã phải bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để ổn định tình hình kinh tế
và an ninh xã hội; nhìn rộng hơn là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực
Đông Nam Á vào những năm 1997-1998, Chính Phủ nhiều nước và các tổ chức tài
chính quốc tế đã phải dốc hầu bao để cứu nguy các NHTM, cơ cấu lại các NHTM,
quyết định giải thể, sáp nhập các NHTM để đảm bảo khả năng thanh toán, duy trì
mở rộng tín dụng nhằm phục hồi kinh tế các nước gặp khủng hoảng.
1.2.6.1. Tác động đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM:
Khi gặp rủi ro tín dụng, các NHTM chẳng những không thu hồi được vốn tín dụng
đã cấp và lãi từ hoạt động cho vay, mà còn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy
động khi đến hạn, điều này làm cho các ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi.
Hay nói cách khác, các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản,
mất lòng tin của người gửi tiền, từ đó ảnh hưởng đến uy tín của cả ngân hàng. Và
không thu được nợ, vòng quay vốn tín dụng của các NHTM sẽ giảm từ đó làm cho
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng không đạt hiệu quả như mong muốn.
Tóm lại, rủi ro tín dụng xảy ra ở những mức độ khác nhau: nhẹ nhất là các NHTM
sẽ bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khi các
NHTM không thu được cả vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao sẽ dẫn đến bị lỗ và
mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, các NHTM có thể sẽ
bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân
hàng nói riêng. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận
trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
1.2.6.2. Đối với nền kinh tế nói chung:
Khi một NHTM gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở khắp
mọi nơi sẽ rơi vào tâm trạng hoang mang, lo sợ, khi đó sẽ xảy ra tình trạng mọi

Ban điều hành có trách nhiệm thực hiện chiến lược chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu
được Hội đồng quản trị phê duyệt, phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát
20

hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu. Các chính sách và thủ tục này cần
nhằm vào rủi ro nợ xấu phát sinh trong mọi hoạt động của ngân hàng, ở cấp độ
từng khoản tín dụng cũng như toàn bộ danh mục đầu tư. Các thủ tục, quy trình,
văn bản cần được xây dựng, triển khai cũng như các trách nhiệm phê duyệt, xem
xét khoản cho vay cần được phân định rõ ràng và phù hợp.
1.3.3. Nguyên tắc 3:
Các ngân hàng cần xác định và quản trị rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt
động của mình. Đối với các sản phẩm và hoạt động mới, ngân hàng cần xây dựng
biện pháp quản trị rủi ro và kiểm soát phù hợp trước khi được đưa vào sử dụng
hoặc triển khai và phải được Hội đồng quản trị phê duyệt. Điều quan trọng là Ban
điều hành cần xác định rằng các nhân viên liên quan trong bất kì hoạt động nào có
rủi ro tín dụng, cho dù là đã thực hiện hay là hoạt động mới, cơ bản hay phức tạp,
điều phải có đủ năng lực thực hiện với những tiêu chuẩn cao nhất và tuân thủ các
chính sách và thủ tục của ngân hàng.
1.3.4. Nguyên tắc 4:
Các ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh
được xác định rõ ràng. Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường mục tiêu của ngân
hàng và đồng thời ngân hàng phải hiểu biết rõ về khách hàng vay vốn cũng như
mục đích và cơ cấu của khoản tín dụng. Hay nói cách khác các tiêu chí cần chỉ rõ
đối tượng khách hàng đủ tiêu chuẩn được cấp tín dụng, các loại hình tín dụng và
các điều khoản và điều kiện cấp tín dụng.
1.3.5. Nguyên tắc 5:
Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng và nhóm
khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể
so sánh và theo dõi được trong sổ sách kế toán của ngân hàng và sổ sách kế toán
kinh doanh, nội bản và ngoại bản.

dụng:
Mặc dù có bề dầy hoạt động hàng trăm năm, nhưng vào năm 1997 - 1998, hệ
thống ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính - tiền
tệ Châu Á. Nhiều công ty tài chính và NHTM bị phá sản hoặc buộc phải sáp nhập.
Trước tình hình đó buộc các ngân hàng Thái Lan phải xem xét lại toàn bộ chính
sách, cách thức, quy trình hoạt động ngân hàng, đặc biệt là lĩnh vực tín dụng nhằm
22

giảm thiểu rủi ro…Đi đôi với việc đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng và dịch vụ,
xác định khách hàng, mục tiêu, chủ động tiếp thị khách hàng…một loạt các thay
đổi căn bản trong hoạt động tín dụng đã được các ngân hàng Thái Lan triển khai
nhanh chóng và triệt để:
- Tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy
trình giải quyết các khoản vay, ví dụ điển hình như:
* Tại Bangkok Bank: trước đây, các bộ phận trong quy trình cấp tín dụng chỉ là
một, nay, đã tách hẳn thành hai bộ phận độc lập: bộ phận tiếp nhận giải quyết hồ
sơ và bộ phận thẩm định. Trong đó, bộ phận thẩm định phải có báo cáo thẩm định
tín dụng, gồm: chiến lược và kế hoạch kinh doanh, báo cáo xếp hạng rủi ro…Đây
là một thay đổi căn bản của Bangkok Bank nhằm bảo đảm tính độc lập, khách
quan trong quá trình thực thi cấp tín dụng.
* Tại Siam Comercial Bank (SCB): cũng đã xây dựng mô hình tổ chức triển khai
dịch vụ tín dụng theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm của ba bộ phận:
Marketing khách hàng, thẩm định và quyết định cho vay. Ngân hàng đã phân loại
khách hàng theo từng nhóm, từ đó nhận rõ tính chất khác nhau làm cơ sở cho việc
xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận trong việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ,
thẩm định và ra quyết định.
- Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề mang tính nguyên tắc trong hoạt động tín dụng.
Trước đây rất nhiều ngân hàng Thái Lan không tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên
tắc tín dụng trong quá trình cho vay, chỉ quan tâm đến TSBĐ, không quan tâm đến
dòng tiền của khách hàng. Vì thế, hậu quả là nợ xấu có lúc lên tới 40% (1997-


24

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CN 11
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội Quận 11 trong thời gian qua:
Quận 11 chính thức có tên trên bản đồ Sài Gòn-Gia Định từ ngày 01/07/1969 theo
sắc luật số 73 của chính quyền Sài Gòn cũ. Ban đầu gồm 4 phường được tách ra từ
Quận 5 và Quận 6: Phường Phú Thọ (Quận 5 cũ), Phường Cầu Tre, Bình Thới,
Phú Thọ Hòa (Quận 6 cũ). Sau đó lập thêm 2 phường là Bình Thạnh và Phú
Thạnh.
Sau ngày giải phóng 30/04/1975, địa bàn Quận 11 được giữ nguyên với 6 phường
và 47 khóm. Đến ngày 01/06/1976 được phân chia lại thành 21 phường. Sau nhiều
lần điều chỉnh địa giới, đến nay Quận 11 có 16 phường. Quận 11 có tổng diện tích
513,58 ha, nằm ở Tây Nam thành phố. Giáp Quận Bình Tân ) ở phía Bắc và Tây
Bắc, phía Đông giáp Quận 5,10, phía Nam và Tây Nam giáp ranh Quận 6. Tính
đến cuối năm 2004, quận 11 có dân số là 229.837 người, có 120.474 nữ (tỷ lệ
52,41%). Người Hoa có 103.189 người (tỷ lệ 44,89%), mật độ dân số trung bình là
44.722 người/km
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status