Luận văn: KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA MỘT SỐ LOÀI CỎ TRỒNG NHẬP NỘI TRONG QUI TRÌNH THỨC ĂN GIA SÚC TẠI CÔNG TY GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU doc - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGHIÊM VĂN CƯỜNG KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA MỘT SỐ LOÀI
CỎ TRỒNG NHẬP NỘI TRONG QUI TRÌNH THỨC ĂN
GIA SÚC TẠI CÔNG TY GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU



CỎ TRỒNG NHẬP NỘI TRONG QUI TRÌNH THỨC ĂN
GIA SÚC TẠI CÔNG TY GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU
: Sinh thái
: 60.42.60

: PGS-TS. Hoàng Chung
Thái Nguyên, năm 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1



gồm những cánh đồng cỏ, những cánh đồng quán mộc…[46]Theo
A.O.Felipe (1965), những vùng đất rộng lớn, kể cả đồng bằng cũng như
miền đồi núi, bao phủ bởi cỏ địa phương được sử dụng cho chăn thả quảng
canh được gọi là bãi cỏ tự nhiên. Còn đồng cỏ nhân tạo được xây dựng lên
để thay thế bãi cỏ tự nhiên bằng cách trồng những loài cỏ có năng xuất và
giá trị dinh dưỡng cao hơn [49]. Đa số các tác giả cho rằng đồng cỏ
(Grassland) là vùng đất được che phủ bởi thảm cỏ liên tục, nơi có lượng
mưa dao động từ 250 – 750 mm ở vùng ôn đới và tới 1200 mm ở vùng
nhiệt đới, cỏ sinh trưởng liên tục trong mùa sinh dưỡng, ngừng sinh trưởng
trong mùa khô… Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh (1974), cũng có
những đề nghị khác nhau: Danh từ “đồng cỏ” để chỉ những diện tích đồng
cỏ (vĩnh viễn hay tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật
(có người đề nghị là chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi
chăn [27] Theo Hoàng Chung (2006): Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc,
thảm thực vật của nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán
lớn hay nhỏ và chủ yếu là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh,
có sự ngừng sinh trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự
giảm sút rõ rệt, đất đa dạng về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối [8].
Đồng cỏ Việt Nam phân bố rải rác ở khắp nơi, nhưng tập trung nhiều
nhất vẫn là trên các đồi núi và các cao nguyên của trung du và miền núi
(chiếm tới 10 triệu ha). Những khu vực có đồng cỏ tự nhiên với diện tích
rộng lớn không có nhiều lắm, đại diện là các đồng cỏ thuộc Mộc Châu và
Mai Sơn (tỉnh Sơn La), Lai Châu, Lạng Sơn đồng cỏ Ngân Sơn (tỉnh Bắc
Kạn) và một số đồng cỏ thuộc vùng Tây Nguyên. Các đồng cỏ khác thường
có diện tích nhỏ từ vài chục đến vài trăm ha. Các thảm cỏ tự nhiên thường
xuất hiện trên đất xấu, cây quán mộc nhiều, những khu vực này dùng từ
“bãi chăn” có lẽ chính xác hơn [16]. Theo Hoàng Chung (2004) thì đồng
cỏ vùng núi Bắc Việt Nam là loại hình thứ sinh, do khai phá rừng mà thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4

Các thảm cỏ tự nhiên tồn tại trong vùng núi là loại hình thứ sinh do
tàn phá rừng hoặc nguyên sinh nhưng chỉ là giai đoạn đầu của quá trình
diễn thế, nên khi đưa vào sử dụng rất sớm bị thoái hóa. Vì vậy để phát triển
chăn nuôi miền núi cần phải trồng cỏ, đa phần các giống cỏ trồng là nhập
nội, đất trồng đa phần là đất nông nghiệp. Do vậy khi trồng phải tính toán
đến hiệu quả kinh tế về các mô hình sử dụng đất [43].
2. Tính cấp thiết của đề tài
Cao nguyên Mộc Châu tỉnh Sơn La, một vùng đất chứa đầy tiềm
năng về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Sản phẩm sữa Mộc
Châu đã được thị trường chấp nhận. Để có được những thành quả đó là dựa
vào một hệ sinh thái phù hợp cho việc trồng cây thức ăn gia súc, sự phù
hợp cho việc chăn nuôi bò sữa. Cao nguyên Mộc Châu với độ cao 1050m
so với mặt nước biển. Diện tích đất nông nghiệp là 30.000ha với 3,5 vạn
lao động. Nhiệt độ trung bình là 18
0
C (từ – 1
0
C đến 35
0
C), độ ẩm là 86,4%,
lượng mưa trung bình là 1740mm. Sương mù bao phủ từ tháng 12 năm
trước đến tháng 4 năm sau, trong đó có sương muối giá vào tháng 12 và
tháng 1. Hiện trạng đất nông nghiệp tính đến năm 2004: Đất tự nhiên
1694,6ha. Đất nông nghiệp 1018,6ha. Sản lượng sữa đến năm 2004 là 7411
tấn, diện tích trồng cỏ là 954ha, lượng cỏ khô là 2912 tấn, nguyên liệu ủ
chua 5222 tấn. Tính chất đất đá vôi đã làm cho đất trồng của Cao nguyên
rất mầu mỡ [44].
Với điều kiện sinh thái như Mộc Châu việc nuôi đàn gia súc

loài lại có khả năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy, ngập nước như
cỏ môi, cỏ bấc, cỏ lông para,
Như vậy, có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong những điều
kiện khác nhau của các yếu tố sinh thái cơ bản trong vùng, và khác nhau ở
cả hai phần trên và dưới đất (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, muối khoáng,
CO
2
). Nó biểu thị rõ rệt về phân bố sinh khối theo chiều thẳng đứng và
chiều nằm ngang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6

Trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà
ta có thể chọn và trồng các loài thích nghi với những điều kiện khí hậu địa
chất tương tự như vùng gốc của chúng.
1.1.1.2. Đặc tính sinh vật học
Cỏ hoà thảo là cây một lá mầm (đơn tử diệp), thân tròn hoặc bầu dục
(tuỳ theo giống), lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ
to, có thìa lìa, phiến lá dài, gân lá song song, thân cỏ thuộc loại thân rạ,
rỗng (trừ mấu đốt). Cũng có loài thân đặc như cỏ voi, rễ thuộc loại rễ
chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ
văn Chi và Dương Đức Tiến,1976) [38].
Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta
chia cỏ hoà thảo thành các loại sau:
+ Loại thân rễ: Đối với loại này có đặc điểm đặc trưng là than bò
dưới mặt đất và chia nhánh dưới mặt đất, đại diện là cỏ tranh (Imperata
cylindrica). Loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thưa,
thích hợp với chăn thả nhẹ, không thích hợp với giẫm đạp và vùng đất dí
chặt. + Loại thân bụi: Loại thân này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành búi
như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đất

khí hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của
đất như đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi,
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
• Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30 %
• Giai đoạn phát triển cành : 75 %
• Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần.
* Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm, lân và ka ly. Nhu cầu về
dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn.
• Giai đoạn 1 (nẩy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kaly.
• Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân.
• Giai đoạn 3 (ra hoa hình thành hạt) cần nhiều lân và kaly.
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn
(Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981) [39].tr 6-12.
Trong đồng cỏ, người ta thấy có sự quan hệ rõ rệt giữa việc bón đạm
và số chồi có hoa. Trong điều kiện có bón đạm vào mùa xuân, số chồi sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8

sản tăng lên. Bón phân, tưới nước cũng làm tăng số chồi của cây cỏ loại
nhiều chồi. Thí dụ (Festuca pratensis): không tưới nước số chồi là 3,5
(Festuca pratensis), tưới ẩm 40 - 60% có 11,5 và 80% có 14,8 chồi.
Quan hệ với phân cũng vậy, cỏ Pleum pratens không có phân bón có
605 chồi trên đơn vị diện tích, có 19% số chồi có hoa, nếu bón phân NPK
có 790 chồi trong đó có 35% chồi có hoa [46].
Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài
không quá 3 - 5 năm. Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có
thể kéo dài 10 năm, có khi hơn.
Nhu cầu về không khí
Các loại cỏ thân đứng, thân bụi, thân rễ phân chia nhánh dưới mặt

thời gian thu hoạch hợp lý. Tiêu chuẩn thu hoạch căn cứ vào điều kiện sinh
trưởng của giống cỏ. Thu hoạch non, năng xuất sẽ thấp, thu hoạch già, giá
trị dinh dưỡng sẽ kém, ảnh hưởng đến tái sinh lần sau, giảm số lứa cắt/năm.
Nếu bộ phận trên đất quá mau lứa thì dự trữ đường bột tích luỹ ở gốc để
phát triển thành lá sẽ bị suy kiệt, đồng cỏ chóng bị tàn lụi.
Đối với cỏ Ghinê, thu hoạch khi thảm cỏ cao 60 - 90 cm; Cỏ lông
Para, thu hoạch khi cao khoảng 40 - 50 cm; Cỏ Pangola, thu hoạch khi cao
khoảng 35 - 50 cm (L. Rham phrây, 1980).
Theo Điền Hưng 1964 [13] cho biết :
 Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt
30 - 45 ngày.
 Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt
35 - 45 ngày.
 Cỏ thân đứng thu hoạch sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày.
1.1.1.5. Sức sống cỏ hoà thảo
Sức sống của cây hoà thảo không giống nhau, có loài sống lâu năm,
có loài chỉ sống được một năm. Vì vậy, người ta chia cỏ hoà thảo thành 4
loại sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10

• Loại cỏ sống một năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như
cỏ Xu Đăng, cỏ lồng vực,
• Loại cỏ có sức sống ngắn (2 - 3 năm) như cỏ giầy, cỏ mật
(Melinis minutiflora).
• Loại cỏ sức sống vừa (4 - 6 năm) như cỏ Pangola, cỏ voi, cỏ
Ghine, Paspalum, Brachiara.
• Loại cỏ có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không
râu (Quang Ngọ, Sinh Tặng, 1976)[40].
Căn cứ vào sức sống của các loài cỏ, người ta dự tính thời gian trồng

Trải qua nhiều lần như vậy đất sẽ được bỏ hoang, trên nó lại phục hồi dần
rừng thứ sinh và lại tiếp tục bị chặt hạ để trồng trọt. Kết quả dẫn đến rửa
trôi mạnh lớp đất mặt, cây gỗ không có điều kiện tái sinh nữa, hình thành
nên lớp cỏ hay có lẫn một số loài cây thảo và cây bụi hạn sinh. Về ngoại
mạo nó gần giống thảo nguyên vùng ôn đới. Vì nguồn gốc thứ sinh như thế
nên đồng cỏ phân bố rải rác ở các vành đai khác nhau, tồn tại dạng đồng cỏ
thấp hay cao tùy thuộc vào mức độ sử dụng của con người.
Đối với vùng núi Bắc Việt Nam tồn tại nhiều kiểu savan, đồng cỏ và
các dạng trung gian. Trong đai nhiệt đới, trên những vùng đã bị chặt phá,
khi mà đất còn khá tốt, độ ẩm còn khá cao, thì sẽ hình thành ở đây loại hình
đồng cỏ vì thảm cỏ ở đây gồm các cây cỏ có thân rễ dài, búi thưa thuộc
nhóm trung sinh sống lâu năm ngừng sinh trưởng vào mùa đông. Trong quá
trình tác động tiếp theo con người sẽ làm cho lớp đất mặt bị bào mòn, khả
năng giữ nước của đất kém, đất có độ chua cao, trong thảm cỏ tỉ lệ cây hạn
sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đây các loài cỏ, cây bụi hạn sinh và
cây đoản mệnh, hình thành savan cỏ, savan cây bụi hoặc thảm cây bụi hạn
sinh. Có thể tóm tắt quá trình trên như sau: Rừng nguyên sinh - rừng thứ
sinh - đồng cỏ - savan cỏ hoặc savan bụi - thảm cây bụi hạn sinh [7].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12

1.2.2. Những nghiên cứu về năng suất của đồng cỏ tự nhiên
Nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã bắt
đầu từ thế kỷ XIX, ban đầu chủ yếu là những công trình nghiên cứu có tính
chất thống kê trong kinh tế nông nghiệp. Sang đầu thế kỷ XX, những công
trình nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên và
cỏ cho chăn nuôi đã được nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên
các kiểu đất khác nhau.
Cuối thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu phần trên mặt đất, hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng thái

4
Cây bụi nhỏ
10.6
9.3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13

5
Cây bụi nhỏ thân bò
0.9
2
6
Cây nửa bụi
4.6
4.2
7
Cây thảo lâu năm có hệ rễ cái
4.2
4.2
8
Cây có chồi mọc từ rễ
0.9
1
9
Cây thảo sống lâu năm có hệ rễ
cái, có thân rễ ngắn
0.9 0
10
Cây thảo có hệ rễ chùm, sống
lâu năm

Cây thảo một năm có hệ rễ
chùm
4.2 2
Tổng số: - Cây thuộc thảo, sống nhiều năm.
51.9
56.3
- Cây thuộc thảo, sống một năm.
11
7.2
- Cây có hệ rễ cái.
49.1
44.5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14

Nghiên cứu riêng phần dưới mặt đất có các tác giả: Baranops - Kaia
(1954); Krưm (1960); Xemennop (1966); Khariton ốp (1967); Gawood (1968);
IgonachenKo, Kirillova và Ponhiatopskaia (1968); Hoàng Chung (1980).
Ivannop (1941), Odum (1968) và Rodin (1968); Mantranop và
Siminop (1967) có những công t rình nghiên cứu quá trình tích luỹ vật
chất hữu cơ, cũng như sự chuyển đổi sản phẩm và năng lượng trong các
thực vật quần hay hệ sinh thái. Nhật Bản có các công trình nghiên cứu về
năng suất sinh học của các thảm cỏ của các tác giả như: Iwaki (1979);
Ogawa và cộng sự (1961); Iwaki và cộng sự (1964, 1966). ỞThái Lan, Ấn
Độ đã có một số nghiên cứu về năng suất của các quần xã cỏ trong rừng
thường xanh vùng ôn đới.
Ở Việt Nam, đến 1955 hầu như không có công trình nào nghiên cứu

đặc điểm sinh thái, với các giai đoạn sinh trưởng, với thành phần thực vật,
với chiều cao thảm cỏ và thành phần hoá học của nó cùng các hình thức tác
động của con người vào thảm cỏ.
Ở một số loài giá trị chăn thả hầu như không thay đổi trong suốt cả
thời kì sinh dưỡng như: Ischaemum indicum, Paspalum scrobiculatum,
Paspalum conjugatum và một số loài một năm. Một số loài khác thì giá trị
chăn thả giảm dần theo thời gian, ở những loài này tuổi càng tăng thì tỉ lệ
phần thân tăng và phần trăm chất xơ trong thân và lá tăng lên. Lá nhiều loài
trở nên cứng và sắc như cỏ Tranh, Chè vè,
Thành phần họ Đậu trong đồng cỏ Bắc Việt Nam rất ít, một số loài
trong đó giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lông cứng như: Desmodium
triquetum, một số loài khác thì năng suất lại rất thấp – sinh khối tập trung
chủ yếu ở phần thân như: Desmodium microphyllum. Trong thành phần cỏ
của một số quần xã có nhiều cây họ Cói, những loài này lá cứng và sắc như
Carex, Rhynchospora, một vài loài khác năng suất rất thấp [7].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16

- Thành phần hoá học của thực vật:
Thành phần hóa học quyết định trực tiếp đến nguồn dinh dưỡng có
trong hòa thảo. Theo tài liệu của Viện chăn nuôi quốc gia, 1995 [37], đối
với cây cỏ ngoài tự nhiên thì hàm lượng dinh dưỡng rất khác nhau như:
Đối với cây rong, bèo,…rau ở dưới nước thì hàm lượng chất khô
thường thấp, chiếm tư 1-6% VCK, ví dụ bèo ong 9,6% VCK, 0,9% prôtin
thô; 0,2% lipit thô; 1,6 % xơ thô; 6,4 dẫn xuất không đạm, 1,8 % khoáng
tổng số.
Đối với cây trên cạn hàm lượng dinh dưỡng cũng khác nhau như: Cỏ
bạc hà ( cỏ vừng) có 11,9% VCK,1,8% protein thô; 0,5% lipit thô; 2,7% xơ
thô; 5,1% dẫn xuất không đạm; 1,8% khoáng tổng số. Cỏ thài lài 10%
CVK; 1,7% protein thô; 0,9 lipit thô; 10% xơ thô;13,7 dẫn xuất không đạm

Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô,
Protein, đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó
chỉ tiêu Protein được chú ý nhiều hơn cả.
Bảng 1.2: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ chính
Tt Tên khoa học
Tên
Việt Nam
%
nước
%
Đạm
TS
%
Prôtêin
%
đạm
amin
%
lipit
%
chất

ĐV
TA
1
Ischaemum
indicum
Cỏ lông 76.7 1.954 7.86 1.379 1 8.8 0.19
2
Arundinella

10
Fimbristylis
annua
Họ cói 0.979 4.288 0.747
Trong thực tế khi chăn thả bình thường giá trị thức ăn cao nhất trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18

thời gian đầu khi cỏ mọc nhanh ra nhiều lá mới, giá trị thức ăn giảm khi cỏ
bắt đầu đâm bông và tiếp tục giảm khi cỏ càng già. Khi chăn thả liên tục
theo những khoảng thời gian liên tiếp gần nhau, giá trị dinh dưỡng của cỏ
có thể ở mức tương đối cao nhưng như vậy năng suất bị giảm nhiều.
1.2.3. Những nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ Bắc Việt Nam
Đồng cỏ phía Bắc Việt Nam chủ yếu là có nguồn gốc thứ sinh do
hoạt động khai phá rừng mà thành, nên diện tích đồng cỏ ngày càng được
mở rộng có thể chiếm tới 1/3 diện tích lãnh thổ. Hiện nay, đồng cỏ được sử
dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm bãi chăn thả, trồng cây lương
thực, cây ăn qủa, cây công nghiệp, trồng rừng
Trong thực tế hiện nay, tại các vùng có sử dụng đồng cỏ vào mục
đích chăn nuôi, hầu như chưa có phương thức sử dụng hợp lý, khai thác
một cách cạn kiệt làm cho thảm cỏ ngày càng thoái hoá mạnh. Cho đến
nay, những nghiên cứu về sử dụng hợp lý đồng cỏ vẫn còn là mới mẻ, tài
liệu còn qúa ít.
Những công trình nghiên cứu dành cho việc sử dụng hợp lý đồng cỏ
rải rác ở một số công trình như: Nguyễn Vũ Hùng, Bùi Văn Minh (1968),
có nghiên cứu về sử dụng luân phiên đồng cỏ ở Ba Vì và đề nghị chia thành
6 ô, mùa hè sử dụng 5 ô. Trong một đàn gia súc số lượng nên là 100 -150
con, diện tích đồng cỏ là 50 - 80 ha.
Võ Văn Trị (1983) đã chia đồng cỏ trồng ra thành những ô nhỏ, sự luân
phiên mùa hè theo ông có kho ảng cách 40 - 50 ngày, mùa đông là 60 ngày.

được thỏa mãn bằng thức ăn thô) thì hệ thống b được đặc biệt chú ý nhất là
ở các nước có khả năng phát triển đồng cỏ. ở những nước này việc sử dụng
đồng cỏ không chỉ để chăn thả mà còn cung cấp thức ăn xanh và dự trữ cho
đàn gia súc nuôi nhốt. Ở úc, sản phẩm chăn thả tới 50% sản phẩm xuất
khẩu, tỉ lệ này còn cao hơn: 90% ở Tân Tây lan [10]. Theo Davies (1960)
đồng cỏ tự nhiên cung cấp gần một phần hai gia súc chăn thả, tạo ra một
phần ba lượng thịt và một phần sáu sản lượng sữa trên thế giới [9]
Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây âu mà đặc biệt là ở
Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng
được chú ý và sử dụng đúng với vai trò của nó. Nếu như trước kia ở Pháp
(1842) chỉ có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì hiện nay tỷ số ấy
đã thay đổi: 12 triệu ha trồng cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc [13].
Ở Anh các diên tích ngũ cốc giảm đi và diện tích trồng cỏ, các loại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20

cây thức ăn gia súc khác tăng lên và được thâm canh một cách đáng kể.
Ở Liên Xô, diện tích trồng cỏ tăng từ 2,1 triệu ha năm 1913 lên 7,3
triệu ha năm 1933 và đến năm 1961 diện tích này đã lên tới 51,9 triệu ha
[10]. Không những diện tích trồng cỏ tăng lên, việc nghiên cứu chọn lọc
các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng,
nhiều loài cỏ như cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Bermuda, cỏ Pangola, v.v … đã
được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Lai tạo những giống cỏ mới có
năng suất và giá trị dinh dưỡng cao như Coastcross (Cỏ Bermuda lai), cỏ
Ghinê từ một loài đã tạo ra nhiều giống mới, cỏ Voi cũng vậy, đây là
thành tựu khoa học đáng kể để góp phần giải quyết thức ăn cho gia súc
ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng.
Ở các nước nhiệt đới khả năng phát triển đồng cỏ rất lớn nếu được
sử dụng một cách hợp lý có thể cung cấp prôtêin động vật không những
cho vùng nhiệt đới mà cho cả vùng lân cận.

Cỏ còn là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định
và là nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn
nuôi, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ cần gieo trồng
một lần mà sử dụng được nhiều năm. Ví dụ: Giá thành cho 1kg cỏ Mộc
Châu và cỏ lông Para trong 3 năm sử dụng là: 0.037 và 0.035 đồng [10].
Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tươi cung
cấp được 16g Prôtêin tiêu hoá và 32g lipit, 8 kg loại cỏ này tương đương 1
đơn vị thức ăn [27].
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu
hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau [52]:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần
thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi
thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22

- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.
- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và
đảm bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân huỷ từ dưới đất.
Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các
nhân tố sau để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ
ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp
ứng nhu cầu gia súc về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn
và khả năng được trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên
tục của gia súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu
hoạch; cỏ chăn và cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia
súc và giảm diện tích gieo trồng; …
1.3.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

phía Nam. Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ Stylo,
Brachiaria, Pennisetum, … sử dụng có hiệu quả cho gia súc. Hằng năm
còn sản xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước [24].
- Ở Philippiin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các
trang trại nhỏ được trồ ng các giống Stylo 184, Panicum maxinum,
Paspalum atratum, … đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia
súc. Ngoài ra, các giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất
dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả. Hằng năm sản
xuất được trên 1 tấn hạt cỏ (E.F. Lating, F. Gagunada, 1995).
Một số nước khác như Malaysia, Lào, … cũng đã chú trọng đầu tư
phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số
giống cỏ Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao
trong sản xuất. Hằng năm sản xuất được 2-3 tấn hạt cỏ các loại. Như vậy,
phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều
nước quan tâm. Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia
súc phát triển.

Trích đoạn Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia sú cở Việt Nam Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượngvà thành phần dinh dưỡng của cỏ trồng Cỏ hòa thảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status