Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THUỲ CHI
TỈNH HOÀ BÌNH TRONG CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG
CÁCH MẠNG VÀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH
CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54
CÁCH MẠNG VÀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG
GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
TỈNH HOÀ BÌNH TRONG CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG
CÁCH MẠNG VÀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG
GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945) Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Ngọc La Thái Nguyên - 2009
6
Chương 1
Khái quát về tỉnh Hoà Bình trước năm 1930………………………………
7
1.1
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên………………………………………………
7
1.1.1
Vị trí địa lý…………………………………………………………………
7
1.1.2
Điều kiện tự nhiên…………………………………………………………
9
1.2
Đặc điểm cư dân và văn hoá…………………………………………………
13
1.2.1
Đặc điểm cư dân……………………………………………………………
13
1.2.2
Đặc điểm văn hoá, xã hội……………………………………………………
23
1.3
Truyền thống yêu nước của nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình trước năm
1930…………………………………………………………………………
28
Chương 2
Quá trình vận động cách mạng tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền (1930 – 3/1945)………………………………………………………
Xây dựng và đẩy mạnh mọi hoạt động trên chiến khu Quang Trung………
76
3.3
Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945………………………………………
89
Kết luận……………………………………………………………………
101
Tài liệu tham khảo………………………………………………………….
107
Phụ lục………………………………………………………………………
113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên
cứu đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa
Lịch sử, Sở văn hoá thông tin tỉnh Hoà Bình, Ban tuyên giáo
tỉnh Hoà Bình, Phòng tuyên giáo Thành ủy Hoà Bình đã tạo
điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè,
người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
để hoàn thành đề tài này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám là sự kiện vĩ đại trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan hai xiềng nô lệ Nhật – Pháp và chế
độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, dựng lên nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nước ta thực sự bước vào một
trang sử mới, từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân ta
từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của nước nhà. Cách mạng tháng Tám
đánh dấu bước nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, mở ra
một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên của một nước nhược tiểu tự giải
phóng mình khỏi ách ngoại bang, đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của
nhân dân các nước thuộc địa trên thế giới. Thắng lợi của Cách mạng tháng
Tám là kết quả của sự kết hợp đúng đắn lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin về
chiến tranh cách mạng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thành tựu đó
không những là bài học kinh nghiệm lịch sử quý báu của chúng ta mà còn
đóng góp vào kho tàng cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.
thức bạo lực cách mạng để giành chính quyền về tay nhân dân.
Từ những lí do trên tôi quyết định chọn: “Tỉnh Hoà Bình trong công
cuộc vận động cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (1930
– 1945)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu về công cuộc vận động cách mạng và khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền ở Hoà Bình là một vấn đề khoa học thu hút sự quan tâm
của giới nghiên cứu Trung ương cũng như địa phương.
Trong nhiều thập kỉ qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn
sách, bài viết, hồi kí… được công bố về các vấn đề liên quan tới Cách mạng
tháng Tám ở Hoà Bình.
Liên quan tới đề tài là các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam bao
gồm: Văn Kiện Đảng (1930- 1945), các chủ trương, chỉ đạo về cách mạng của
Hồ Chí Minh, Trường Chinh. Các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Hoà Bình từ
1930 – 1945. Đó là những tài liệu có tính định hướng làm cơ sở cho việc
nghiên cứu đề tài.
Cuộc vận động của nhân dân tỉnh Hoà Bình được đề cập đến trong các
sách: Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Lịch sử Việt Nam (1930 – 1945), Lịch sử
quân đội. Và thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, các nhà nghiên cứu khoa
học lịch sử xã hội nhân văn.
Ở Trung ương, năm 1957, Trần Văn Giàu biên soạn cuốn “Từ cách
mạng tháng Mười đến Cách mạng tháng Tám”; Trần Huy Liệu và Văn Tạo
biên soạn “Tổng khởi nghĩa tháng Tám - tập 12”.
Trong những năm 60, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã công bố nhiều bài
viết có giá trị bàn về Cách mạng tháng Tám. Viện Sử học biên soạn “Cách
Ngoài các công trình nói trên còn có Lịch sử cách mạng của Đảng bộ nhân
dân các huyện, thị: Thị xã Hoà Bình, Lương Sơn, Kỳ Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc,
Mai Châu, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Tân Lạc. Các sách viết về lịch sử
các ngành, các tổ chức xã hội như: phụ nữ, quân đội, công an, thanh niên, anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
hùng lực lượng vũ trang,… cũng lần lượt được biên soạn và xuất bản, trong
đó ít nhiều có liên quan đến thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945.
Các công trình trên đã đề cập đến công cuộc vận động cách mạng và
khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Hoà Bình ở những mức độ khác
nhau. Song, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
riêng và trình bày một cách có hệ thống về vấn đề này. Tôi đánh giá cao
những công trình trên và coi đó là nguồn tài liệu quý giá giúp tôi trong quá
trình thực hiện đề tài: “Tỉnh Hoà Bình trong công cuộc vận động cách
mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (1930 – 1945)”.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về Công cuộc vận động
cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Hoà Bình (1930 –
1945).
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Để làm rõ về Công cuộc vận động cách mạng
và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Hoà Bình (1930 – 1945), đề tài
còn đề cập điều kiện tự nhiên, con người và truyền thống đấu tranh của nhân
dân các dân tộc trong tỉnh.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về truyền thống đấu
tranh của nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình. Trình bày một cách có hệ
thống Công cuộc vận động cách mạng và khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền ở Hoà Bình (1930 – 1945). Từ đó, khẳng định rõ vị trí, vai trò của nhân
dân các dân tộc trong cuộc vân động Cách mạng tháng Tám năm 1945, góp
phần thắng lợi vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
4. Nguồn tài liệu, phƣơng pháp nghiên cứu
khởi nghĩa tháng Tám (3-8/1945)
Luận văn còn có phần phụ lục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH HOÀ BÌNH TRƢỚC NĂM 1930
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Hoà Bình là tỉnh miền núi, nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc,
có vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền núi, là
điểm trung chuyển sức hút ảnh hưởng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội với
một trung tâm lớn - Thủ đô Hà Nội.
Tỉnh Hoà Bình có diện tích tự nhiên 4.662,53 km
2
, nằm trong giới hạn
20
0
19’ – 21
0
08’ vĩ bắc và 104
0
48’ - 105
0
50’ kinh đông, phía bắc giáp với tỉnh
Phú Thọ, phía đông giáp với tỉnh Hà Tây (cũ), phía tây giáp với tỉnh Sơn La,
phía nam giáp với tỉnh Ninh Bình, Hà Nam và Thanh Hoá (xem phụ lục 1),
[66, tr.3].
Tỉnh Hoà Bình được thành lập từ ngày 22-6-1886, khi chính quyền
thực dân Pháp ký nghị định cắt các vùng đất có nhiều đồng bào Mường cư trú
Mai Châu, Đà Bắc, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Kim Bôi và thị xã Hoà Bình.
Mùa xuân năm 1976, trong không khí cả nước sôi nổi tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội, hai tỉnh Hoà Bình và Hà Tây sát nhập thành tỉnh Hà Sơn
Bình. Năm 1991, Kì họp thứ 8 Quốc hội khoá VIII đã quyết định điều chỉnh
địa giới và chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình.
Ngày 1-10-1991, tỉnh Hoà Bình được tái lập và chính thức đi vào hoạt
động. Ngày 21-12-2001 huyện Kỳ Sơn được chia thành 2 huyện: Kỳ Sơn và
Cao Phong. Ngày 27-10-2006, Chính phủ ra Nghị định số 126/2006/NĐ-CP
thành lập thành phố Hoà Bình trực thuộc tỉnh Hoà Bình. Hiện nay, toàn tỉnh
có 214 xã, phường, thị trấn [13, tr.8]. Tỉnh lỵ của Hoà Bình hiện nay là Thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Phố Hoà Bình, cách Hà Nội 76 km. Đường quốc lộ số 6 đi qua Hoà Bình dài
125 km, nối liền Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào. Các
tuyến đường 12, 15, 21 đã nối liền Hoà Bình với các tỉnh Ninh Bình, Thanh
Hoá, Hà Nam.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Núi rừng Hoà Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia cắt thành hai
tiểu vùng. Tiểu vùng thứ nhất, trải dài từ Đà Bắc qua Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai
Châu nối với miền núi thượng du Thanh Hoá. Đó là vùng núi cao nối tiếp
giữa dãy Hoàng Liên Sơn và giải Trường Sơn. Vùng này có độ cao trung bình
400 – 500 mét, có nhiều nhọn núi cao, rừng rậm. Tiểu vùng thứ hai, bao gồm
các huyện từ Kỳ Sơn, Lương Sơn xuống đến Lạc Thuỷ. Đây là vùng núi thấp
có độ cao trung bình là 100 mét, chủ yếu là núi đá vôi, nhiều hang động và
rừng tái sinh, đồi cỏ. Địa hình rừng núi trong tỉnh chia cắt bởi nhiều thung
lũng, hàng trăm con suối lớn nhỏ. Xen giữa các rặng núi, có những thung lũng
trải rộng, kéo dài thành những cách đồng tương đối bằng phẳng và các triền
ven sông.
Do vị trí địa thế, địa hình có nhiều đặc điểm nên Hoà Bình trở thành
một địa bàn cơ động chiến lược ở Bắc Bộ, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, là
mạng tháng Tám 1945, diện tích cấy lúa chỉ có 4.500 ha vì chủ yếu dựa vào
điều kiện tự nhiên. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, sau nhiều
năm nỗ lực làm thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, khai phá đất đai, diện tích cấy
lúa nước đã tăng lên 28.000 ha, song cũng chỉ mới bằng 7% diện tích nông –
lâm nghiệp toàn tỉnh. Tuy nhiên, cơ cấu đất đai nông nghiệp vẫn tạo cho Hoà
Bình có điều kiện cấy lúa nước, gieo trồng lúa nương và một số cây lương
thực khác như ngô, khoai, sắn và có điều kiện phát triển nhiều loại hoa màu,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị như các loại đậu, lạc, mía, chè, trẩu,
mai, sấu, cam, quýt…
Đáng chú ý là Hoà Bình có điều kiện phát triển chăn nuôi, đặc biệt là
chăn nuôi trâu, bò đàn với số lượng lớn. Trước năm 1945, Hoà Bình là một
trong những nguồn cung cấp sức kéo cho các tỉnh đồng bằng, cung cấp trâu,
bò thịt cho Hà Đông, Hà Nội, Hải Phòng, v.v Theo thống kê của thực dân
Pháp, năm 1932, Hoà Bình bán cho Hà Đông 603 con trâu, 685 con bò [31,
tr.10].
Về khoáng sản, trong lòng đất Hoà Bình chứa nhiều khoáng sản quí
như: than, kẽm, vàng, đá vôi… Đáng chú ý là than mỡ Kim Bôi tuy trữ lượng
không lớn nhưng là loại rất cần cho công nghiệp luyện kim; vàng sa khoáng,
một kim loại quý, có rải rác tại nhiều địa bàn trong tỉnh. Đá vôi, đá xanh… rất
dồi dào, trữ lượng lớn là nguồn nguyên liệu có giá trị trong công nghiệp xây
dựng, làm cầu, đường giao thông.
Nước khoáng, nước nóng cũng là nguồn tài nguyên quí, được phân bố
ở vùng Hạ Bì, Sào Báy (Kim Bôi), Quí Hoá (Lạc Sơn). Có thể nói, bên cạnh
các loại khoảng sản khác, thuộc phạm vi tỉnh Hoà Bình còn xuất hiện nhiều
điểm nước khoáng, nước nóng. Nhìn chung, nguồn nước khoáng, nước nóng
có triển vọng phát triển về lĩnh vực kinh tế, du lịch, chữa bệnh và giải khát
[66, tr. 17-18].
Hoà Bình có nhiều sông suối nên nguồn thuỷ điện rất phong phú, có
là nguồn nguyên liệu phong phú để sản xuất nước giải khát có giá trị. Đặc biệt
công trình thuỷ điện Hoà Bình “công trình thế kỷ” và hồ thuỷ điện còn có
nhiều cảnh quan tươi đẹp hấp dẫn, có Hoa động sơn, có bãi tắm Bờ… Những
cảnh quan trên cùng với những sản phẩm thủ công mang đậm mầu sắc văn
hoá của các dân tộc trong tỉnh như: hàng thổ cẩm, những đặc sản địa phương
như rượu cần Hoà Bình… đã thể hiện một tiềm năng phong phú của nền du
lịch Hoà Bình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Bên cạnh những tiềm năng lớn, đa dạng như đã nêu ở trên, điều kiện tự
nhiên cũng mạng lại cho Hoà Bình không ít khó khăn, trở ngại. Trước hết là
giao thông không thuận lợi. Dưới thời thực dân, phong kiến, ngoài một vài
trục đường giao thông lớn (đường 6, 12, 15) hầu như không có mạng lưới
giao thông liên xã, liên huyện. Ngày nay, sau nhiều chục năm xây dựng, hệ
thống giao thông nội tỉnh, giao lưu với các tỉnh xung quanh đã phát triển vượt
bậc. Song giao thông của Hoà Bình vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là trong
mùa mưa lũ, một số vùng cao, vùng sâu, việc đi lại và vận chuyển bằng xe cơ
giới cũng gặp nhiều trắc trở. Tiếp đó là diện tích đất trồng cây lương thực,
nhất là trồng lúa rất ít, phần lớn là ruộng bậc thang hàng năm thường bị lũ
quét trong mùa mưa bão, điều kiện thâm canh để tự túc về lương thực rất khó
khăn. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, trình độ sản xuất của nhân dân các
dân tộc trong tỉnh rất thấp, lại bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề
nên Hoà Bình là một tỉnh miền núi còn nghèo nàn và lạc hậu. Nên ngay từ xa
xưa con người đã sớm có mặt, tận dụng những thuận lợi của tự nhiên để phát
triển, đồng thời cũng phải vật lộn với những khó khăn của nó để tồn tại.
Chính trong qua trình đó, lịch sử và con người Hoà Bình đã sớm xây dựng
được những truyền thống tốt đẹp.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CƢ DÂN VÀ VĂN HOÁ
1.2.1. Đặc điểm cƣ dân
Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam.
Dựa trên những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ,
khảo cổ học, dân tộc học, các nhà nghiên cứu đã nhận định rằng, dân tộc
Mường và dân tộc Việt trước đây mấy ngàn năm có chung một tổ tiên là
người Lạc Việt, chủ nhân của nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ ở Việt Nam.
Nghiên cứu các đặc điểm nhân chủng học, người ta cho rằng người Việt và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
người Mường có nhiều đặc điểm giống nhau. Các nhà ngôn ngữ cũng phát
hiện được tiếng Mường và tiếng Việt cổ xa xưa chỉ là một. Suốt thời kỳ Bắc
thuộc, sự phân ly thành hai dân tộc diễn ra bởi chính sách áp bức, bóc lột của
bọn đô hộ phong kiến ngoại tộc. Người Việt ở vùng đồng bằng phải sống
chung với bọn giặc phong kiến nước ngoài nhưng họ lại có điều kiện tiếp xúc
và học tập những tinh hoa của các nền văn hoá lớn như Trung Quốc, Ấn Độ,
Chiêm Thành, trải qua hàng ngàn năm, họ trở thành người Kinh hiện nay.
Người Mường chính là một bộ phận của người Việt cổ sống ở vùng rừng núi
lâu ngày cho nên trong đời sống sản xuất cũng như trong tập quán sinh hoạt
đồng bào vẫn bảo lưu những nét văn hoá cổ. Nhiều tục lệ của người Việt khi
xưa như ở nhà sàn, ăn cơm nếp hay nhà có người chết thì phải giã cối làm
hiệu lệnh, vẫn còn tồn tại trong xã hội người Mường ngày nay.
Trong hoạt động kinh tế, bao đời nay, người Mường sống chủ yếu bằng
sản phẩm nông nghiệp, khai phá ruộng nương để trồng trọt và chăn nuôi.
Các sản phẩm hoa màu như ngô, khoai, sắn và các loại rau đậu thường
được người Mường trồng trên nương. Trước kia, người Mường thường sản
xuất với kỹ thuật canh tác lạc hậu và các giống cây trồng có áp dụng các biện
pháp khoa học kỹ thuật, gieo trồng các giống mới về lúa, ngô và hoa màu có
năng xuất cao.
Trong sản xuất gia đình, chăn nuôi cũng là nguồn thu nhập đáng kể.
Ngoài chăn nuôi các gia súc, gia cầm truyền thống như trâu, bò, gà, lợn, ngan,
ngỗng ngày nay nhiều hộ gia đình người Mường còn nuôi dê, bò lai, bò sữa
và nuôi ong lấy mật…
điển hình, mang đặc trưng Mường mà đồng bào vẫn còn duy trì cho tới ngày
nay (xem phụ lục 4).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Ngôi nhà truyền thống của người Mường ở Hoà Bình cũng mang
những đặc trưng độc đáo riêng của văn hoá ở. Trước kia, người Mường cũng
thường ở nhà sàn. Trong kiến trúc nhà truyền thống, ngôi nhà người Mường
được làm bằng những vật liệu sẵn có như tre, gỗ, nứa, lá. Cách bố trí mặt
bằng cũng phản ánh được đời sống văn hoá xã hội của người Mường (xem
phụ lục 3). Ngày nay có một bộ phận người Mường chủ yếu ở gần thị trấn, thị
tứ chuyển sang ở nhà đất. Ngoài ra còn có loại hình nhà trung gian nửa sàn,
nửa đất, trong đó phân bố nửa sàn là nơi nghỉ ngơi, nửa đất là nơi làm bếp núc
và để làm kho chứa lương thực…
Người Mường là dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống
giặc ngoại xâm. Xã hội Mường trước năm 1945 được chia thành hai đẳng cấp
rõ rệt: đẳng cấp thống trị là lang đạo và phìa tạo, chánh quản, thống lý với các
họ đại diện là Đinh, Quách, Bạch, Xa, Hà, Hoàng; tầng lớp bị trị là đông đảo
nhân dân lao động các dân tộc Hoà Bình. Người Mường phải sống dưới ách
thống trị bóc lột của cả chế độ thực dân và quan lại ở địa phương. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch, đồng bào dân tộc Mường ở Hoà Bình đã
đoàn kết với các dân tộc khác chống lại ách thực dân phong kiến, đánh đuổi
đế quốc, xoá bỏ chế độ lang đạo, phìa tạo và làm chủ được mảnh đất của
mình. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng bào Mường đã góp
sức người, sức của cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn
toàn.
Sự phân bố dân cư Mường ở Hoà Bình gắn liền liền với nguồn gốc lịch
sử, môi trường tự nhiên của khu vực cũng như tập quán sản xuất và sinh hoạt
của dân tộc Mường. Là chủ nhân lâu đời của mảnh đất Hoà Bình, ngay từ thời
xa xưa, người Mường đã cư trú ở khắp các huyện thị trên địa bàn tỉnh, nhưng
mức độ phân bố không đồng đều cả về số lượng dân và mật độ phân bố. Ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Ở khu vực đô thị, người Kinh tham gia vào nhiều ngành kinh tế quan
trọng của tỉnh. Lao động là người Kinh hiện nay đang làm trong các doanh
nghiệp nhà nước cả trung ương và địa phương khá đông, nhất là trong các
ngành mũi nhọn của tỉnh như công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt
và nước; công nghiệp chế biến; thương mại và du lịch; giáo dục, y tế. Người
Kinh ở Hoà Bình là lực lượng quan trọng trong quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế của tỉnh.
Trong đời sống văn hoá, người Kinh ở Hoà Bình cũng giữ được nét
truyền thống như người Kinh trong cả nước. Về văn hoá ăn, từ lâu cơm gạo
vẫn là món ăn chính của người Kinh, ngoài ra còn có cá, thịt và các loại rau
mà họ trồng được từ sản xuất nông nghiệp. Người Kinh có phong tục thờ
cúng tổ tiên từ rất sớm và đặc biệt tôn thờ các vị anh hùng dân tộc [66,tr.121].
Dân tộc Thái
Ở Hoà Bình, người Thái cư trú tập trung ở huyện Mai Châu. Theo các
tài liệu về lịch sử, văn hoá và dân tộc học, người Thái ở Mai Châu thuộc
ngành Thái trắng, tổ tiên của họ từng sống trên vùng đất Mường Khước, Pước
Hà thuộc huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai. Họ đến Hoà Bình tương đối sớm, cách
đây khoảng 600 – 700 năm, tức là vào đầu thế kỷ XIV. Sau thời gian này, một
số người Thái cũng di chuyển rải rác theo luồng di cư đông tây của các dân
tộc thiểu số. Có thể nói, rất hiếm huyện nào có sự tập trung dân cư hơn nửa
thiên niên kỷ trong một thung lũng hùng vĩ và nên thơ như thế.
Người Thái ở Hoà Bình chủ yếu là cư dân nông nghiệp, làm ruộng
nước ở miền thung lũng, nằm giữa những dãy núi đá cao. Bằng cách khai thác
các thung lũng, tận dụng phù sa của các con sông trong vùng, đồng bào ở đây
đã tạo nên những cánh đồng màu mỡ như Mường Pa, Mai Thượng, Mai Hạ
(Mai Châu). Cũng như người Thái ở Việt Nam, họ rất giỏi thiết lập các hệ
thống thuỷ lợi nhỏ để ruộng có nước, với sự kết hợp bốn biện pháp mương