ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC
GTLV
HTK
IFAC
KAM
KHKT
KPMG
KTV
KSNB
TM
TNHH
: Báo cáo tài chính
: Giấy tờ làm việc
: Hàng tồn kho
: International Federation of Accountants (Liên đoàn Kế toán Quốc tế)
: KPMG audit methodology
: Kế hoạch kiểm toán
: Công ty TNHH KPMG Việt Nam
: Kiểm toán viên
: Kiểm soát nội bộ
: Tiền mặt
: Trách nhiệm hữu hạn
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Vai trò của Hệ thống kiểm soát nội bộ …………………….
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ………………….
Sơ đồ 1.3: Các yếu tố của môi trường kiểm soát………………………
Nghiên cứu thực trạng quá trình đánh giá hệ thống KSNB trong kiểm toán
tài chính do công ty TNHH KPMG Việt Nam thực hiện.
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quá trình đánh giá hệ thống
KSNB nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Phương pháp nghiên cứu: Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng
trong đề tài bao gồm: Phương pháp phân tích, so sánh, kết hợp nghiên cứu, tham
khảo tài liệu và sử dụng các ví dụ để minh hoạ.
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
3
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Quá trình đánh giá hệ thống KSNB
trong kiểm toán tài chính.
Kết cấu của đề tài: Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo, Đề án gồm 3 phần:
Phần I: Khái quát chung về đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong
kiểm toán tài chính
Phần II: Thực trạng việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm
toán tài chính
Phần III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ trong kiểm toán tài chính
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
4
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI
BỘ TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm toán tài chính
Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán Úc (Australian Accounting Standards Board)
đưa ra khái niệm “Kiểm soát là khả năng của một thực thể trong việc chi phối
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ
KSNB là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở
xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn
nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị.
Sơ đồ 1.1: Vai trò của Hệ thống kiểm soát nội bộ
Bảo vệ tài sản của đơn vị
Tài sản vật chất của đơn vị có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục
đích khác nhau hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát
thích hợp. Điều tương tự cũng đúng với tài sản phi vật chất như các khoản phải
thu và các tài sản khác như tài liệu quan trọng (các hợp đồng bảo mật với Nhà
nước) và sổ sách (Sổ Cái tổng hợp và các sổ Nhật ký). Sự bảo vệ với số tài sản và
sổ sách nhất định đã trở nên ngày càng quan trọng kể từ khi có các hệ thống máy
tính như đĩa từ, có thể bị phá hoại nếu như không cẩn trọng bảo vệ chúng.
Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ
quan trọng cho việc hình thành quyết định của các nhà quản lý. Như vậy các thông
tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về
thực trạng hoạt động, phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của
mọi hoạt động kinh tế tài chính. Ví dụ, giá bán sản phẩm được dựa một phần vào
thông tin về chi phí sản xuất sản phẩm.
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
6
Bảo vệ tài sản của đơn vị
Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
Vai trò của
hệ thống
kiểm soát
sự hiệu hiệu bị giới hạn bởi chi phí thực hiện thủ tục đó.
4
GS.TS. Nguyễn Quang Quynh - TS. Ngô Trí Tuệ, 2006, Giáo trình Kiểm toán tài chính, NXB Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
7
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
- Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ
lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thường, trong khi những
nghiệp vụ bất thường mới dễ xảy ra sai phạm.
- Không loại trừ được rủi ro, sai sót của con người xuất phát từ sự thiếu chủ
ý, đãng trí, sai sót về xét đoán hoặc do không hiểu các chỉ thị vì gian lận và sai sót
thì tinh vi hơn so với nhưng biện pháp phòng ngừa chúng.
- Khả năng vượt tầm kiểm soát của hệ thống KSNB do có sự thông đồng
của một người trong ban giám đốc hay một nhân viên với những người khác ở
trong hay ngoài đơn vị.
- Khả năng những người chịu trách nhiệm thực hiện KSNB lạm dụng đặc
quyền.
- Do có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát có khả năng không
còn thích hợp và do đó không được áp dụng.
Vì những hạn chế này và vì KTV không thể có nhiều hơn sự đảm bảo hợp
lý về tính hiệu quả của quá trình kiểm soát nên hầu như luôn có một mức độ rủi ro
kiểm soát. Do đó, cả với hệ thống KSNB được thiết kế hiệu quả nhất, KTV vẫn
phải thu thập bằng chứng kiểm toán ngoài việc khảo sát các quá trình kiểm soát đối
với hầu hết các mục tiêu kiểm toán của từng tài khoản trọng yếu trên BCTC.
Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ
Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động
các đơn vị và tổ chức, cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống KSNB với
bốn yếu tố chính: môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát
và hệ thống KSNB.
Công tác kế hoạch
Ủy ban kiểm soát
Môi trường bên ngoài
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
sách, chế độ, các qui định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong đơn vị.
Bởi vì chính các nhà quản lý này, đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê
chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại đơn vị.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong đơn vị sẽ góp phần tạo ra môi
trường kiểm soát tốt. Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên
xuống dưới trong việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định đó cũng như
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ đơn vị. Một cơ cấu
tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót
trong hoạt động tài chính kế toán của đơn vị.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn
bộ hoạt động và các lĩnh vực của đơn vị sao cho không bị chồng chéo hoặc bỏ
trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lập
tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra kiểm soát lẫn nhau trong các
bước thực hiện công việc.
Chính sách nhân sự
Sự phát triển của mọi đơn vị luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên và họ luôn
là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếp thực
hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của đơn vị. Nếu nhân viên có năng lực
và tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo
được các mục tiêu đề ra của KSNB. Ngược lại, dù đơn vị có thiết kế và vận hành các
chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực
trong công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống KSNB không
thể phát huy hiệu quả.
Công tác kế hoạch
Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi
phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó, thoả
mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán. Một hệ thống thông tin
hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết:
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
11
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
- Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụ
không có thực vào sổ sách của đơn vị;
- Sự phê chuẩn: bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn hợp lí;
- Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh;
- Tính giá và định giá: bảo đảm không có sai phạm trong việc tính toán các khoản
giá và phí;
- Sự phân loại và trình bày: bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo
sơ đồ tài khoản và ghi nhận đúng đắn trong các loại sổ sách kế toán.
- Tính đúng kì: bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện
kịp thời theo chế độ qui định;
- Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán được ghi vào sổ phụ
phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các BCTC của
đơn vị.
Đối với một công ty nhỏ có sự tham gia tích cực của chủ sở hữu, hệ thống kế
toán thủ công đơn giản chủ yếu chỉ có một kế toán viên có năng lực và trung thực là
có thể cung cấp một hệ thống kế toán đầy đủ. Còn một công ty lớn đòi hỏi một hệ
thống phức tạp hơn bao gồm sự xác định trách nhiệm rõ ràng và các thể thức, chính
sách bằng văn bản.
Các thủ tục kiểm soát
Các thủ tục kiểm soát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ
bản: nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng và chế độ
uỷ quyền và phê chuẩn.
Sơ đồ 1.4: Các nguyên tắc kiểm soát
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
thủ. Ví dụ như việc xây dựng và phê chuẩn bảng giá bán sản phẩm cố định, hạn
mức tín dụng cho khách hàng... Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng
nghiệp vụ kinh tế riêng.
Ngoài những nguyên tắc cơ bản nêu trên, các thủ tục kiểm soát còn bao
gồm: việc qui định chứng từ sổ sách phải đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất đối
với tài sản, sổ sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Kiểm toán nội bộ
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
13
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến
hành công việc kiểm tra và đánh giá tất cả các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị
nội bộ đơn vị.
Theo IFAC, kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đánh giá được lập ra trong
một đơn vị như là một loại dịch vụ cho đơn vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và
giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và KSNB”.
5
Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống KSNB của đơn vị, bộ
phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn
bộ hoạt động của đơn vị, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành
các chính sách và thủ tục về KSNB. Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp
cho đơn vị có được những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong
đơn vị, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung
các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả. Tuy nhiên, bộ phận KSNB chỉ phát
huy tác dụng nếu:
Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để
không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao một quyền hạn
tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán và các bộ
phận hoạt động được kiểm tra.
Về nhân sự, bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên có
Hiểu biết về môi trường kiểm soát: Thu thập thông tin về môi trường kiểm
soát. Sau đó KTV sử dụng hiểu biết như một căn cứ để đánh giá thái độ và nhận
thức của Ban quản trị đối với tầm quan trọng của kiểm soát.
Hiểu biết về hệ thống kế toán: Để hiểu biết được thiết kế của hệ thống kế
toán, KTV xác định: (1) các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu của khách hàng; (2) hiện
có những sổ sách kế toán nào và bản chất của chúng là gì; (3) các nghiệp vụ kinh tế
được xử lý như thế nào từ khi khởi đầu cho đến khi hoàn thành; (4) bản chất và chi
tiết báo cáo tài chính theo sau. Thông thường điều này được hoàn thành và chứng
minh bằng sự mô tả liệt kê hệ thống hoặc sơ đồ thể hiện sự phát triển của hệ thống
qua các giai đoạn.
Hiểu biết về các thủ tục kiểm soát: KTV có được hiểu biết về môi trường
kiểm soát và hệ thống kế toán theo một cách tương tự nhau ở hầu hết các cuộc kiểm
toán nhưng việc có được một sự hiểu biết về các thủ tục kiểm soát thì khác nhau
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
15
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
đáng kể. Đối với những khách hàng có qui mô nhỏ thì thường chỉ nhận diện được rất
ít hoặc thậm chí không có thể thức kiểm soát nào cả vì quá trình kiểm soát thường
không có hiệu quả do số lượng nhân viên hạn chế. Trong trường hợp đó, mức đánh
giá cao của rủi ro kiểm soát được sử dụng. Ở những khách hàng có quá trình kiểm
soát sâu rộng và KTV tin tưởng vào hệ thống KSNB này, thì việc nhận diện được
các thủ tục kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch sẽ giúp ích rất nhiều cho việc thực
hiện kiểm toán sau này. Mức độ nhận diện các thủ tục kiểm soát phụ thuộc rất nhiều
vào phán xét nghề nghiệp của KTV.
Một khi đã đạt được sự hiểu biết về hệ thống KSNB của khách hàng, KTV
đánh giá xem liệu các BCTC có thể kiểm toán được hay không: KTV phải thu thập
thông tin về tính trung thực của Ban quản trị với bản chất và phạm vi của các sổ sách
kế toán để được thỏa mãn là các bằng chứng đầy đủ, thích hợp và có sẵn để chứng
minh cho các số dư trên BCTC.
• Để nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng.
nghiên cứu và thảo luận với khách hàng về tài liệu này KTV có thể hiểu rõ được
các thủ tục và chế độ liên quan đến hệ thống KSNB đang được áp dụng ở khách
hàng.
• Kiểm tra các chứng từ và sổ sách đã hoàn thành: Thông qua việc kiểm tra
này, KTV có thể thấy được việc vận dụng các thủ tục và chế độ trên tại công ty
khách hàng.
• Quan sát các mặt hoạt động và quá trình hoạt động của công ty khách
hàng: Công việc này củng cố thêm sự hiểu biết và kiến thức về thực tế sử dụng các
thủ tục và chế độ KSNB tại công ty khách hàng.
Để mô tả hệ thống KSNB, KTV sử dụng một trong ba phương pháp hoặc cả ba
phương pháp sau tùy thuộc đặc điểm đơn vị được kiểm toán và qui mô kiểm toán: vẽ
các Lưu đồ, lập Bảng câu hỏi về hệ thống KSNB, lập Bản tường thuật về hệ thống
KSNB.
Mô tả tường thuật
Tạ Thị Thu Hiền {CQ490939}
17
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: GS. TS. NGUYỄN QUANG QUYNH
Bản tường thuật là một bản mô tả bằng văn bản về hệ thống KSNB của khách
hàng. Bản tường thuật về hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát liên quan có bốn nội
dung:
- Nguồn gốc của mọi chứng từ và sổ sách trong hệ thống.
- Tất cả các quá trình đã xảy ra. Ví dụ: nếu số tiền bán hàng được xác
định theo một chương trình phần mềm là nhân lượng hàng gửi đi với giá tiêu chuẩn
của HTK thì điều này phải được mô tả.
- Sự chuyển giao của mọi chứng từ và sổ sách trong hệ thống. Việc lưu
trữ chứng từ, gửi chúng cho khách, hủy bỏ chúng đều phải được trình bày.
- Dấu hiệu chỉ rõ các thủ tục kiểm soát thích hợp với quá trình đánh giá
rủi ro kiểm soát. Các thủ tục này bao gồm sự cách ly về trách nhiệm (như cách ly
việc ghi sổ TM với việc giữ TM), phê chuẩn (như phê chuẩn tín dụng) và kiểm tra
nội bộ (như so sánh đơn giá bán với các hợp đồng tiêu thụ).