Hoàn thiện hoạt động xuất khẩu đá xây dựng tại Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport - Pdf 15

Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ (Artexport) là một công
ty đầu ngành trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tại Việt Nam hiện nay.
Tiền thân là một tổng công ty nhà nước chuyên về hoạt động xuất nhập khẩu thủ
công mỹ nghệ, trải qua 45 năm xây dựng và trưởng thành, Artexport đã phát triển lớn
mạnh với ba lĩnh vực hoạt động chính: xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ, bất động
sản và tài chính. Artexport là một điển hình của mô hình công ty nhà nước, thực hiện
chính sách cổ phần hóa để thích nghi với điều kiện phát triển của nền kinh tế đất
nước.
Trong lĩnh vực xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, Công ty luôn là một đầu tàu
của Việt Nam trong việc thâm nhập và phát triển thị trường mới. Với các mặt hàng
truyền thống như thuê ren, gốm sứ… chỗ đứng của Công ty khá vững chãi trên thị
trường quốc tế. Từ những năm 2000 trở lại đây, Công ty tham gia vào xuất khẩu đá
xây dựng, một mặt hàng đang tăng trưởng cao trong thời gian gần đây. Sau một thời
gian hoạt động trong lĩnh vực mới này, Công ty đã có nhiều thành tích ấn tượng,
đồng thời có những bài học kinh nghiệm quý báu. Sau một thời gian thực tập tại
Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport với sự tận tình giúp đỡ của cô
Đặng Thị Thảo, trưởng phòng xuất nhập khẩu tổng hợp 2 và dưới sự hướng dẫn của
Thạc sĩ Đỗ Thị Đông, tôi đã hoàn thành Báo cáo chuyên đề “Hoàn thiện hoạt động
xuất khẩu đá xây dựng tại Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport”.
Báo cáo gồm ba phần:
Phần 1: Tổng quan về Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport
Phần 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu đá xây dựng tại Công ty
xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport
Phần 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu đá xây
dựng tại Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
1
Chuyên đề thực tập
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUẤT NHẬP

khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Được thành lập theo quyết
định số 617/BNgT – TCCB, tách ra từ Tổng công ty xuất nhập khẩu Tạp phẩm, cơ sở
vật chất của công ty ban đầu rất nghèo nàn, cán bộ quản lý kiêm nghiệp vụ chỉ có 36
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
2
Chuyên đề thực tập
người làm việc ở hai phòng mới hình thành là phòng mây tre đan và phòng mỹ nghệ
sơn mài. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Ngoại thương, công ty đã sớm ổn định tổ chức,
bước đầu thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ được giao, cụ thể là tổ chức sản xuất,
thu mua, tái chế, đóng gói, kinh doanh xuất nhập khẩu độc quyền hàng thủ công mỹ
nghệ theo kế hoạch của Bộ giao. Vượt qua bao gian khó, Artexport đã có được
600.000 rúp kim ngạch xuất khẩu trong năm 1965, chỉ sau một năm thành lập. Kim
ngạch xuất khẩu năm 1968 của Artexport đã lên đến 6 triệu rúp, tăng 10 lần chỉ sau 4
năm thành lập. Vừa hoạt động vừa kiện toàn tổ chức, đến thời điểm này, ngoài trụ sở
chính tại Hà Nội, Artexport còn có một chi nhánh ở Hải Phòng và 3 xí nghiệp thành
viên là: Xí nghiệp Mỹ nghệ xuất khẩu, Xí nghiệp Thảm len Đống Đa và Xí nghiệp
Thảm đay Lực Điền (Hưng Yên). Hệ thống các kho nguyên liệu chiến lược giao nhận
tại các tỉnh cũng được xây dựng kịp thời, như Đồng Quan, Xâm Động, Thường Tín,
Thanh Trì, Từ Sơn…
Đến những năm 70, tuy chiến tranh ác liệt ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
sản xuất, vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Artexport
vẫn không ngừng tăng lên. Năm 1970, kim ngạch vẫn đạt 8 triệu rúp. Dưới bom đạn
của kẻ thù, công ty vừa lo sản xuất ở các địa phương, vừa bám cảng, bám hàng. Năm
1972, năm cao điểm nhất của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, kim ngạch xuất
khẩu của Artexport đã đạt tới 15 triệu rúp, tạo đà cho những năm tiếp theo đạt bình
quân 30 triệu rúp đến thời điểm năm 1975.
- Giai đoạn 1976 - 1986: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất cùng chung xây Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Tổng công ty xuất nhập khẩu thủ
công mỹ nghệ là số ít đơn vị phía Bắc sớm đặt chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh
và Đà Nẵng. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Ngoại giao là sớm

trọng cao nhất trong toàn ngành (toàn ngành Thương mại thời điểm này đạt 800 triệu
rúp). Đây chính là đỉnh cao trong quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty
Artexport cho tới thời điểm đó. Artexport đã khẳng định là một trong những Tổng
công ty dẫn đầu về thành tích kinh doanh của Bộ Ngoại thương với quy mô rộng
khắp trên toàn quốc và uy tín trên thị trường thế giới.
Từ những năm 1990, việc chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường diễn ra ngày càng sâu sắc, nhiều doanh nghiệp đã bị xóa sổ. Năm 1991, sự sụp
đổ của Liên Xô và hệ thống chính trị ở các nước Đông Âu đã khiến công ty mất tới
85% thị trường xuất khẩu hàng hóa của mình. Giai đoạn này, công tác xúc tiến
thương mại được đẩy nhanh hơn bao giờ hết: công ty cử nhiều đoàn tham gia các hội
chợ, triển lãm, thông qua thương vụ, Việt kiều, đoàn ngoại giao ở các nước để tìm
kiếm thị trường. Cùng với các biện pháp về tổ chức sắp xếp lại lao động, đào tạo
nguồn nhân lực mà công ty đã trụ vững qua thời kỳ cam go này. Từ những năm 1991
đến 1998, kim ngạch bình quân đạt khoảng 15 triệu USD, tuy mức độ chưa cao
nhưng mức thực hiện có chiều hướng tăng dần và điều quan trọng, qua những giai
đoạn khó khăn đó, công ty đã tìm được cho mình hướng đi đầy triển vọng cho những
năm tiếp theo.
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
4
Chuyên đề thực tập
Trong 5 năm 1999 - 2004, công ty đã có những bước chuyển mạnh mẽ để
phù hợp với xu thế mới của thị trường: từ thế độc quyền chuyển hẳn sang cạnh tranh bình
đẳng với nhiều thành phần kinh tế khác trong tổ chức sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ; cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực châu Á; tiếp đến năm
2001, kinh tế thế giới lâm vào suy thoái sau sự kiện khủng bố 11/9 vào nước Mỹ khiến sức
mua của thị trường thế giới giảm đáng kể, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường gặp
nhiều khó khăn…Năm 1999, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 23,23 triệu USD thì năm 2001
đã là 25,688 triệu USD, năm 2003 lên tới 27,8 triệu USD và năm 2004 đạt 32,5 triệu USD.
Nộp ngân sách năm 2003 đạt mức 18 tỷ VNĐ, gấp đôi so với năm 1999, thu nhập bình quân
từ 1,2 triệu đồng/người/tháng của năm 1999 đã đạt trên 2 triệu đồng/người/tháng năm 2004;

hai phòng: mây tre đan và mỹ nghệ sơn mài, Artexport chủ động trong việc liên kết
với bà con nông dân tại các làng nghề truyền thống để thu mua, tái chế và xuất khẩu
mặt hàng này ra thị trường thế giới. Không chỉ dừng lại ở đó, cán bộ công ty đã
xuống tận làng nghề để hướng dẫn bà con về các kỹ thuật làm hàng mây tre đan xuất
khẩu, đồng thời tìm kiếm ra được các nguyên liệu mới, phục vụ tốt hơn cho công tác
làm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, như: cỏ, rơm rạ, xơ dừa, mây tre, cói đan, bẹ
ngô…
Về mặt hàng mỹ nghệ sơn mài: đặc điểm của mặt hàng này đòi hỏi tính tỉ mỉ
và sự tinh xảo rất cao. Vậy nên, muốn có được những mặt hàng đáp ứng được yêu
cầu cao của khách hàng, Artexport đã phải tìm hiểu kĩ nhu cầu của khách hàng cũng
như là tìm tới những nghệ nhân có tên tuổi tại các làng nghề để làm ra được những
sản phẩm mang tính nghệ thuật cao và có giá trị.
Về mặt hàng gốm sứ: đây là mặt hàng thủ công mỹ nghệ rất quen thuộc ở Việt
Nam và được bạn bè thế giới đánh giá cao về chất lượng cũng như là tính nghệ thuật
của sản phẩm. Với các làng nghề nổi tiếng như Bát Tràng, sản phẩm gốm cung cấp
cho xuất khẩu là rất dồi dào. Tuy nhiên, vấn đề mẫu mã và quy trình sản xuất sao cho
sản phẩm đạt được chất lượng tốt nhất luôn là một thách thức với các làng nghề bao
đời nay. Với tâm huyết với làng nghề, năm 1995, thông qua một bạn hàng quen thuộc
người Nhật Bản, Artexport đã mạnh dạn đầu tư 30 ngàn USD để nhập khẩu về chiếc
lò nung 1m³ sử dụng nguyên liệu khí gas. Đây là một sự thay đổi to lớn trong cách
thức tạo ra sản phẩm của làng nghề truyền thống như Bát Tràng. Cũng nhờ đó mà
cuộc sống của người dân khấm khá hẳn lên.
Về mặt hàng thêu: đây là sản phẩm mà khách hàng quốc tế đặc biệt thích thú
khi đến thăm các gian hàng triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Sản
phẩm này không chỉ là kết quả của sự lao động cần cù của người nghệ nhân mà nó
còn chứa đựng trong đó cả tâm hồn và tình cảm của người nghệ sỹ dân gian đã sáng
tạo ra nó. Do đặc điểm như vậy, mặt hàng này luôn được công ty chú trọng phát
triển, không chỉ thuần túy về tính kinh tế, mà cao hơn, đó là đem hình ảnh đất nước
con người Việt Nam quảng bá ra khắp thế giới.
Về mặt hàng đá xây dựng: đá xây dựng là một mặt hàng ít được nhắc đến khi

mới là điều quan trọng nhất trong thời gian trước mắt.
Về phía nhà cung cấp, nguồn cung chủ yếu của công ty là các làng nghề thủ
công truyền thống, bên cạnh đó thì các cơ sở sản xuất tư nhân cũng là một nguồn
cung đáng kể. Trước hết là các làng nghề truyền thống, các sản phẩm như mây tre
đan, sản phẩm thêu thì các làng nghề tại các tỉnh đồng bằng Bắc bộ là những địa
phương có nhiều sản phẩm cung cấp cho công ty nhất. Như mây tre đan tại Nam
Định, Ninh Bình, Thái Bình; thêu tại Hà Nam, Hà Tây (cũ),… Quy mô các làng nghề
không lớn, do đó một mặt hàng công ty không chỉ lấy từ một làng nghề cụ thể nào mà
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
7
Chuyên đề thực tập
có thể phải đặt hàng cho nhiều làng nghề tại các địa phương khác nhau. Mặt khác thì
tại các làng nghề này, người dân vẫn còn làm hàng thủ công theo tính thời vụ nên để
đảm bảo tiến độ của đơn hàng, cán bộ Artexport phải liên hệ chặt chẽ với từng làng
nghề, theo sát tiến độ của từng nơi một.
Thứ hai, các cơ sở sản xuất tư nhân: các cơ sở này có thể trực tiếp làm hàng
xuất khẩu ra nước ngoài hoặc là chỉ sản xuất trong nước, Artexport liên hệ với các cơ
sở này mỗi khi có đơn hàng tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài với các cơ sở. Thông
thường thì khi nào có đơn hàng thì công ty mới đặt hàng tới cơ sở sản xuất, tuy nhiên
cũng có nhiều trường hợp, cơ sở sản xuất đã sản xuất đón đầu và khi có đơn hàng thì
công ty chỉ việc thu mua tại các cơ sở này.
Như vậy, thị trường của Artexport có nhiều tiềm năng mở rộng hơn nữa, khi
mà cầu hàng thủ công mỹ nghệ tăng cao, công ty sẽ có nhiều cơ hội thâm nhập vào
những thị trường mới và các phân đoạn khách hàng mới. Để phát triển bền vững
trong một ngành hàng có tính độc đáo, riêng biệt cao như thủ công mỹ nghệ, công ty
đã, đang và sẽ xây dựng mối liên hệ mật thiết với các làng nghề, các cơ sở sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ để đảm bảo nguồn cung luôn ổn định.
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
8
Chuyên đề thực tập

tổng thể hay không
- Quy định rõ thẩm quyền của Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc
+ Ban kiểm soát:
- Kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, các bảng tổng kết tài chính của công ty
- Trình Đại hội đồng cổ đông báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết tài chính
của công ty
- Báo cáo về những sự kiện tài chính bất thường, về ưu, khuyết điểm trong
quản trị tài chính của Hội đồng quản trị
+ Tổng giám đốc:
- Lãnh đạo, điều hành và quản lý mọi hoạt động của công ty và chỉ đạo trực
tiếp công tác chiến lược phát triển công ty
- Trực tiếp phụ trách các phòng: phòng tài chính – kế hoạch, phòng kinh
doanh xuất nhập khẩu tổng hợp 3 và phòng mỹ nghệ
- Trực tiếp giải quyết công việc của các phó Tổng giám đốc khi phó Tổng
giám đốc đi vắng
+ Phó Tổng giám đốc (1):
- Thay mặt Tổng giám đốc điều hành mọi hoạt động của công ty khi Tổng
giám đốc đi vắng
- Phụ trách công tác nội vụ của công ty, công tác bảo vệ chính trị nội bộ,
công tác tổ chức hành chính, tham gia với Tổng giám đốc về công tác cán bộ, công
tác phát triển nguồn nhân lực
- Trực tiếp quản lý điều hành và khai thác có hiệu quả cao nhất đối với tất cả
các cơ sở vật chất của công ty như nhà kho, xưởng, văn phòng tại Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh
- Phụ trách phòng tổ chức hành chính, phòng kinh doanh xuất nhập khẩu tổng
hợp 2 và phòng kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp 5
- Giải quyết một số công việc thay cho phó Tổng giám đốc (2) khi phó Tổng
giám đốc (2) khi đi công tác vắng
+ Phó Tổng giám đốc (2):
- Thay mặt cho Tổng giám đốc chỉ đạo công tác xúc tiến thương mại, xây

khách hàng, tổ chức từ khâu sản xuất hoặc thu gom hàng đến tận khâu giao nhận
hàng cho khách, thanh toán, các đơn vị kinh doanh trực tiếp phụ trách tất cả công
việc trong ngành hàng mình phụ trách
- Xây dựng các phương án kinh doanh và trình cho Tổng giám đốc duyệt
+ Các đơn vị trực thuộc:
- Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh: địa chỉ số 31 Trần Quốc Toản, được
Công ty giao cho nhiệm vụ phụ trách các công việc ở các tỉnh phía Nam, từ việc giao
nhận, thu gom đến việc xuất khẩu hàng
- Chi nhánh Artexport Hải Phòng: địa chỉ số 25 phố Đà Nẵng, quận Ngô
Quyền, Thành phố Hải Phòng: giao nhận, tái chế, đóng gói xuất khẩu và trực tiếp sản
xuất hàng hóa xuất khẩu
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
11
Chuyên đề thực tập
- Chi nhánh Artexport Đà Nẵng: địa chỉ số 74 Trưng Nữ Vương, nhiệm vụ:
giao nhận, thu gom hàng xuất khẩu.
- Xí nghiệp Sản xuất và Xuất khẩu hàng Thủ công mỹ nghệ: 23 Láng Hạ, Ba
Đình, Hà Nội
+ Xưởng sản xuất:
- Bao gồm: xưởng thêu Thanh Lân (huyện Thanh Trì – Hà Nội), xưởng gốm
Bát Tràng (Hà Nội) và xưởng gỗ Đông Mỹ
- Các xưởng có nhiệm vụ trực tiếp sản xuất hàng phục vụ xuất khẩu.
1.2.3. Nguồn nhân lực
Công ty có số cán bộ công nhân viên chính thức là 173 người, các cán bộ
công nhân viên có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong công
việc. Trong số cán bộ công nhân viên có 12 người có trình độ thạc sĩ trở lên, 126
người có trình độ đại học, tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp có 22 người (Nguồn: Phòng
Tổ chức – Hành chính _ Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ -
Artexport). Các cán bộ, công nhân viên trong công ty cũng thường xuyên được bồi
dưỡng nghiệp vụ chuyên môn qua các khóa đào tạo ngắn hạn do các chuyên gia

có 3 xưởng sản xuất (xưởng sản xuất thêu tại Thanh Lân – Hà Nội với diện tích
600m², xưởng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Đông Mỹ - Hà Nội với diện tích
1750m², xưởng sản xuất gốm tại Bát Tràng với diện tích trên 9000m²), có 2 nhà kho
(tại Thanh Lân – Hà Nội và tại Hải Phòng), các công ty thành viên: công ty cổ phần
bất động sản Artexportland và công ty cổ phần chứng khoán Artex. Ngoài ra, các văn
phòng làm việc của Công ty cũng được trang bị đầy đủ máy móc hiện đại phục vụ
cho công việc như máy in, máy fax, máy tính…
Trang thiết bị tại các cơ sở sản xuất đang dần được hoàn thiện. Tại xưởng thêu
của công ty, bên cạnh các công nhân lành nghề, còn có máy thêu tự động dùng để sản
xuất các sản phẩm hàng hóa được đặt theo lô, không yêu cầu phải làm hoàn toàn
bằng tay. Tại xưởng gốm tại Bát Tràng, công ty đã đầu tư xây dựng lò nung sử dụng
khí ga với quy trình hoạt động tuân thủ theo thiết kế của phía Nhật Bản tạo ra sản
phẩm chất lượng cao với hiệu suất sử dụng ở mức cao nhất từ trước tới nay. Công ty
chính là đơn vị đầu tiên nhập khẩu trang thiết bị này vào Việt Nam, tới nay sản xuất
dùng khí ga nung đã được phổ biến rộng rãi tại Bát Tràng, góp phần đáng kể nâng
cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, tiết kiệm năng lượng, đồng thời tạo ra sản
phẩm mang tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
1.2.5. Đặc điểm nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu của công ty bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào đặc điểm của
từng ngành hàng. Mặt khác, trong cùng một ngành hàng thì cũng có nhiều loại
nguyên vật liệu khác nhau phục vụ cho quá trình sản xuất. Do vậy, công ty đã chủ
động liên kết với các địa phương hình thành nguồn nguyên liệu, chủ động trong quá
trình sản xuất, như nguồn cói từ các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình; mây tre
đan ở tỉnh Hà Nam…
Với đặc điểm nguyên vật liệu là các sản phẩm từ tự nhiên, gắn chặt với
những vùng miền nhất định, nên vấn đề đảm bảo đủ nguồn cung về nguyên vật liệu
luôn được lãnh đạo công ty quan tâm. Mặt khác, công ty còn lấy nguồn hàng ngay tại
các làng nghề, cho nên, vấn đề chất lượng nguyên vật liệu đòi hỏi sự kiểm tra ngay từ
khâu bắt đầu sản xuất. Ví dụ như mặt hàng đá mỹ nghệ, ngay khi có đơn hàng, các
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C

Trên đây là một số nguyên vật liệu chính của công ty, do đặc điểm nguyên
vật liệu có tính thời vụ cao, nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nguyên vật liệu trong quá trình
sản xuất là một nhiệm vụ không dễ dàng thực hiện. Để sản xuất diễn ra liên tục, đảm
bảo nguồn cung hàng, cán bộ công ty đã phải xuống từng địa phương, thu mua, sơ
chế và cho vào kho bảo quản. Đối với các sản phẩm thu mua từ các làng nghề, việc
kiểm tra chất lượng của nguyên vật liệu được thực hiện thông qua các cán bộ có
chuyên môn để đảm bảo nguồn nguyên liệu luôn đạt chỉ tiêu chất lượng.
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
14
Chuyên đề thực tập
1.2.6. Đặc điểm về vốn
Khi mới thành lập, Artexport là một Tổng công ty nhà nước. Sau 40 năm
xây dựng và trưởng thành, theo chủ trương chính sách của nhà nước, năm 2004,
Artexport được cổ phần hóa với tên gọi: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công
mỹ nghệ, với cơ cấu và bộ máy tổ chức của một công ty cổ phần, hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp 2005.
Hiện nay, Nhà nước nắm giữ 8,67% vốn điều lệ của công ty, số còn lại
thuộc quyền sở hữu của cổ đông (với chính sách người lao động làm chủ, năm 2005,
khi Artexport cổ phần hóa, cán bộ công nhân viên trong công ty, theo cấp bậc và số
năm kinh nghiệm cũng được mua số cổ phần tương ứng).
Do đặc điểm là một công ty cổ phần, Artexport hoạt động với quyền lực lớn
nhất trong tay Đại hội đồng cổ đông, Chủ tịch hội đồng quản trị là người được Hội
đồng quản trị bầu chọn theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, Tổng giám đốc
là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động của công ty.
Bảng 1.2: Bảng cân đối kế toán năm 2008
Đơn vị: Việt Nam Đồng
TÀI SẢN Số cuối kỳ Số đầu năm
A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 136.770.303.837 268.729.831.005
I. Tiền và các khoản tương đương tiền 8.242.021.889 39.334.436.664
II. Các khoản đầu tư TC ngắn hạn 8.481.890.000 9.971.250.000

công ty đã đưa vào sử dụng tòa nhà tại 2A Phạm Sư Mạnh, điều này là một dấu hiệu
tích cực khi mà vốn vay trong ngắn hạn của công ty ở mức cao như trên.
1.2.7. Các hoạt động quản trị
1.2.7.1. Công tác nghiên cứu phát triển
Hiện nay, Artexport chưa có phòng nghiên cứu và phát triển độc lập. Quá
trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm do chính các phòng ban xây dựng và phát
triển. Đồng thời, việc nghiên cứu mẫu mã sản phẩm mới cũng phụ thuộc rất nhiều
vào yếu tố sở thích của khách hàng, do vậy, công tác này không giống như ở các
công ty sản xuất sản phẩm tiêu dùng khác (ở các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa
thông thường, thường có một phòng nghiên cứu và phát triển riêng, phòng nghiên
cứu và phát triển sẽ nghiên cứu tạo ra các sản phẩm mới để đưa vào sản xuất). Tại
Artexport, khi có đơn hàng thì cán bộ công ty sẽ thiết kế mẫu sản phẩm phù hợp với
nhu cầu của từng khách hàng, sau đó đưa xuống các xưởng sản xuất hoặc đặt hàng tại
các làng nghề truyền thống. Mặt khác, nhiều khách hàng cũng sẽ đưa luôn mẫu mã
sản phẩm họ đặt hàng đến cho công ty và công ty chỉ phải làm theo chính xác đơn đặt
hàng của khách.
Song song với việc nghiên cứu và thiết kế mẫu mã theo đơn đặt hàng của
khách hàng của cán bộ công ty, Artexport còn phối hợp chặt chẽ với các nghệ nhân
tại các làng nghề để có được những mẫu mã thiết kế mới nhất của các nghệ nhân làng
nghề truyền thống.
Tuy nhiên nói như vậy không đồng nghĩa với việc hoạt động nghiên cứu và
phát triển không phát triển tại công ty. Thông qua các hội chợ triển lãm hàng thủ
công mỹ nghệ, đồng thời nghiên cứu nhu cầu của khách hàng thông qua các nguồn
thông tin sơ cấp và thứ cấp, công ty đã nhiều lần mạnh dạn sản xuất sản phẩm trước
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
16
Chuyên đề thực tập
khi có đơn đặt hàng, đi trước đón đầu thị trường, từ đó tạo được thế chủ động của
công ty trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Nghiên cứu và phát triển của công ty chủ yếu tập trung vào các điểm sau đây:

công tác đảm bảo chất lượng của công ty gặp rất nhiều trở ngại. Bên cạnh đó thì tính
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
17
Chuyên đề thực tập
chất độc đáo trong các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cũng khiến cho việc quản lý hàng
hóa theo các tiêu chuẩn cứng nhắc khó thực hiện. Vì những lý do kể trên, hiện tại
Công ty vẫn chưa thể áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO vào trong quá trình sản xuất, công
tác chất lượng vẫn còn nhiều điểm cần phải khắc phục cho thích hợp với các tiêu
chuẩn ngày càng cao do khách hàng đặt ra.
Chất lượng của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được kiểm nghiệm chủ yếu
dựa vào giác quan và kinh nghiệm của cán bộ kiểm tra, do đó không thể tránh khỏi
những sai sót nhất định. Vậy nên, Công ty cũng đã chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ
kiểm tra hàng hóa để đội ngũ cán bộ này ngày một nâng cao nghiệp vụ để từ đó nâng
cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu.
Quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm của Artexport được thực hiện qua
các bước sau đây: đầu tiên, khi có đơn hàng, Công ty sẽ bắt đầu đưa vào sản xuất
hoặc đặt hàng, kiểm tra chất lượng ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào kiểm tra
chất lượng của nguyên vật liệu đầu vào; tiếp theo, trong quá trình sản xuất, Công ty
giám sát chất lượng thông qua việc đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra theo đúng quy
trình thiết kế, ví dụ như là sản phẩm gốm thì nhiệt độ nung và thời gian nung quyết
định lớn tới chất lượng thành phẩm do đó, phải tuyệt đối tuân thủ điều kiện về nhiệt
độ và thời gian nung; sau khi thành phẩm đã hoàn thành, bước kiểm tra chất lượng
thành phẩm là một khâu được thực hiện hết sức cẩn thận, lý do là bởi hàng hóa của
Công ty chủ yếu là hàng xuất khẩu, xuất ra các nước theo đường vận tải biển, do đó,
nếu không đảm bảo chất lượng sản phẩm thì sẽ gây ra thiệt hại lớn, chẳng hạn nếu có
một sản phẩm về đá xây dựng không đạt quy chuẩn, trong quá trình vận chuyển có
thể bị vỡ từ đó sẽ gây ra phản ứng dây chuyền, làm cho cả container hàng bị hỏng,
thiệt hại sẽ là không nhỏ.
Do những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm, Công ty có kế
hoạch đầu tư những sản phẩm kiểm tra chất lượng sản phẩm công nghệ cao để đáp

ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do sự phát triển của Internet, hoạt động này được thực hiện
một cách dễ dàng hơn và có hiệu quả cao hơn, bởi quảng cáo trên Internet không tốn
nhiều chi phí, mức độ phổ biến của nó lại rất rộng rãi không giới hạn về không gian
và thời gian. Artexport đã tận dụng được thành tựu mà công nghệ thông tin mang lại,
vận dụng linh hoạt trong hoạt động marketing của Công ty. Chỉ riêng việc chào hàng
qua thư điện tử đã giúp Công ty tiết kiệm được khoản tài chính lớn, đồng thời lại giữ
chân các khách hàng truyền thống khi mà cán bộ Công ty có thể trao đổi các thông tin
chủ yếu qua mail, đồng thời các dịch vụ hậu mãi cũng được thực hiện phần lớn thông
quan Internet.
Do đặc điểm của mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công tác marketing của công
ty cũng có những nét khác biệt cơ bản. Bốn chữ P trong marketing truyền thống
(Product, Price, Place, Promotion) được cán bộ Công ty vận dụng một cách linh hoạt,
đặc biệt là vấn đề giá cả. Giá cả của sản phẩm thủ công mỹ nghệ không thể tính toán
trên giá thành bởi đó không là một sản phẩm thông thường mà là một sản phẩm mang
tính nghệ thuật, vậy nên việc định giá phải có một am hiểu sâu sắc về thị trường.
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
19
Chuyên đề thực tập
Nhìn chung, hoạt động marketing của Công ty được thực hiện tương đối tốt
dù không có phòng marketing riêng. Có được kết quả đó, phần lớn phụ thuộc vào nỗ
lực của các phòng ban, nhưng cũng không thể phủ nhận, truyền thống và thương hiệu
của công ty với bề dày 45 năm phát triển đã tạo nên những thành công như ngày hôm
nay.
1.2.7.4. Quản trị sản xuất
Artexport là một công ty chuyên về xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ,
nguồn hàng chính là từ các làng nghề truyền thống, do đó, đặc điểm về quản trị sản
xuất tại đây có nhiều nét khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa khác.
Trước hết, sản phẩm tồn kho ở Công ty là rất thấp, nguyên nhân là do quá trình kinh
doanh của Arteport vẫn diễn ra theo một chu trình tương đối cổ điển: khi nhận được
đơn hàng của khách hàng, Công ty mới liên hệ tới các làng nghề, các cơ sở sản xuất

một bức tranh với kích cỡ 1m*1m thì phát hiện ra điều đó là không hề đơn giản.
Khi sản phẩm được đóng hàng vào container thì hoạt động sản xuất là hoàn
thành. Giai đoạn kiểm tra thành phẩm trước khi xuất đi có sự tham gia của cán bộ
quản trị sản xuất, cán bộ quản trị chất lượng, khi đó, nếu xảy ra bất kì vấn đề nào về
chất lượng thì cán bộ quản trị sản xuất sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
1.2.7.5. Quản trị tài chính
Hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nên nhu cầu về nguồn ngoại tệ rất
lớn, đồng thời vấn đề dự báo giá cả ngoại tệ trên thị trường cũng là một vấn đề không
nhỏ đối với công tác tài chính của Artexport. Từ khi vận hành theo hình thức công ty
cổ phần, mỗi phòng ban trong công ty thực hiện chế độ hạch toán riêng để đảm bảo
khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập, từ đó nảy sinh vấn đề đảm bảo đủ nguồn
tài chính cho các hợp đồng ở tất cả các phòng ban. Hiện tại, Artexport thực hiện theo
cơ chế, khi có đơn hàng, mỗi đơn vị sẽ tự tổ chức sản xuất, liên hệ nhà cung cấp và
được tạm ứng tùy theo đơn hàng, sau đó khi kết thúc hợp đồng, đơn vị đó hạch toán
với phòng Tài chính – Kế toán theo nguyên tắc: trả đủ khoản tạm ứng có bao gồm cả
lãi, trả phần lãi tỉ lệ theo quy định của công ty để có duy trì hoạt động của công ty,
sau đó lợi nhuận còn lại chính là nguồn tài chính để duy trì hoạt động của chính đơn
vị đó. Do yêu cầu khách quan như vậy, nên Artexport đang trong quá trình thành lập
một tổ chức tài chính tín dụng riêng để đảm bảo nguồn cung vốn cho hoạt động của
toàn bộ Công ty.
Như vậy, hoạt động tài chính không chỉ diễn ra ở phòng Tài chính – Kế
toán mà tất cả các phòng ban đều phải quản trị nguồn tài chính của riêng mình. Theo
như quy trình luân chuyển dòng tài chính như miêu tả ở trên, lương và thưởng của
từng cán bộ công nhân viên trong các phòng nghiệp vụ (các phòng xuất nhập khẩu)
phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả hoạt động kinh doanh của phòng ban mình. Đây là
xu thế mới trong quản trị tài chính hiện đại (có thể hiểu một cách đơn giản là làm bao
nhiêu thì hưởng bấy nhiêu), đó là một động lực thúc đẩy rất quan trọng để cán bộ
công nhân viên cố gắng nỗ lực làm việc.
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
21

giai đoạn 2006 – 2008, có thể nhận thấy hoạt động của Công ty đang trong giai đoạn
gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, năm 2007, lợi nhuận của Công ty đạt con số âm
25.640.401.370 đồng. Tuy nhiên, nếu so sánh giữa tổng doanh thu và lợi nhuận,
chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy không có tính tương quan thuận chiều: năm 2007
là năm có tổng doanh thu cao nhất trong 3 năm, nhưng lại có lợi nhuận âm (tổng
doanh thu là 646.061.649.821, lợi nhuận đạt (25.640.401.370); năm 2008 là năm có
tổng doanh thu thấp nhất trong 3 năm lại là năm có lợi nhuận cao nhất trong 3 năm
(tổng doanh thu là 530.110.254.179, lợi nhuận đạt 10.880.631.548). Nguyên nhân của
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
22
Chuyên đề thực tập
số lợi nhuận âm năm 2007 là do giá vốn hàng bán tăng cao một cách bất thường,
chiếm 91,1% tổng doanh thu (588.531.633.461 đồng), từ đó đẩy kết quả kinh doanh
của công ty đi xuống.
Khi đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần
đây, có một thực tế là năm 2007, khi nền kinh tế nước ta có được những thành tựu tăng
trưởng đáng kể thì Artexport lại đạt mức tăng trưởng âm, đây là một vấn đề đáng lưu tâm
trong quá trình xây dựng và phát triển công ty, bởi nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có
thể có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng nó cũng thể hiện trình độ quản lý của
đội ngũ lãnh đạo Công ty còn yếu, chưa phù hợp theo nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu và
rộng vào nền kinh tế thế giới. Đây cũng là một bài học để các nhà quản trị Công ty đúc kết
kinh nghiệm, tránh những sai sót về sau.
Qua năm 2007 nền kinh tế thế giới bước vào một cuộc khủng hoảng kéo
theo đó là sự sụp đổ của một loạt ngân hàng lớn và vô số các doanh nghiệp trên thế
giới, hoạt động kinh doanh của Artexport cũng gặp nhiều khó khăn khi tổng doanh
thu giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm, nhưng do đúc kết được kinh nghiệm từ
năm 2007, năm 2008, Công ty đã có mức lợi nhuận là 10.880.631.548 đồng, vượt qua
cả năm 2006 (7.612.725.003 đồng).
Hình 1.2: Biểu đồ tăng trưởng Artexport giai đoạn 2004 – 2008:
Đơn vị: tỷ đồng

đồng thời chính sách lương thưởng cũng luôn được chú trọng để tạo ra sự khuyến khích đối
với người lao động. Thu nhập của người lao động được cải thiện, từ đó người lao động mới
chuyên tâm cống hiến cho công ty.
Nếu so sánh với mức lương trên thị trường hiện nay, mức thu nhập bình
quân người/tháng của Artexport chưa phải là cao, tuy nhiên đây cũng là một mức
lương tương đối với người lao động ở một doanh nghiệp nhà nước mới chuyển sang
mô hình công ty cổ phần. Bảng số liệu và biểu đồ cho ta thấy rõ sự tăng trưởng trong
vấn đề tiền lương cho người lao động.
Bảng1.4: Thu nhập bình quân của người lao động giai đoạn 2004 – 2008
Đơn vị: Triệu đồng/tháng
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
Thu nhập 2.2 2.4 2.7 2.7 3.1
Nguồn: Phòng Tổ chức – hành chính _ Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ - Artexport
Hình 1.3:Biểu đồ tăng trưởng thu nhập bình quân người/tháng
Đơn vị: Triệu đồng/tháng
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm

văn phòng.
Hệ số nợ của Công ty năm 2006 là 77,71%, năm 2007 là 77,83%, sang năm
2008 là 67,86%, có sự giảm dần từ năm 2006 đến năm 2008. Tuy nhiên, hệ số nợ của
Công ty là khá cao so với trung bình của ngành thương mại dịch vụ (khoảng 50% –
60%). Điều này, chứng tỏ Công ty phụ thuộc vào các khoản nợ vay. Hiện tại, Công ty
có khoản nợ vay trung dài hạn rất lớn và Công ty có kế hoạch trả nợ đến tận năm
2012.
Khả năng thanh toán nhanh của Công ty 3 năm đều nhỏ hơn 1%, khả năng
thanh toán hiện hành 3 năm đều nhỏ hơn 1,5%, nếu đem so sánh trung bình ngành
thương mại dịch vụ tương ứng là 1,2% - 1,5% và 2,3% - 2,5% thì ta có thể thấy khả
năng thanh toán của Công ty rất thấp.
Năm 2007, Arexport đã bị lỗ nên không thể tính được các tỷ suất sinh lời.
So với trung bình ngành thì tỷ suất sinh lời của Công ty trong năm 2006 và 2008 ở
mức trung bình.
PHẦN 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU ĐÁ
XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU THỦ CÔNG
MỸ NGHỆ ARTEXPORT
Trần Thị Nhạn Lớp: QTKD Tổng hợp 48C
25

Trích đoạn Kết quả kinh doanh xuất khẩu đá xây dựng của Arteport những năm gần đây Chuẩn bị giao dịch, tiến tới ký kết hợp đồng ngoại thương Chuẩn bị hàng xuất khẩu Kiểm tra chất lượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status