LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang tiến những bước vững chắc trong quá trình
hội nhập và phát triển. Trên tình hình hợp tác hai bên cùng có lợi, nước ta đã
và đang tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình hợp tác và phát triển
chung của nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trong quá trình phát triển đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã vươn đến
rất nhiều nước trên thế giới, quan hệ mua – bán với nhiều nước phát triển,
những nước có khoa học công nghệ tiên tiến. Để thực hiện được các giao dịch
ấy thì phải cần đến hoạt động thanh toán. Vì bất kỳ mối quan hệ mua – bán
nào cũng kết thúc bằng quá trình thanh toán tiền hàng cho nhau giữa các đối
tượng tham gia. Do đó công tác thanh toán đã được xem là một trong những
hoạt động chính của doanh nghiệp, là điều khoản chính trong các hợp đồng
kinh tế.
Bên cạnh đó, hoạt động thanh toán còn tác động đến quá trình sản xuất
kinh doanh và sự tồn tại của các doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp mất khả
năng thanh toán trong một thời gian nhất định với khách hàng, ngân hàng
hoặc chính các cổ đông trong doanh nghiệp thì buộc phải tuyên bố phá sản.
Do vậy ngay từ khi nền kinh tế còn kém phát triển, các đối tượng kinh doanh
đã xem xét vấn đề thanh toán một cách nghiêm túc, việc xác định các dòng
tiền vào ra doanh nghiệp đã trở nên thường xuyên. Kết hợp với nhiều hoạt
động khác tiến đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở
hữu.
Tuy nhiêu hoạt động thanh toán mỗi nước có những đặc điểm khác
nhau, được pháp luật cụ thể hoá thành các luật, các quy định và quyết định để
làm cho hoạt động thanh toán có hiệu quả và chính xác. Ngay mỗi doanh
nghiệp sự quan tâm về công tác tổ chức thanh toán cũng không giống nhau.
Có lẽ vì hoạt động thanh toán phụ thuộc nhiều vào đặc điểm kinh doanh, đặc
tính sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp nên đã biến hoá
rất đa dạng và phong phú.
1
Qua quá trình thực tập tại công ty XNK Máy Hà Nội , do hiểu được
Từ khi đi vào chuyên môn hóa sản phẩm, xuất hiện quá trình trao đổi
sản phẩm cho nhau nên hoạt động thanh toán bắt đầu ra đời. Kể từ đó cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, thanh toán cũng trải qua nhiều giai đoạn,
thay đổi để phù hợp với sự phát triển đó nhưng chủ yếu là các giai đoạn sau:
2.1. Thanh toán bằng hiện vật.
Tức là dùng hàng hóa làm phương tiện trao đổi, thanh toán giữa các
bên, hàng hóa này đổi với hàng hóa kia. Đây là hình thức thanh toán nguyên
thủy của loài người.
Thời kỳ đầu của giai đoạn này là hàng hóa đổi hàng hóa, tức là hai bên
trao đổi hàng hóa cho nhau và chính hàng hóa đó làm phương tiện thanh toán
luôn. Đến khi phát triển cao hơn thì đã có một hàng hóa làm trung gian, và
như thế chính hàng hóa trung gian đó đóng vai trò là phương tiện thanh toán
giữa các bên. Đến lúc này hàng hóa đã trở thành một loại tiền tệ với đầy đủ
giá trị và chức năng của nó.
3
2.2. Thanh toán bằng kim loại.
Cùng với sự phát triển ngày càng cao, người ta nhận thấy rằng kim loại
là một hóa tệ có nhiều đặc tính tốt nhất. Nên thay vì thanh toán bằng những
hàng hóa trước thì họ đã sử dụng kim loại để thanh toán.
Ban đầu người ta chỉ sử dụng các kim loại bình thường như chì, kẽm…
rồi dần dần đi tới sử dụng các kim loại quý hiếm như vàng, bạc.
Như vậy từ thanh toán bằng hàng hóa đã phát triển lên thanh toán bằng
kim loại quý. Tuy nhiên giai đoạn này chưa có hoạt động ngân hàng nên chỉ
có phương thức thanh toán duy nhất là gặp mặt trực tiếp giao hàng và giao
tiền.
2.3. Thanh toán bằng tiền giấy.
Sau khi nhu cầu và tài sản trong xã hội ngày càng nhiều dẫn đến một
nhu cầu mới: Gửi tiền. Do đó mà ngân hàng ra đời dù là hình thức sơ khai.
Do sự phát triển của ngân hàng nên trong thanh toán hàng ngày giữa
người mua và người bán xuất hiện một loại tiền tệ mới đó là chứng chỉ gửi
3.1. Thanh toán không sử dụng tiền mặt là chủ yếu.
Khi hoạt động ngân hàng chưa đủ sự phát triển và tin cậy thì tiền mặt
trong thanh toán rất nhiều. Nhưng hiện nay xu thế thanh toán không dùng tiền
mặt ngày càng phát triển.
ở các nước phát triển, thanh toán bằng tiền mặt rất ít. Trong hoạt động
kinh doanh, thanh toán qua ngân hàng chiếm 100%, chỉ một phần nhỏ thanh
toán trong sinh hoạt hàng ngày mới sử dụng tiền mặt.
Khi các bên giao dịch với nhau, thường sử dụng các công cụ như: Séc,
UNT, UNC… để thực hiện thanh toán và người mua hoặc người bán chỉ giao
các công cụ đó cho ngân hàng của mình là được, công việc còn lại là của các
ngân hàng với nhau. Tất nhiên là khách hàng phải mất một khoản phí nhất
định.
Thực hiện như vậy sẽ hạn chế được rủi ro trong thanh toán như: cướp
giật, hỏng mất… vì công cụ thanh toán chỉ là một tờ giấy nhỏ hoặc chẳng có
gì cả. Sau khi giao nhận hàng thì giao bộ chứng từ cho ngân hàng thu hộ hoặc
chi hộ. Với hình thức này thì lượng tiền mặt trong thanh toán giảm đi rất
nhiều, nên chi phí quản lý tiền mặt sẽ giảm xuống và hạn chế được bao nhiêu
là rủi ro. Do sự tiện lợi đó mà xu thế này đang phát triển ngay ở các nước kém
và đang phát triển.
5
Theo thống kê của ngân hàng Pháp thì thanh toán bằng tiền mặt trong
kinh doanh ở Pháp, Anh, Hà Lan là 0%, ở Đức là 4.2%, ở Hoa Kỳ là 2.1%,
Đan Mạch là 7.4%… như vậy để thấy được thanh toán không dùng tiền mặt
thật sự được ứng dụng rộng rãi và phát triển như thế nào.
3.2. Công cụ và hình thức thanh toán ngày càng đa dạng.
Khi ngân hàng còn chưa ra đời thì chỉ có hình thức là trực tiếp theo
kiểu “ tiền trao cháo múc ”. Đến khi ngân hàng ra đời và phát triển cao thì
ngoài thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp với khách hàng còn có thanh toán qua
séc, UNC, UNT, các loại thẻ thanh toán rồi thanh toán điện tử …
Phương thức thanh toán cũng rât phong phú: chuyển khoản, chuyển
cung cấp. Hay nói ngắn gọn là hình thức thanh toán qua ngân hàng, không sử
dụng tiền mặt trong kinh doanh.
Đây là xu thế phát triển hiện nay không chỉ ở các nước phát triển mà
còn ở những đang phát triển.
4.3. Thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế
Thanh toán trong nước là hình thức thanh toán chỉ diễn ra trong nội bộ
một nước, các đối tượng trong giao dịch cùng ở một quốc gia. Cho nên sẽ có
những cách thức khác nhau để thanh toán.
Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán vượt ra khỏi phạm vi một
quốc gia, các bên giao dịch ở những nước khác nhau thực hiện mua – bán và
thanh toán cho nhau.
Công tác thanh toán quốc tế buộc phải thanh toán qua ngân hàng giữa
các nước tham gia.
4.4. Thanh toán trước, ngay và thanh toán sau.
Thanh toán trước là thanh toán diễn ra trước khi giao dịch, giao hàng
trong một thời gian nhất định. Thời gian bao nhiêu, số lượng như thế nào tùy
thuộc vào mối quan hệ giữa các bên tham gia.
Thanh toán ngay là hình thức thanh toán diễn ra ngay lúc giao dịch và
các bên thực hiện ngay
Thanh toán sau là thanh toán diễn ra sau khi giao dịch một thời gian
theo các điều kiện trong hợp đồng. Hình thức này hình thanh các khoản phải
thu, phải trả đối với doanh nghiệp.
II. THANH TOÁN TRONG NƯỚC
1. Khái niệm:
7
Là hình thức thanh toán chỉ liên quan đến các đối tượng trong một quốc
gia.
2. Nội dung thanh toán
2.1. Thanh toán nội bộ
Là loại hình thanh toán phát sinh liên quan đến các đối tượng trong đơn
• Thuế GTGT : Là loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa theo quy định của nhà nước.
Ở Việt Nam, thuế GTGT có thể được tính theo 2 cách sau:
- Theo phương pháp khấu trừ:
- Theo phương pháp trực tiếp
• Thuế TTĐB : Là một loại thuế tiều dùng đánh vào một số hàng hóa,
dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục nhà nước quy định.
Thuế TTĐB = Giá tính thuế * Thuế suất
• Thuế TNDN : Được hiểu là thuế đánh vào phần thu nhập của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
• Thuế XNK : Là loại thuế đánh vào hàng hóa XNK theo quy định của
nhà nước. Thuế xuất khẩu có thuế suất = 0%
Còn thuế nhập khẩu = Giá tính thuế * Thuế suất
Ngoài ra còn có các loại thuế khác : Thuế môn bài, Thuế đất, Thuế thu
sử dụng vốn ngân sách….
b) Các loại phí, lệ phí và các chế độ bắt buộc khác
Phí và lệ phí là các khoản nộp cho cơ quan hành chính nhà nước phát
sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chế độ bắt buộc khác là BHXH, BHYT mà các doanh nghiệp nhà
nước sử dụng lao động phải nộp cho lao động mình thuê.
c) Ngoài các loại trên, còn có hình thức thanh toán nữa đó là các khoản
miễn thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, giảm thuế... tạo nên mối quan hệ giữa
doanh nghiệp và cơ quan nhà nước quản lý mình.
2.3. Thanh toán với khách hàng trong nước
Là quan hệ phát sinh khi có mua – bán hàng hóa giữa doanh nghiệp với
nhà cung cấp hoặc người mua là khách hàng trong nước. Trong quá trình
thanh toán thì thường xảy ra ba trường hợp sau đây:
a) Thanh toán trước:
9
Khi phát sinh hình thức này doanh nghiệp sẽ ứng trước cho nhà cung
• Đối với người mua hàng: Đó là hình thức bán chịu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp sẽ cho khách hàng trả tiền sau một thời gian và như vậy
10
doanh nghiệp đã cấp tín dụng cho khách hàng. Cho nên doanh nghiệp phải
nghiên cứu, xem xét đến khả năng thu hồi nợ sau thời gian cho phép.
Khi xem xét đến chính sách bán chịu, doanh nghiệp cũng phân tích
những yếu tố trên như ở thanh toán với người cung cấp để đánh giá khả năng
thanh toán và hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của đối tác trên thương
trường để có quyết định cho mua chịu hay không ?, nếu có thì với tỉ lệ bao
nhiêu là đủ.
Ngoài ra doanh nghiệp phải xem xét, cân đối giữa việc bán chịu với
mua chịu người cung cấp để có quyết định đúng đắn.
3. Phương thức thanh toán
3.1. Khái niệm
Là cách thức nhận trả hay thanh toán tiền giữa các đối tượng tham gia
vào một giao dịch kinh tế – tài chính nào đó.
3.2. Một số phương thức thanh toán thông dụng
a) Thanh toán giao hàng trả tiền ngay.
Đây là hình thức thanh toán ngay, khi một bên giao hàng cho bên kia,
đồng thời bên kia cũng sẽ giao tiền ngay. Như vậy giao dịch trả tiền ngay
thường thanh toán bằng tiền mặt và mang tính chất trực tiếp.
b) Phương thức chuyển tiền.
Là phương thức thanh toán trong đó người mua (người trả tiền) sau khi
nhận được hàng sẽ yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất
định cho người bán (người hưởng thụ) tại một địa điểm và thời gian nhất
định.
Đây là phương thức thanh toán qua ngân hàng và được sử dụng nhiều
nhất do có sự tiện lợi, tuy nhiên người yêu cầu phải trả một số phí nhất định
cho ngân hàng khi chuyên tiền.
c) Phương thưc ghi sổ.
• Séc chuyển khoản : Là loại Séc được sử dụng rộng rãi, nó có giá trị
thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do đó trên tờ Séc phải có đầy đủ những yếu tố
bắt buộc theo luật định và Séc chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định
mà thôi.
• Séc bảo chi : Là loại Séc được ngân hàng đảm bảo khả năng thanh
toán cho từng tờ Séc. Do vậy mà khi phát hành loại Séc bảo chi, ngân hàng
thường buộc khách hàng phải ký quỹ vào tài khoản riêng và không được sử
12
dụng số tiền đó vào mục đích khác. Cho nên loại Séc này được sử dụng khi
người bán không tin tưởng vào khả năng thanh toán của người mua hoặc
khách hàng vi phạm kỷ luật phát hành Séc.
• Séc định mức : Cũng là loại Séc giống như Séc bảo chi nhưng chỉ
khác ở chỗ là Séc định mức đảm bAỏ khả năng thanh toán cho cả một quyển
Séc.
• Séc chuyển tiền : Là một loại chuyển tiền được sử dụng theo yêu cầu
của khách hàng, tức là chỉ định cụ thể người lĩnh tiền hoặc người cầm Séc sẽ
được lĩnh tiền.
• Séc cá nhân : Được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi
đứng tiên cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hóa và các khoản
khác.
4.3. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (UNC)
UNC là tờ mệnh lệnh trả tiền của người chủ tài khoản ra lệnh cho ngân
hàng trích tài khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân thụ hưởng. Như
vậy UNC xuất phát từ đơn vị mua. Đây là công cụ được sử dụng nhiều trong
thanh toán hàng hóa và lao vụ, thông thường sử dụng giữa các tổ chức kinh tế
có tài khoản riêng tại ngân hàng.
4.4. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu (UNT)
Là hình thức thanh toán mà tổ chức kinh tế ủy nhiệm cho ngân hàng
của mình thu hộ tiền hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ đã cung cấp. UNT thường
áp dụng giữa các tổ chức kinh tế có sự tin cập lẫn nhau vì đã giao hàng rồi
- Thanh toán phi mậu dịch: Thanh toán không liên quan đến hàng
hóa hay cung ứng lao vụ, không mang tính chất thương mại.
- Thanh toán mậu dịch: Phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các
dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế.
2. Nội dung
Thanh toán quốc tế trong kinh doanh chỉ xẩy ra những nội dung chính
sau:
2.1. Thanh toán với nhà cung cấp nước ngoài.
14
Loại hình này cũng giống như thanh toán với nhà cung cấp trong nước,
tuy nhiên phạm vi không gian, thời gian thì khác. Thanh toán này diễn ra khi
mua hàng hóa từ nước ngoài. Như vậy xuất hiện hoạt động nhập khẩu.
2.2. Thanh toán với người mua nước ngoài.
Khi này doanh nghiệp sẽ bán hàng hóa cho khách hàng nước ngoài và
nhận tiền. Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa hai bên mà sẽ thỏa thuận hình
thức thanh toán cụ thể.
Hoạt động thanh toán này sẽ tác động đến kim ngạch XNK và cán cân
thanh toán quốc tế của một quốc gia.
Ngoài ra còn có các loại thanh toán phí như: phí vận chuyển, phí BH….
3. Điều kiện thanh toán
Trong thanh toán quốc tế liên quan đến nhiều đối tượng mà lại cách xa
về mặt địa lý, cho nên sẽ phát sinh ra nhiều vấn đề phức tạp. Do đó, để đảm
bảo quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ mua – bán đòi hỏi trong
hợp đồng phải ghi rõ những điều kiện cụ thể về tiền tệ, địa điểm, thời gian và
phương thức thanh toán. Những điều kiện này không mang tính bắt buộc mà
là sự thỏa thuận giữa các bên.
3.1. Điều kiện về tiền tệ
Sở dĩ có điều kiện này là vì mỗi quốc gia đều có đồng bản tệ riêng cho
nước mình, vì vậy khi thanh toán quốc tế, các bên xuất khẩu, nhập khẩu phải
đi đến thống nhất là dùng đồng tiền nước nào làm đồng tiền tính toán, đồng
Nếu có sự thay đổi về tỷ giá hối đoái giữa hai loại tiền tệ thì hợp đồng
sẽ được điều chỉnh lại giá trị.
• Điều kiện đảm bảo theo “rổ tiền tệ”:
Do các đồng tiền thường xuyên biến động nên thay vì sử dụng một loại
tiền tệ để tính người ta có thể sử dụng một nhóm tiền tệ hay gọi là “rổ tiền tệ”
nhưng hiện nay đã bãi bỏ không dùng nữa.
3.2. Điều kiện về địa điểm thanh toán
Trong thanh toán quốc tế, điều kiện nay đòi hỏi hai bên mua bán phải
thống nhất, bởi bên nào cũng thích thanh toán tại nước mình. Thực tế hiện
nay thì địa điểm thanh toán thường là ở những nước có đồng tiền làm tiền tệ
thanh toán hợp đồng.
3.3. Điều kiện về thời gian thanh toán.
16
Điều kiện này mang tính chất bắt buộc đối với các giao dịch quốc tế,
điều kiện này quy định cụ thể thời điểm thỏa thuận mà bên phải trả tiền cần
thực hiện thanh toán.
Việc xác định thời gian thanh toán là mối quan tâm lớn của các bên
trong giao dịch vì thời gian thanh toán luôn luôn gắn với sự biến động của thì
trường tài chính. Nó bao hàm ý nghĩa rủi ro mà các bên tham gia phải chịu.
Với điều kiện này, bên nhận tiền thường muốn thu nhanh, bên phải trả thì
muốn trì hoãn. Tuy nhiên trong một số trường hợp tùy thuộc vào mối quan hệ
kinh doanh giữa các bên và biến động tỷ giá của các đồng tiền sử dụng.
Thông thường có 3 quy định sau:
- Trả tiền trước
- Trả tiền ngay
- Trả tiền sau
Việc thực hiện theo phương thức nào tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các
bên nhưng nên hạn chế trả sau vì sẽ có nhiều rủi ro hơn.
3.4. Điều kiện về phương thức thanh toán.
Thanh toán quốc tế có nhiều phương thức như: chuyển tiền, nhờ thu, tín
(ngân hàng người xuất khẩu) trả cho người thụ hưởng.
(5) Ngân hàng đại lý báo cho người thụ hưởng biết là tiền đã chuyển
đến.
b) Hình thức chuyển tiền
- Chuyển tiền bằng điện tức là ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân
hàng đại lý trả tiền bằng điện.
- Chuyển tiền bằng thư tức là ngân hàng chuyển tiền ra lệnh chuyển
tiền bằng thư
c) Nhận xét
- Ở phương thức này ngân hàng chỉ là trung gian thanh toán hưởng
hoa hồng mà thôi, không bị ràng buộc gì cả.
- Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí người mua do đó hai bên phải
có quan hệ tin cậy rất cao.
- Do điều kiện như vậy nên hình thức này thường áp dụng đối với các
khoản nhỏ: Chi phí chuyển bAỏ hiểm, bồi thường thiệt hại, thanh toán phi
mậu dịch,….
4.2. Phương thức ghi sổ
18
NH người NK NH người XK
Người NK Người XK
Phương thức này cũng giống với phương thức ghi sổ đối với thanh toán
trong nước. Chỉ khác là quan hệ giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu mà
thôi, nên hai bên muốn áp dụng phương thức này phải có quan hệ thường
xuyên và tin cập lẫn nhau cao.
4.3. Phương thức nhờ thu
a) Khái niệm:
Là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân
hang của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu do người bán
lập ra.
phải chịu bất cứ trách nhiệm gì nếu bên mua không chịu thanh toán. Do vậy
chỉ áp dụng khi đã có sự tín nhiệm hoàn toàn, giá trị hợp đồng nhỏ….
• Nhờ thu kèm chứng từ
- Khái niệm : Là phương thức nhờ thu mà trong đó tổ chức xuất khẩu
nhờ ngân hàng thu hộ tiền từ người nhập khẩu nhưng không những căn cứ
vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gửi kèm theo hối
phiếu với điều kiện nếu tổ chức nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc chấp nhận lên
hối phiếu thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho tổ chức nhập khẩu đi nhận
hàng
- Quy trình thanh toán theo sơ đồ sau:
HP+BCT (3)
(6)
(4) (2)
(5) (7) HP+BCT
(1) HH
(1) Tổ chức xuất khẩu sẽ giao hàng hóa cho bên nhập khẩu theo hợp
đồng
20
NH đại lý NH người XK
Người nhập khẩu Người xuất
khẩu
NH đại lý (NK)
(2) Sau khi giao hàng hóa, tổ chức xuất khẩu chuyển hối phiếu và bộ
chứng từ hàng hóa cho ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền
(3) Ngân hàng sẽ chuyển hối phiếu và bộ chứng từ và thư uỷ nhiệm
sang cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài để nhờ thu tiền hộ
(4) Ngân hàng đại lý sẽ chuyển hối phiếu và bản sao bộ chứng từ
cho tổ chức nhập khẩu
(5) Tổ chức nhập khẩu sẽ đối chiếu với hợp đồng đã ký, nến đồng ý
thì thanh toán để nhận bộ chứng từ gốc đi nhận hàng, nếu không thì thông báo
(2) Ngân hàng xuất khẩu thông báo cho người xuất khẩu biết
(3) Người xuất khẩu sau khi nhận được thông báo thì giao hàng hóa
(4) Song song với giao hàng hóa thì người xuất khẩu giao bộ chứng
từ cho ngân hàng để yêu cầu thanh toán
(5) Sau khi đã kiểm tra và thanh toán cho bên xuất khẩu, ngân hàng
thông báo cho bên nhập khẩu biết và chuyển bộ chứng từ cho bên nhập khẩu
Ta thấy rằng phương pháp này đòi hỏi người nhập khẩu phải có văn
phòng đại diện ở nước người xuất khẩu để tiện cho việc thanh toán. trường
hợp khác thì không thể áp dụng được.
4.5. Phương thức ủy thác mua
Là phương thức thanh toán mà trong đó ngân hàng bên nhập khẩu, theo
yêu cầu bên nhập khẩu viết thư cho ngân hàng đại lý mua hộ hối phiếu của tổ
chức xuất khẩu ký phát cho bên NK
Ngân hàng đại lý căn cứ vào những điều kiện quy định trong thư ủy
thác mà quyết định việc thanh toán cho tổ chức xuất khẩu, tức là mua hối
phiếu
Thông thường khi thực hiện theo phương thức này nhà nhập khẩu phải
ký quỹ tại ngân hàng, ngân hàng bên nhập khẩu phải có tài khoản gửi hoặc tài
khoản ký quỹ tại ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu.
4.6. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
a) Khái niệm:
Một trong những phương thức thanh toán quốc tế hiện nay được sử
dụng phổ biến đó là phương thức tín dụng chứng từ. Đó là một sự thỏa thuận
mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu
cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân
hàng khác chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi
những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ
b) Từ khái niệm ta thấy có những bên liên quan sau:
22
- Người xin mở thư tín dụng: Người nhập khẩu
NH thông báo
Người nhập khẩu Người xuất
khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu và
yêu cầu thanh toán
(8) Người nhập khẩu kiểm tra, nếu đúng thì thanh toán còn không thì
từ chối thanh toán
d) Các loại thư tín dụng
• Thư tín dụng được hủy ngang: Là một L/C mà ngân hàng mở L/C
và người nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà
không cần thông báo cho người hưởng lợi biết
• Thư tín dụng không thể hủy ngang: Là một loại L/C mà ngân hàng
mở L/C phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu trong
thời gian hiệu lực của L/C, không có quyền hủy bỏ hoặc sửa đổi mà không có
ý kiến của bên xuất khẩu
• Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận: Là loại thư tín
dụng không thể hủy ngang và được một ngân hàng khác có uy tín hơn đứng ra
đảm bảo khả năng thanh toán.
• Thư tín dụng không thể hủy ngang và không được truy đòi lại tiền:
Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang và khi ngân hàng mở thư tín dụng
đã thanh toán thì không được quyền truy đòi lại trong bất cứ trường hợp nào.
• Thư tín dụng tuần hoàn: Là loại L/C không thể hủy bỏ trong đó
quy định rằng khi thư tín dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hạn hiệu lực
của L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ
Ngoài những loại trên, còn có thư tín dụng giáp lưng, thư tín dụng đối
ứng, thư tín dụng thanh toán chậm, thư tín dụng có điều kiện đỏ, thư tín dụng
dự phòng, thư tín dụng có thể chuyển nhượng được….
5. Phương tiện thanh toán
Để chuyển tiền thanh toán cho nhau trong quan hệ ngoại thương, người
ta thường sử dụng các công cụ lưu thông có giá trị như tiền. Sau đây là 3
- Và có thể có một số nội dung khác
5.2. Séc
a) Khái niệm:
25