Lời nói đầu
****************
Trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế ngày nay, gắn nền
kinh tế Việt Nam vào hệ thống kinh tế thế giới, Việt Nam đang cuộn mình trởng
thành, mở rộng cánh cửa ngoại giao sẵn sàng cạnh tranh với các đối tác trên khu
vực và thế giới nhằm đem lại sự hoàn thiện hơn cho chính bản thân mình. Là một
nớc đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu kém do ảnh hởng của hai cuộc chiến
tranh tàn khốc và chính sách đóng cửa nền kinh tế sau một thời gian dài, nhu cầu
nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình CNH-HĐH là rất lớn.
Tuy nhiên những mặt hàng này thờng có giá trị cao nên không phải Doanh
nghiệp nào cũng có thể tiến hành nhập khẩu do bị hạn chế về vốn và hiểu biết trên
thị trờng nớc ngoài.
Trong bối cảnh ấy, Công ty XNK Máy Hà Nội-vốn là một Công ty đầu
ngành của nớc ta trong lĩnh vực ngoại thơng, đang nỗ lực vơn lên để tự khẳng định
lại mình. Bằng hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị Công ty thực sự muốn đợc
góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc CNH-HĐH của dân tộc. Dù đang gặp
nhiều khó khăn trớc mắt trong hoạt động NK nhng nhất định Công ty sẽ vợt qua và
sẽ tìm lại đợc vị trí xứng đáng trên thơng trờng. Trong thời gian thực tập vừa qua
tại Công ty em đã nhận ra đợc điều đó.
Với lý luận đợc học tại trờng kết hợp với thực tế tình hình tại Công ty em xin mạnh
dạn chọn đề tài: "Giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty XNK
Máy Hà Nội".
Mục đích nghiên cứu:
Nhằm đa ra một số giải pháp và kiến nghị để góp phần hoàn thiện hơn hoạt
động nhập khẩu của Công ty XNK Máy Hà Nội.
Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng, các phơng pháp cụ thể đợc sử
dụng là phơng pháp phân tích, tổng hợp, khái quát dựa trên cơ sở các số liệu và tình hình
thực tế của Công ty nhằm đạt đợc mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung của
luận văn gồm 3 chơng nh sau:
ngoài và việc tiến hành tiêu thụ hàng hóa NK tại thị trờng nội địa hoặc tái XK với
mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu thụ giữa các quốc gia.
Mục tiêu của Đảng và Nhà nớc ta là đến năm 2020 nớc ta về cơ bản sẽ trở
thành một nớc công nghiệp tiên tiến bậc trung so với thế giới. Mục tiêu đó hoàn
toàn có thể trở thành hiện thực khi mà cơ hội cho chúng ta hòa nhập vào tiến trình
khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng rộng mở.
Cùng với sự phát triển của quan hệ ngoại giao với các nớc trong khu vực và
trên thế giới, quan hệ TMQT của Việt Nam ngày càng phát triển. Để đẩy mạnh nền
kinh tế của đất nớc nhiệm vụ chính mà các DN phải làm hiện nay là phát triển thị
trờng trong nớc và mở rộng ra thị trờng nớc ngoài. Từ khi nớc ta chuyển đổi từ cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà Nớc, các DN Việt Nam có thêm nhiều cơ hội và thách thức để có thể tự khẳng
định mình trên thị trờng trong nớc và quốc tế. Cơ chế thị trờng đã đem lại không ít
cơ hội cho các DN nói chung và các DN hoạt động XNK nói riêng nhng cũng gây
ra những khó khăn, cản trở do tính mở cửa của cơ chế thị trờng, các DN phải cạnh
tranh bình đẳng với nhau để tồn tại và phát triển, không những thế còn phải cạnh
tranh gay gắt với các Công ty nớc ngoài. Chính điều này đã tạo cho các DN khả
năng nhạy bén năng động, bám sát nhu cầu thị trờng, tận dụng cơ hội thị trờng...
Việt Nam là một nớc đang trên đà phát triển, xu thế hội nhập kinh tế và tự do
hóa thơng mại đã mở ra cho Việt Nam một thị trờng "béo bở" tuy nhiên không dễ
gì có thể "ăn" đợc nó bởi cạnh tranh là tất yếu mà chiến thắng thì không vĩnh cửu.
Khoảng thời gian 20 năm có thể nói là dài so với sự cống hiến của một đời
ngời nhng lại là hết sức ngắn ngủi so với sự phát triển của nhân loại. Vì vậy tăng c-
ờng NK máy móc thiết bị để học hỏi khoa học kỹ thuật từ những quốc gia đi trớc
nhằm tiến hành CNH-HĐH là bớc đi đúng hớng và khẩn thiết của nớc ta hiện nay.
Nh đã nói ở trên, trong điều kiện là một nớc đang phát triển nh nớc ta hiện nay để
theo đuổi và thực hiện tốt công cuộc CNH-HĐH thì NK hàng hóa là một điều kiện
không thể thiếu. Con đờng nhanh nhất để đa nền kinh tế nớc ta tăng trởng là nhanh
chóng đa vào ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại của thế giới thông
qua việc NK hàng hóa của các nớc khác. Đó là những thứ mà các nớc phát triển đã
quyền trong sản xuất và kinh doanh trong nớc, phát huy nhân tố mới trong sản xuất
nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế có cơ hội tham gia cạnh tranh trên thị
trờng quốc tế.
Thứ ba, NK tạo ra năng lực mới trong sản xuất, giải quyết công ăn việc làm
cho ngời lao động, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống xã hội, hạn chế các
tệ nạn xã hội, tạo thu nhập ổn định phát triển kinh tế xã hội.
Thứ t, NK có tác động mạnh vào đổi mới trang thiết bị công nghệ sản xuất
ở nớc ta, tăng cờng chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
CNH-HĐH đất nớc. Góp phần nâng cao trình độ của lực lợng sản xuất, năng suất
lao động và chất lợng sản phẩm-đó là kết quả của việc NK trang thiết vị máy móc tiên
tiến trên thế giới nhằm hiện đại hóa quá trình sản xuất ở Việt Nam.
Thứ năm, NK có vai trò tích cực để thúc đẩy XK. Sự tác động này thể hiện
ở chỗ NK tạo điều kiện đầu vào cho sản xuất hàng hóa XK, tạo môi trờng thuận lợi
cho việc XK hàng hóa Việt Nam ra nớc ngoài, đặc biệt là nớc XK
Thứ sáu, NK tạo sự cạnh tranh lành mạnh với sản xuất trong nớc, khuyến
khích các nhà sản xuất trong nớc cải tiến kỹ thuật, hạ giá thành, nâng cao chất lợng
sản phẩm, cạnh tranh với các mặt hàng ngoại, từ đó đa nền sản xuất nội địa đi lên.
Cuối cùng, cùng với XK tạo ra sự liên kết kinh tế chặt chẽ giữa sản xuất và
tiêu dùng trong nớc với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho phân công lao động
quốc tế phát triển. Điều đó có ý nghĩa lớn trong bối cảnh quốc tế hóa diễn ra mạnh
mẽ ngày nay. Nó mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc có phát huy đợc hết vai trò của NK hay không còn phụ thuộc
vào đờng lối phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, kể từ sau Đại
hội lần thứ 6, nền kinh tế đã có thêm nhiều sức mạnh mới, cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp với nhiều nhợc điểm từng bớc đợc thay thế bằng tính năng động, tự
chủ của cơ chế thị trờng. Ngoại thơng Việt Nam không còn bó hẹp trong phạm vi
khối xã hội chủ nghĩa qua các khoản viện trợ hay các nghị định th mà đợc mở rộng
trên phạm vi toàn cầu. Chính sách phát triển kinh tế, thơng mại của Việt Nam từng
bớc đợc điều chỉnh cho phù hợp với xu hớng chung của thời đại-hội nhập mạnh mẽ
vào kinh tế thế giới. Kinh tế thị trờng đã thổi một luồng sinh khí mới cho các DN
XNK trực tiếp thì họ phải làm nh thế nào? Từ nhu cầu đó đã hình thành lên phơng
thức NK uỷ thác, đó là DN này ủy thác cho DN có chức năng giao dịch ngoại th-
ơng trực tiếp, tiến hành NK theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy thác sẽ tiến hành
đàm phán với bên đối tác nớc ngoài làm thủ tục NK hàng hóa theo yêu cầu của bên
ủy thác và nhận đợc phí ủy thác.
Các DN đợc ủy thác NK chỉ tính kim ngạch NK chứ không đợc tính doanh
số, doanh thu. Bên cạnh đó, các DN NK phải lập hai hợp đồng: một hợp đồng mua
bán hàng hóa trong nớc (giữa bên ủy thác NK với bên XK), và một hợp đồng ủy
thác (giữa bên ủy thác với bên nhận ủy thác).
Nhập khẩu tự doanh
Đây là hoạt động NK độc lập của DN NK trực tiếp. Phơng thức tự doanh này đòi
hỏi nhà NK phải nghiên cứu kĩ thị trờng trong nớc, phải hiểu biết sâu sắc tình hình
luật pháp, chính sách trong nớc cũng nh các thông lệ và luật pháp quốc tế.
Hình thức NK tự doanh là do DN tự đứng ra NK nên DN phải tự gánh chịu
mọi rủi ro, tổn thất cũng nh hởng mọi lợi nhuận thu đợc. Vì vậy DN cần phải xem
xét kĩ từng bớc, từ nghiên cứu thị trờng đầu vào, đầu ra cho đến việc kí kết và thực
hiện hợp đồng, cũng nh việc bán hàng và thu tiền về...để giảm thiểu tổn thất.
Trong hợp đồng NK tự doanh, DN phải tự bỏ vốn để thanh toán và phải cân
nhắc các khoản thu chi để đảm bảo kinh doanh có lãi.
Nhập khẩu liên doanh
NK liên doanh là hoạt động NK hàng hóa trên cơ sở liên kết một cách tự
nguyện giữa các DN (trong đó ít nhất một DN XNK trực tiếp) nhằm phối hợp cùng
nhau để tiến hành giao dịch các chủ trơng, biện pháp có liên quan đến hoạt động
NK, thúc đẩy hoạt động này theo hớng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng nhau chịu
sự rủi ro và cùng hởng lợi nhuận.
Nhập khẩu hàng đổi hàng (buôn bán đối lu)
Buôn bán đối lu là một phơng thức giao dịch trong đó NK kết hợp chặt chẽ
với XK, nghĩa là ngời bán đồng thời cũng là ngời mua, lợng hàng trao đổi giữa hai
bên có giá trị tơng đơng.
Buôn bán đối lu có 2 nghiệp vụ cơ bản là nghiệp vụ hàng đổi hàng và nghiệp
vụ này có mỗi quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, do đó phải đợc nghiên cứu, thực hiện
đầy đủ, kỹ lỡng bởi đội ngũ cán bộ ngoại thơng có trình độ chuyên môn, có năng
lực để tránh những sai sót, gây tổn thất cho các bên. Vấn đề phải đợc nắm bắt đợc
lợi thế nhằm đảm bảo cho hoạt động NK đạt hiệu quả cao.
1. Nghiên cứu thị trờng
Thị trờng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của các DN, bởi
thị trờng là tổng thể các mối quan hệ lu thông hàng hóa và tiền tệ. Qua thị trờng,
DN có thể dự tính đợc lợng cầu hay lợng cung cũng nh biết đợc thị hiếu của khách
hàng và những thay đổi ở hiện tại hay trong tơng lai, từ đó có kế hoạch sản xuất và
kinh doanh thích hợp.
Đối với DN XNK việc nghiên cứu thị trờng bao gồm: Nghiên cứu thị trờng
NK và việc nghiên cứu thị trờng trong nớc. Trong nền kinh tế hàng hóa thị trờng
giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi DN. Mục đích của
ngời sản xuất hàng hóa là để bán, để thỏa mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, do vậy
thị trờng là yếu tố sống còn đối với sản xuất kinh doanh hàng hóa. Vì lẽ đó còn thị
trờng thì còn sản xuất kinh doanh, mất thị trờng thì sản xuất kinh doanh bị đình
trệ.
Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu
Khi nghiên cứu thị trờng mua cần nắm rõ các yếu tố về tình hình chính trị,
phát triển của những nớc hay khu vực mà họ cần nhập, điều kiện chính trị, luật
pháp thơng mại cũng nh chính sách buôn bán, tình hình tài chính tiền tệ, điều kiện
vận tải và giá cớc.
Vì đây là thị trờng nớc ngoài nên việc nghiên cứu thị trờng sẽ gặp một số khó
khăn và không đợc kỹ lỡng nh thị trờng trong nớc. Việc nghiên cứu thị trờng mua
có thể đợc thực hiện qua việc nghiên cứu các tài liệu, sách báo, tạp chí...về thị tr-
ờng đó hoặc trực tiếp thông qua tham quan hay giao dịch.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những nhân tố ảnh hởng trên, DN sẽ có thể
lựa chọn đợc mặt hàng NK phù hợp nhất với kiểu dáng, chủng loại, mẫu mã...mà
ngời tiêu dùng trong nớc chấp nhận và yêu thích. Việc nghiên cứu này giúp DN
tìm kiếm đợc thị trờng NK, lựa chọn đợc bạn hàng và nắm bắt đợc mức giá NK có
cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, các thị hiếu, các tập quán từng vùng, từng lĩnh vực
sản xuất, từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng hóa đó trên thế giới.Việc
nghiên cứu này phát hiện ra nhiều sự biến đổi trong tiêu dùng khi có tác động của
nhân tố khác, đặc biệt là giá cả.
Dung lợng thị trờng:
Đối với DN kinh doanh việc tìm hiểu dung lợng thị trờng hàng hóa là rất quan
trọng. Có thể hiểu dung lợng thị trờng của một loại hàng hóa là khối lợng hàng hóa
đợc giao dịch trên một phạm vi thị trờng nhất định trong một thời gian nhất định.
Dung lợng thị trờng kinh doanh thay đổi theo diễn biến của tình hình tác động tổng
hợp của nhiều yếu tố khác nhau trong từng giai đoạn nhất định.
Các nhân tố làm dung lợng thị trờng biến đổi có tính chất chu kỳ nh sự vận
động của tình hình kinh tế t bản chủ nghĩa, tính chất thời vụ trong sản xuất, lu
thông và phân phối hàng hóa.
Các nhân tố này ảnh hởng đến sự biến đổi dung lợng thị trờng. Các nhân tố
này có rất nhiều tuy nhiên các nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến dung lợng thị trờng
trong thời gian tơng đối dài là:
+ Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
+ Các biện pháp chính sách của Nhà nớc.
+ Thị hiếu và tập quán của ngời tiêu dùng.
+ Các nhân tố ảnh hởng tạm thời đối với dung lợng thị trờng đó là các nhân tố
nh đầu cơ trên thị trờng gây ra những biến đổi về cung cầu, xung đột chính trị-xã
hội hoặc các yếu tố tự nhiên. Tuy nhiên, khi nghiên cứu tình hình thị trờng của các
hàng hóa khác nhau phải căn cứ vào đặc điểm của chúng để đánh giá ảnh hởng của
từng nhân tố.
Khi xác định giá NK của mặt hàng ta định nhập từ thị trờng có quan hệ giao dịch
có thể tham khảo giá XK từ thị trờng mới đi các nơi khác. Song cũng cần chú ý tới
giá cớc vận chuyển khi tham khảo giá này.
Lựa chọn mặt hàng:
DN phải lựa chọn mặt hàng kinh doanh có lợi nhất. Muốn vậy không những
phải căn cứ vào nhu cầu thị trờng mà còn phải dựa trên một số vấn đề sau:
toán...Những nội dung này đợc thoả thuận một cách tự nguyện, không có sự
ràng buộc nào trớc đó.
Ngày nay giao dịch theo hình thức này tơng đối phát triển vì hai bên có thể
trực tiếp gặp gỡ đàm phán, cắt giảm đợc chi phí trung gian và có điều kiện để thâm
nhập thị trờng, chủ động trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hóa XNK nhất là trong
điều kiện thị trờng có nhiều biến động.
Giao dịch qua trung gian
Giao dịch qua trung gian trong kinh doanh TMQT là giao dịch mà ngời mua
(hoặc ngời bán) quyết định điều kiện trong giao dịch mua bán về hàng hóa, giá cả,
điều kiện giao dịch, phơng thức thanh toán...Họ là những ngời đợc ngời mua hoặc
ngời bán ủy thác tiến hành mua bán hộ mình hàng hóa hoặc dịch vụ, khi thực hiện
nhiệm vụ không đứng tên mình.
Thông thờng những ngời trung gian hiểu biết rất rõ về thị trờng, pháp luật, tập
quán buôn bán ở địa phơng, tận dụng cơ sở vật chất sẵn có. Tuy nhiên, đối với nhà
NK hình thức này thờng làm giảm sự tiếp xúc với thị trờng và lợi nhuận bị chia sẻ,
ngoài ra kinh doanh buôn bán tùy thuộc vào năng lực phẩm chất của ngời trung
gian.
Giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa
Sở giao dịch là một thị trờng đặc biệt tại đó thông qua những ngời môi giới do
sở giao dịch chỉ định, ngời ta mua bán các loại hàng hóa có khối lợng lớn, có tính
chất đồng loạt và phẩm chất có thể thay thế đợc cho nhau.
Giá công bố tại sở giao dịch có thể làm tài liệu tham khảo trong việc xác định
giá quốc tế.
Giao dịch tại hội chợ triển lãm
Hội chợ là thị trờng hoạt động định kỳ tổ chức vào một thời gian và địa điểm
cố định trong một thời hạn nhất định.Tại đó ngời bán trng bày hàng hóa của mình
và tiếp xúc với ngời mua để kí kết hợp đồng mua bán.
Triển lãm là việc trng bày giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tế
hoặc một ngành nào đó.
Ngày nay, triển lãm không chỉ là nơi trng bày mà còn là nơi thơng nhân hoặc
Trong nắm bắt giá cả, vừa phải tránh giá quá cao vì trả giá quá cao sẽ gây tổn
thất kinh tế, lãng phí ngoại tệ của Nhà nớc, trả giá quá thấp thì lại không hoàn
thành đợc nhiệm vụ thu mua, không tìm đợc chủ bán thích hợp.
Vận dụng phơng thức buôn bán
NK thông qua phơng thức buôn bán nào cần phải căn cứ vào số lợng hoặc
chủng loại hàng thu mua, tập quán buôn bán...để xem xét. Chẳng hạn có loại có
thể NK theo phơng thức mậu dịch bù trừ hay hàng đổi hàng, nhiều loại có thể áp
dụng theo phơng thức NK đơn phơng nói chung. Trong phơng án kinh doanh về
vấn đề vận dụng phơng thức buôn bán, thờng nêu ra những ý kiến có tính nguyên
tắc, có lợi cho bố trí NK.
Nắm vững điều kiện giao dịch
Cần xem xét xác định và nắm bắt linh hoạt các điều kiện giao dịch trên cơ sở
căn cứ vào chủng loại hàng, đặc điểm, khu vực NK của hàng hóa, đối tợng ký kết
và ý đồ kinh doanh trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
4. Đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh
Sau khi lập phơng án kinh doanh hàng NK, nhà NK chuyển sang giai đoạn
đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh NK.
Đàm phán "hợp đồng kinh doanh" là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều nhà
kinh doanh (đại diện cho một DN, tổ chức kinh doanh...) nhằm thỏa thuận với
nhau về các điều kiện giao dịch mà mỗi bên có thể chấp nhận đợc. Kết thúc các
cuộc đàm phán thờng đa đến kết quả là các hợp đồng kinh doanh. Trong quá trình
đàm phán hai bên sẽ đa ra những yêu cầu, ý muốn của mình để cùng nhau xem xét
thảo luận, cùng nhau đi đến sự đồng ý thống nhất làm căn cứ để soạn thảo một hợp
đồng mua bán có thiện chí.
Trong hợp đồng kinh doanh có 3 phơng thức đàm phán chủ yếu sau:
Đàm phán qua th tín
Đàm phán qua điện thoại
Đàm phán trực tiếp.
Nội dung của đàm phán giao dịch có liên quan đến các điều khoản của hợp
đồng mua bán kí kết, trong đó bao gồm tên hàng, chất lợng, số lợng, giá cả, bốc
quốc tế, quá trình thực hiện hợp đồng còn phải đảm bảo quyền lợi quốc gia, quyền
lợi của DN cũng nh thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ trong phạm vi trách nhiệm của
mình.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải cố gắng giảm thiểu mọi chi
phí phát sinh, nâng cao hiệu quả của công tác nghiệp vụ. Mỗi bên phải sắp xếp
những việc phải làm, ghi thành bảng theo dõi tiến độ thực hiện. Nếu có điều gì
phát sinh thì hai bên phải nhanh chóng thông báo cho nhau và tiến hành bàn bạc để
tìm cách giải quyết cho kịp thời và hợp lý.
Để thực hiện một hợp đồng NK, DN NK phải thực hiện những bớc sau:
Xin giấy phép nhập khẩu
Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các khâu tiếp
theo trong quá trình NK. Theo nghị định 57/1998/NĐ/CP ngày 31/07/1998 các DN
thuộc mọi thành phần kinh tế đợc thành lập theo quy định của pháp luật đều đợc
phép XNK hàng hóa theo giấy chứng nhận đăng kinh doanh sau khi đã đăng kí mã
số DN kinh doanh XNK tại các cơ quan tỉnh, thành phố.
Các chi nhánh Tổng Công ty, Công ty đợc XNK hàng hóa theo ủy quyền của
Tổng giám đốc Công ty, giám đốc Công ty phù hợp với nội dung chứng nhận đăng
kí kinh doanh của Tổng Công ty, Công ty.
Thơng nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã đăng kí mã số DN
kinh doanh XNK đợc ủy thác XK, NK hàng hóa phù hợp với nội dung của giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh.
Hiện nay việc cấp giấy phép NK đợc quy định nh sau:
+ Bộ thơng mại cấp giấy phép đối với NK từng chuyến hàng mậu dịch.
+ Tổng cục Hải Quan cấp giấy phép đối với hàng hóa phi mậu dịch.
Đối với hàng hóa thông thờng thì DN không cần phải xin giấy phép NK mà
chỉ phải làm một tờ khai Hải Quan gửi cho Bộ thơng mại lu để theo dõi.
Hồ sơ xin cấp phép NK gồm:
+ Đơn xin kèm phiếu hạn ngạch.
+ Bản sao Hợp đồng NK hoặc L/C.
+ Các giấy tờ liên quan.
là chuyển quyền thêu tàu cho bên XK. Tuy nhiên nếu bên NK theo điều kiện FOB
tức quyền thuê tàu thuộc về DN Việt Nam thì DN Việt Nam có thể ủy thác việc
thuê tàu cho một công ty hàng hải nh: Công ty thuê tàu và môi giới hàng hải
(Vietfracht), Công ty đại lý tàu biển (VOSA)...Tùy vào khối lợng và đặc điểm hàng
hóa mà chọn hình thức thuê tàu cho phù hợp, có thể là tàu chợ hoặc tàu chuyến.
Mua bảo hiểm
Chuyên chở hàng hóa bằng đờng biển thờng gặp nhiều rủi ro và tổn thất nhng
ngợc lại vận chuyển hàng hóa bằng đờng biển lại là phơng thức khá phổ biến,
khoảng 80% khối lợng hàng hóa vận chuyển là bằng đờng biển.
Nếu trong hợp đồng ngoại điều khoản về bảo hiểm hàng hóa không đợc chỉ rõ
là bảo hiểm theo điều kiện nào và rủi ro cần đợc bảo hiểm kèm theo thì bên XK
mặc nhiên ký hợp đồng bảo hiểm theo điều kiện A với giá trị tối thiểu là V=110%
*CIF.
Vì vậy trong điều khoản này DN nên chỉ rõ bảo hiểm theo điều kiện gì,
những rủi ro nào cần đợc bảo hiểm kèm theo.
Nhng tùy từng điều kiện giao hàng FOB, CIF mà ngời NK có thể mua hoặc
không phải mua bảo hiểm vận chuyển hàng hóa. Theo quy định của Nhà nớc Việt
Nam các chủ hàng XNK trong nớc phải mua bảo hiểm tại các Công ty bảo hiểm
Việt Nam (Ví dụ: Công ty Bảo Việt, Bảo Minh...) khi cần mua bảo hiểm. Tùy từng
loại hàng và khả năng kinh doanh của DN mà có thể chọn 1 trong 2 loại hợp đồng
bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao. Để kí kết hợp
đồng bảo hiểm cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm, có 3 điều kiện bảo hiểm
chính: bảo hiểm rủi ro (điều kiện bảo hiểm A), bảo hiểm có tổn thất riêng (điều
kiện B), và bảo hiểm miễn tổn thất chung (điều kiện C). Ngoài ra, còn có một số
bảo hiểm đặc biệt nh bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công...
Làm thủ tục hải quan
Hàng hóa đi ngang qua biên giới quốc gia để XK hoặc NK đều phải làm thủ
tục Hải Quan. Việc làm thủ tục Hải Quan bao gồm 3 bớc: Khai báo hải quan, xuất
trình hàng hóa và thực hiện các quyết định của Hải quan.
Khai báo Hải Quan: Chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hóa lên tờ khai
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh nhập
khẩu hàng hóa của doanh nghiệp
Mỗi một nhân tố hoạt động trong xã hội đều chịu sự chi phối nhất định bởi
các nhân tố bao quanh nó, đó là tổng hợp các yếu tố có tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp qua lại lẫn nhau. Chính những nhân tố này quyết định xu hớng và trạng
thái hoạt động của các chủ thể. Kinh doanh XNK của DN không chỉ là một tế bào
của nền kinh tế xã hội, do vậy muốn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình trong nền
kinh tế thị trờng thì DN không thể không quan tâm đến các nhân tố của môi trờng kinh
doanh, rồi các nhân tố thuộc về bản thân DN. Các nhân tố này thờng xuyên biến đổi và
vì thế làm cho hoạt động NK càng trở nên phức tạp hơn.
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh NK đòi hỏi các nhà kinh doanh phải nắm
bắt và phân tích đợc ảnh hởng của từng nhân tố tới hoạt động của DN trong từng
thời kỳ nhất định.
1. Các nhân tố thuộc về Doanh nghiệp
Các nhân tố thuộc về DN đó chính là hoàn cảnh nội tại của DN bao gồm tất
cả các yếu tố và hệ thống bên trong của DN hay còn gọi là môi trờng nội bộ, môi
trờng có thể kiểm soát đợc. Các DN phải cố gắng phân tích các yếu tố nội bộ đó
một cách cặn kẽ nhằm xác định u nhợc điểm của mình đặc biệt các DN sản xuất
kinh doanh cần phải xác định rõ các yếu tố này ảnh hởng đến tình hình tiêu thụ nh
thế nào. Trên cơ sở đó đa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhợc điểm, phát huy u
điểm để đạt đợc lợi thế tối đa trong kinh doanh.
1.1. Bộ máy tổ chức quản lý
Đây là sự tác động trực tiếp của Ban lãnh đạo xuống các cán bộ công nhân
viên nhằm mục đích thực hiện mọi hoạt động kinh doanh hàng hóa NK của DN
một cách nhịp nhàng hợp lý. Vấn đề quản lý con ngời rất quan trọng bởi nó ảnh h-
ởng không nhỏ tới quá trình kinh doanh. Bên cạnh đó bộ máy tổ chức quản lý còn
thể hiện uy tín, thể diện, năng lực, mức độ quan tâm và trình độ của ban lãnh
đạo...Nó tạo ra nề nếp tổ chức định hớng cho hầu hết công việc ở DN. Chính vì lẽ
đó phải có bộ máy quản lý tơng đối hoàn chỉnh và phù hợp thì mới có thể phân
công lao động một cách hợp lý và phù hợp nhất với năng lực của công nhân viên.
Ngoài những yếu tố thuộc về bản thân DN nh đã nêu và phân tích ở trên thì
hiệu quả hoạt động NK còn chịu tác động của các yếu tố bên ngoài. Đây là những
nhân tố mang tính chất xã hội rộng lớn, chúng có tác động rất mạnh mẽ đến hoạt
động kinh doanh của DN.
2.1. Các chế độ chính sách luật pháp của Quốc gia và quốc tế