NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ
GIỮA DOANH THU BIÊN VÀ CHI PHÍ BIÊN
TRONG XÁC ĐỊNH MỨC SẢN LƯỢNG CỦA DOANH NGHIỆP
ThS. NGUYỄN THỊ TƯỜNG VI
Bộ môn Kinh tế - Vận tải
Khoa Vận tải Kinh tế
Trường Đại học Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Để giúp các doanh nghiệp có quyết định mức sản lượng của mình một cách chính
xác, vừa đảm bảo thu được lợi nhuận lớn nhất vừa đáp ứng được nhu cầu thị trường; bài viết này
đề cập đến mối quan hệ giữa doanh thu biên và chi phí biên để các doanh nghiệp dựa vào đó ra
các quyết định của mình.
Summary: In order to help enterprises determine their productivity accurately, ensure the
greatest profit as well as meet the needs of the market; This article refers to the relationship
between marginal revenue and marginal cost which is useful for enterprises to take their decisions. I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu của thị trường
và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và hiệu quả
kinh tế xã - hội cao nhất. Một doanh nghiệp
tiến hành kinh doanh có hiệu quả là doanh
nghiệp thỏa mãn được tối đa nhu cầu của thị
trường và xã hội về hàng hóa, dịch vụ trong
giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và
thu được lợi nhuận nhiều nhất đem lại hiệu
Doanh thu biên (MR) là mức thay đổi
của tổng doanh thu khi tiêu thụ thêm 1 đơn vị
sản phẩm hay chính là số tiền doanh nghiệp
thu được thêm khi tiêu thụ thêm 1 đơn vị sản
phẩm và được tính theo công thức sau:
MR = TR - TR
nn
n-1
Trong đó: MR
n
- Doanh thu biên của sản
phẩm thứ n; TR
n
- Tổng doanh thu khi tiêu thụ
n sản phẩm; TR
n-1
- Tổng doanh thu khi tiêu
thụ n - 1 sản phẩm.
Về mặt toán học doanh thu biên được
tính như sau:
dTR
MR =
dQ
Vì đường cầu dốc xuống dưới về phía
phải nên muốn tiêu thụ thêm 1 sản phẩm thì
doanh nghiệp phải hạ giá bán, điều đó làm
doanh thu biên của sản phẩm bán sau luôn
> MC) cho đến khi nào doanh thu biên bằng
chi phí biên (MR = MC) thì dừng lại. Đây là
mức sản lượng tối ưu của doanh nghiệp và ở
mức sản lượng này thì doanh nghiệp đạt được
lợi nhuận tối đa.
Có thể giải thích quy tắc tối đa hoá lợi
nhuận như sau: Thoạt đầu khi doanh thu biên
lớn hơn chi phí biên thì cứ sản xuất và bán ra
thêm một đơn vị sản phẩm thì doanh nghiệp
sẽ thu được lợi nhuận từ sản phẩm đó và làm
tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng, vì
thế doanh nghiệp nên sản xuất và bán những
sản phẩm có doanh thu biên lớn hơn chi phí
biên. Do doanh thu biên giảm liên tục còn chi
phí biên đến một lúc nào đó lại tăng lên và lớn
hơn chi phí biên thì doanh nghiệp bị lỗ khi sản
xuất và bán ra những sản phẩm như vậy, vì
thế doanh nghiệp sẽ không tăng sản lượng đến
mức sản lượng có doanh thu biên nhỏ hơn chi
phí biên. Khi doanh thu biên bằng chi phí biên
thì doanh nghiệp không thu được gì và cũng
không mất gì từ việc sản xuất và bán thêm 1
sản phẩm; và tổng lợi nhuận thu được từ các
sản phẩm sản xuất và bán trước đó đã đạt lớn
nhất đúng như quy tắc tối đa hoá lợi nhuận
nêu trên.
Ngoài việc xác định mức sản lượng để tối
đa hoá lợi nhuận các doanh nghiệp còn phải
quyết định mức sản lượng sản xuất trong ngắn
hạn và trong dài hạn. Trong ngắn hạn có chi
biên và chi phí biên (MR
1
= MC). Do chi phí
bình quân ATC nhỏ hơn giá bán nên doanh
nghiệp thu được lợi nhuận. Như vậy doanh
nghiệp tối đa hoá lợi nhuận tại điểm A.
Khi giá thị trường giảm xuống P
2
, MC và
MR
2
gặp nhau tại điểm B. Điểm B là điểm tối
thiểu của chi phí bình quân ATC. Nếu doanh
nghiệp sản xuất Q
2
sản phẩm thì doanh nghiệp
sẽ hoà vốn, không còn có lãi nhưng chưa bị
lỗ. Việc xác định được sản lượng hoà vốn là
rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi vì
phải vượt được quá mức sản lượng này doanh
nghiệp mới thu hồi được đủ vốn bỏ ra và bắt
đầu có lợi nhuận. Sản lượng Q
2
gọi là sản
lượng hoà vốn được xác định bằng công thức:
FC
Q=
P-AVC
hv
tiếp tục sản xuất với mức sản lượng Q
3
thì
doanh nghiệp chỉ bị lỗ một phần chi phí cố
định bởi vì giá bán cao hơn chi phí biến đổi
bình quân cho nên với mỗi đơn vị sản phẩm
doanh nghiệp sản xuất và bán ra còn dư ra
một khoản = (P
3
- AVC
3
) để bù đắp chi phí cố
định. Đứng ở góc độ kinh tế và góc độ xã hội
doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất để vừa
đảm bảo được công ăn việc làm vừa có hàng
hoá đáp ứng được nhu cầu xã hội vừa giảm
được số bị lỗ vốn.
P
P
1
P
2
P
3
P
4
Q
4
AVC
ATC
định lúc này của doanh nghiệp là ngừng sản
xuất vì nếu ngừng sản xuất doanh nghiệp chi
bị lỗ chi phí cố định chứ không bị lỗ thêm cả
chi phí biến đổi.
Từ phân tích rút ra kết luận quyết định
sản xuất trong ngắn hạn doanh nghiệp là mức
sản lượng mà ở đó doanh thu biên bằng chi
phí biên với điều kiện tối thiểu giá bán phải
bằng chi phí biến đổi bình quân.
Trong dài hạn doanh nghiệp cũng phải
D
4
= MR
4
Q
3
Q
2
Q
1
Q
1
quyết định có tiếp tục ở lại thị trường để sản
xuất hay phải rời bỏ thị trường và mức sản
lượng sản xuất là bao nhiêu nếu còn ở lại thị
trường. Để giải quyết được vấn đề này cũng
sử dụng phương pháp phân tích như trong
ngắn hạn nhưng loại trừ chi phí cố định có
nghĩa là mọi chi phí đều biến đổi. Giả sử
GIK. Doanh nghiệp không sản xuất ở mức sản
lượng Q
0
tương ứng với điểm H, mặc dù tại
điểm H chi phí bình quân dài hạn là thấp nhất
và thấp hơn chi phí bình quân dài hạn ở mức
sản lượng Q
1
; lý do trong sản xuất các doanh
nghiệp quan tâm đến tổng lợi nhuận hơn là lợi
nhuận của một đơn vị sản phẩm.
Tại điểm H chi phí bình quân dài hạn là
nhỏ nhất làm cho lợi nhuận của một đơn vị
sản phẩm lớn nhất nhưng vẫn còn phần lợi
nhuận được biểu hiện bằng diện tích tam giác
GHI mà doanh nghiệp chưa thu được so với
mức sản xuất ở mức sản lượng Q
1
.
Khi giá thị trường giảm xuống P
2
lại thị trường để sản xuất hàng hoá cho thị
trường khi P > LATC và rời bỏ thị trường khi
P < LATC. Hay nói cách khác doanh nghiệp
quyết định mức sản lượng trong dài hạn là
mức sản lượng MR = LMC với điều kiện P >
LATC.
P
1
D
1
= MR
1
LMC
Q
2
K
P
2
P
D
2
= MR
2
LATC
Q
0
Q
1
Q
J